Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phNm xây lắp tại các doanh nghiệp xây lắp. Chương 2: Thực trạng về công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phNm xây lắp tại Xí nghiệp xây dựng giao thông số 1 Công Ty Cổ Phần Xây Dựng Giao Thông Thừa Thiên Huế. Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phNm tại Xí nghiệp Xây dựng Giao thông số 1. Phần III: Kết luận.
4 PHẦ II: ỘI DU G VÀ KẾT QUẢ GHIÊ CỨU CHƯƠ G 1: CƠ SỞ LÝ LUẬ VỀ KẾ TOÁ CHI PHÍ SẢ XUẤT VÀ TÍ H GIÁ THÀ H SẢ PHẨM TRO G DOA H GHIỆP XÂY LẮP 1. Đặc điểm hoạt động và nhiệm vụ của kế toán tại doanh nghiệp xây lắp 1.Đặc điểm hoạt động xây lắp Theo TS. Huỳnh Lợi, (2010): “Sản xuất xây lắp là một loại sản xuất công nghiệp đặc biệt theo đơn đặt hàng. Sản phNm xây dựng cơ bản cũng được tiến hành một cách liên tục, từ khâu thăm dò, điều tra khảo sát đến khâu thiết kế thi công và quyết toán công trình khi hoàn thành.
Sản xuất xây dựng cơ bản cũng có tính chất dây chuyền, giữa các khâu của của hoạt động sản xuất có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nếu một khâu ngừng, trì trệ sẽ ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của các khâu khác.” Do vậy hoạt động xây lắp có những đặc điểm sau: - Sản xuất xây lắp mang tính chất riêng lẻ: Sản phNm sản xuất xây lắp không có sản phNm nào giống sản phNm nào, mỗi sản phNm có yêu cầu về mặt thiết kế mỹ thuật, kết cấu, hình thức, địa điểm xây dựng khác nhau. Chính vì vậy, mỗi sản phNm xây lắp đều có yêu cầu về tổ chức quản lý, tổ chức thi công và biện pháp thi công phù hợp với đặc điểm của từng công trình cụ thể, có như vậy việc sản xuất thi công mới mang lại hiệu quả cao và bảo đảm cho sản xuất được liên tục. Việc tập hợp chi phí sản xuất, tính giá thành và xác định kết quả thi công xây lắp cũng được tính cho từng sản phNm xây lắp riêng biệt, sản xuất xây lắp được thực hiện theo đơn đặt hàng của khách hàng nên ít phát sinh chi phí trong quá trình lưu thông. Sản phNm xây dựng cơ bản (XDCB) có giá trị lớn, khối lượng công trình lớn, thời gian thi công tương đối dài: Các công trình XDCB thường có thời gian thi công rất dài, có công trình phải xây dựng hàng chục năm mới xong.
Trong thời gian sản xuất thi công xây dựng chưa tạo 5 ra sản phNm cho xã hội nhưng lại sử dụng nhiều vật tư, nhân lực của xã hội. Do đó, khi lập kế hoạch XDCB cần cân nhắc, thận trọng, nêu rõ các yêu cầu về vật tư, tiền vốn, nhân công. Việc theo dõi quá trình sản xuất thi công phải chặt chẽ, đảm bảo sử dụng vốn tiết kiệm, đảm bảo chất lượng thi công công trình. Do thời gian thi công tương đối dài nên kỳ tính giá thành thường không xác định hàng tháng như trong sản xuất công nghiệp mà được xác định theo thời điểm khi công trình, hạng mục công trình hoàn thành hay thực hiện bàn giao thanh toán theo giai đoạn quy ước tùy thuộc vào kết cấu, đặc điểm kỹ thuật và khả năng về vốn của đơn vị xây lắp.
