CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1.1 Tổng quan về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất.1 Tổng quan về chi phí sản xuất.1 Khái niệm chi phí sản xuất a) Khái niệm chi phí “Chi phí là tổng các khoản làm giảm lợi nhuận kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm các khoản phân phối cổ đông hoặc chủ sở hữu” (Phan Đình Ngân – Hồ Phan Minh Đức, 2009, Kế toán tài chính 1, NXB Đại học Huế). b) Khái niệm về chi phí sản xuất Doanh nghiệp sản xuất là những doanh nghiệp sản xuất ra của cải vật chất để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Doanh nghiệp phải biết được số chi phí mà họ đã chi trong kì là bao nhiêu nhằm tổng hợp, tính toán các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp cho nhu cầu quản lý. Một doanh nghiệp sản xuất, ngoài hoạt động có liên quan đến quá trình sản xuất sản phẩm, lao vụ, dịch vụ còn có những hoạt động khác không có tính chất sản xuất như hoạt động bán hàng, hoạt động quản lý, các hoạt động mang tính chất sự nghiệp,….
Chỉ những chi phí để tiến hành sản xuất ra sản phẩm, lao vụ, dịch vụ mới được coi là chi phí sản xuất. Như vậy, chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản chi phí đã đầu tư cho việc sản xuất sản phẩm của daonh nghiệp trong một thời kì nhất định (tháng, quý, năm), (Võ Văn Nhị, Kế toán tài chính, 2002).2 Phân loại chi phí sản xuất Chi phí sản xuất của các doanh nghiệp bao gồm nhiều loại có nội dung kinh tế khác nhau, mục đích và công dụng trong quá trình sản xuất cũng khác nhau. Để phục vụ cho công tác quản lý chi phí sản xuất và kế toán tập hợp chi phí sản xuất, có thể tiến hành phân loại chi phí sản xuất theo các tiêu thức khác nhau như sau: a) Phân loại theo nội dung kinh tế ban đầu Theo tiêu thức này, kế toán sẽ căn cứ vào nội dung kinh tế sắp xếp các loại chi phí đầu vào giống nhau vào cùng một nhóm chi phí. Theo cách phân loại này, chi phí được chia ra thành 6 khoản mục như sau: - Chi phí nguyên vật liệu: bao gồm giá mua, chi phí mua của NVL dùng vào HĐ SXKD, bao gồm các thành phần như CP NVL chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, các NVL khác tham gia vào quá trình sản xuất sản phẩm hay thực hiện lao vụ dịch vụ.
- Chi phí nhân công: gồm các khoản tiền lương chính, lương phụ, phụ cấp theo lương phải trả cho người lao động và các khoản trích theo lương như BHXH, BHYT, KPCĐ. - Chi phí công cụ dụng cụ: gồm giá mua và chi phí mua CCDC dùng vào HĐ SXKD. - Chi phí khấu hao tài sản cố định: gồm CP khấu hao của TSCĐ dùng trong HĐ SXKD. - Chi phí dịch vụ thuê ngoài: gồm giá dịch vụ mua từ bên ngoài như giá dịch vụ điện, nước, phí bảo hiểm tài sản, giá thuê nhà cửa, máy móc.
- Chi phí bằng tiền khác là toàn bộ các khoản chi phí khác mà DN trả bằng tiền mặt dùng cho HĐ SXKD cho doanh nghiệp như chi phí tiếp khách, hội họp… (Nguồn: TS.Huỳnh Lợi, Nguyễn Khắc Tâm, 2002, Kế toán chi phi, Nhà Xuất bản thống kê) b) Phân loại chi phí theo công dụng kinh tế Đây là cách phân loại theo chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất. Theo cách phân loại này, chi phí được phân loại thành các khoản như sau: 7 - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: gồm toàn bộ chi phí NVL sử dụng trực tiếp trong từng hoạt động sản xuất sản phẩm như chi phí NVL chính, chi phí NVL phụ… - Chi phí nhân công trực tiếp: gồm tiền lương và các khoản phải trả trực tiếp cho công nhân sản xuất, các khoản trích theo lương của công nhân trực tiếp sản xuất như KPCĐ, BHYT, BHXH, BHTN. - Chi phí sản xuất chung: gồm tất cả các khoản mục chi phí không thuộc hai khoản mục chi phí trên (CPNVLTT và CPNCTT). Bao gồm tiền lương và các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý phân xưởng, CPNVL dùng trong phân xưởng, CP khấu hao TSCĐ trong SXSP, CP dịch vụ mua ngoài và các CP bằng tiền khác phục vụ cho việc sản xuất sản phẩm.
- Chi phí quản lý bán hàng (chi phí lưu thông): là những khoản chi phí cần thiết để đảm bảo cho việc thực hiện chính sách bán hàng. Gồm lương và các khoản trích theo lương tính của toàn bộ lao động trong hoạt động bán hàng; CP vận chuyển hàng hoá; CP CCDC, NVL; CP khấu hao; CP dịch vụ thuê ngoài và chi phí bằng tiền khác trong hoạt động bán hàng dùng trong việc bán hàng. - Chi phí quản lý doanh nghiệp: là những khoản CP liên quan đến công việc hành chính - quản trị trong DN. Gồm CP lương và các khoản trích theo lương của lao động ở các bộ phận quản lý; CP CCDC; CP khấu hao TSCĐ; CP dịch vụ mua ngoài; các CP khác bằng tiền phục vụ quản lý toàn DN.
- Chi phí khác: ngoài những thành phần liên quan đến HD SXKD của DN, đây chính là những loại CP tài chính, CP hoạt động khác. Chi phí này thường chiếm tỷ lệ nhỏ.Huỳnh Lợi, Nguyễn Khắc Tâm, 2002, Kế toán chi phi, Nhà Xuất bản thống kê) c) Phân loại chi phí theo mối quan hệ với thời kỳ tính kết quả Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất gồm: 8 - Chi phí sản phẩm: là những CP gắn liền với sản phẩm được SX ra hoặc được mua vào trong kỳ. Chi phí này phát sinh một kỳ và ảnh hưởng đến nhiều kỳ SXKD. - Chi phí thời kỳ: là những chi phí phát sinh và ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận trong một kỳ kế toán.Huỳnh Lợi, Nguyễn Khắc Tâm, 2002, Kế toán chi phi, Nhà Xuất bản thống kê) d) Phân loại theo phương pháp quy nạp Cách phân loại này tác động tích cực đến nhận thức, lựa chọn phương pháp tập hợp, giúp nhà quản lý chính xác hơn trong quyết định chi phí.
- Chi phí trực tiếp: là những chi phí phát sinh liên quan trực tiếp đến từng đối tượng chịu chi phí, có thể quy nạp vào từng đối tượng chịu chi phí như: CPNVLT, CPNCTT,. - Chi phí gián tiếp: là những chi phí liên quan đến nhiều đối tượng chi phí như chi phí nguyên vật liệu phụ, chi phí nhân công phụ… (Nguồn: TS.Huỳnh Lợi, Nguyễn Khắc Tâm, 2002, Kế toán chi phi, Nhà Xuất bản thống kê) e) Phân loại chi phí theo mối quan hệ với mức độ hoạt động (mô hình ứng xử chi phí) Theo tiêu thức này, chi phí trong kỳ kế toán bao gồm biến phí, định phí và chi phí hỗn hợp, cụ thể: - Biến phí: là những chi phí sẽ thay đổi tỷ lệ thuận với mức độ hoạt động. Ngược lại, nếu xét trên một đơn vị mức độ hoạt động, biến phí là một hằng số. - Định phí là những chi phí ít thay đổi hoặc không thay đổi theo mức độ hoạt động nhưng nếu xét đến một mức độ hoạt động thì tỷ lệ nghịch với mức độ hoạt động.
- Chi phí hỗn hợp gồm hỗn hợp cả biến phí và định phí.Huỳnh Lợi, Nguyễn Khắc Tâm, 2002, Kế toán chi phi, Nhà Xuất bản thống kê) 9 f) Các nhận diện khác về chi phí - Tùy theo đặc điểm của từng đơn vị cũng như yêu cầu quản lý riêng mà các đơn vị phân loại chi phí theo nhiều tiêu thức khác nhau. - Ví dụ: Phân loại chi phí theo khả năng kiểm soát, chi phí bao gồm: Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được hoặc chi phí có thể phân biệt thành, chi phí chìm, chi phí cơ hội… (Nguồn: TS.Huỳnh Lợi, Nguyễn Khắc Tâm, 2002, Kế toán chi phi, Nhà Xuất bản thống kê) 1.2 Tổng quan về giá thành sản phẩm 1.1 Khái niệm giá thành sản phẩm “Giá thành sản phẩm là chi phí sản xuất tính cho một khối lượng sản phẩm hoàn thành nhất định giá thành đơn vị sản phẩm và chi phí sản xuất cho một đơn vị thành phẩm” (Huỳnh Lợi, Nguyễn Khắc Tâm, 2002, Kế toán chi phi, Nhà Xuất bản thống kê). Giá thánh sản phẩm chỉ tính cho sản phẩm đã hoàn thành trong kỳ và chỉ tiêu này thường bao gồm 2 bộ phận: chi phí sản xuất kỳ trước chuyển sang kỳ này và một phần chi phí phát sinh kỳ này (sau khi đã trừ đi giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ) a) Phân loại giá thành sản phẩm Phân loại giá thành giúp cho kế toán nghiên cứu và quản lý, hạch toán tốt giá thành sản phẩm và cũng đáp ứng tốt yêu cầu xây dựng giá sản phẩm. Dựa vào tiêu thức khác nhau và xét dưới nhiều góc độ mà người ta phân thành các loại giá thành khác nhau.Phan Đức Dũng (2006) có những cách phân loại giá thành sản phẩm như sau: b) Phân loại giá thành theo thời điểm và nguồn gốc số liệu: - Giá thành định mức: Được xây dựng trên tiêu chuẩn của chi phí định mức.
Giá thành định mức thường được lập cho từng sản phẩm trước khi sản xuất. Nó là đơn vị cơ sở để xây dựng giá thành kế hoạch, giá thành dự toán và xác định chi phí tiêu chuẩn. Đồng thời, nó còn là thước đo để xác định kết quả sử dụng các tài sản, 10 vật tư, tiền vốn của doanh nghiệp, làm cơ sở đánh giá các giải pháp kinh tế, kỹ thuật mà doanh nghiệp đã sử dụng. - Giá thành kế hoạch (giá thành dự toán): Được xây dựng trên cớ sở tiêu chuẩn chi phí định mức nhưng có sự điều chỉnh theo năng lực hoạt động trong kỳ kế hoạch hoặc kỳ dự toán.
Giá thành kế hoạch có thể được lập cho từng sản phẩm hoặc một khối lượng sản phẩm, công việc nhất định trong từng kỳ sản xuất. Nó được xem là mục tiêu phấn đấu và là căn cứ để doanh nghiệp phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch tính giá thành. - Giá thành thực tế: Được tính toán dựa trên cơ sở chi phí thực tế phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm. Giá thành thực tế thường chỉ có được sau khi đã kết thúc quá trình sản xuất sản phẩm, chế tạo sản phẩm đã hoàn thành.
Giá thành thực tế là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp để xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.