Thời gian sử dụng sản phNm xây lắp tương đối dài: Các công trình XDCB thường có thời gian sử dụng dài nên mọi sai lầm trong quá trình thi công thường khó sửa chữa phải phá đi làm lại. Sản phNm XDCB được sử dụng tại chỗ, địa điểm xây dựng luôn thay đổi theo địa bàn thi công: Khi chọn địa điểm xây dựng phải điều tra nghiên cứu thật kỹ về điều kiện kinh tế, địa chất, thủy văn, kết hợp với các yêu cầu về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trước mắt cũng như lâu dài. Sau khi đi vào sử dụng, công trình không thể di dời, cho nên nếu các công trình là nhà máy, xí nghiệp cần nghiên cứu các điều kiện về nguồn cung cấp nguyên vật liệu, nguồn lực lao động, nguồn tiêu thụ sản phNm, bảo đảm điều kiện thuận lợi khi công trình đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh sau này. Sản xuất XDCB thường diễn ra ngoài trời, chịu tác động trực tiếp bởi điều kiện môi trường, thiên nhiên, thời tiết và do đó việc thi công xây lắp ở một mức độ nào đó mang tính chất thời vụ.
Do đặc điểm này, trong quá trình thi công cần tổ chức quản lý lao động, vật tư chặt chẽ, đảm bảo thi công nhanh, đúng tiến độ khi điều kiện môi trường, thời tiết thuận lợi. Trong điều kiện thời tiết không thuận lợi ảnh hưởng đến chất lượng thi công, có thể sẽ phát sinh các khối lượng công trình phải phá đi làm lại và các thiệt hại phát sinh do ngừng sản xuất, doanh nghiệp cần có kế hoạch điều độ cho phù hợp nhằm tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phNm xây lắp. 6 Các đặc điểm nêu trên chi phối đến toàn bộ nội dung tổ chức công tác kế toán ở doanh nghiệp xây lắp từ việc tổ chức bộ máy kế toán, tổ chức thu thập thông tin qua chế độ chứng từ kế toán, phương pháp xử lý và ghi nhận thông tin trên các tài khoản, lập và trình bày BCTC cũng như một số phương pháp tính toán liên quan đến chi phí sản xuất và giá thành sản phNm.'hiệm vụ của kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản ph3m xây lắp Quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành sản phNm là nội dung quan trọng hàng đầu trong tất cả các doanh nghiệp, để đạt được mục tiêu tiết kiệm và tăng cường được lợi nhuận và để phục vụ tốt công tác quản lý chi phí và tính giá thành sản phNm, kế toán cần thực hiện tốt các nhiệm vụ sau: Xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành phù hợp với điều kiện thực tế của doanh nghiệp, thỏa mãn yêu cầu quản lý đặt ra, vận dụng phương pháp hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phNm một cách khoa học và hợp lý. Ghi chép, tính toán, phản ánh một cách chính xác, đầy đủ, kịp thời chi phí sản xuất và giá thành sản phNm của hoạt động xây lắp, xác định hiệu quả từng phần và toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh.
Kiểm tra chặt chẽ tình hình thực hiện các định mức tiêu hao và các dự toán chi phí nhằm phát hiện kịp thời các hiện tượng lãng phí, sử dụng chi phí không đúng kế hoạch, sai mục đích. Tổ chức tập hợp, kết chuyển hoặc phân bổ chi phí sản xuất theo đúng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất phục vụ cho việc tính giá thành sản phNm xây lắp và các sản phNm khác kịp thời, chính xác. Vận dụng phương pháp tính giá thành thích hợp để tính toán giá thành sản phNm xây lắp theo đúng các khoản mục quy định và kỳ tính giá thành đã xác định. Định kỳ cung cấp báo cáo về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phNm cho lãnh đạo doanh nghiệp, tiến hành thực hiện các định mức chi phí, dự toán, tình hình thực hiện kế hoạch giá thành.
Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp 1. Khái niệm và bản chất kinh tế chi phí sản xuất Theo TS.Huỳnh Lợi, (2010): “Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền những hao phí lao động sống và lao động vật hóa phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Hay nói cách khác, bản chất của chi phí sản xuất là những phí tổn tài nguyên, vật chất, lao động và phải gắn liền với mục đích sản xuất kinh doanh”. Theo PGS TS.Võ Văn N hị, (2010): “Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp là toàn bộ các khoản hao phí vật chất mà doanh nghiệp chi ra để thực hiện công tác xây lắp nhằm tạo ra các sản phNm khác nhau theo mục đích kinh doanh cũng như theo hợp đồng giao nhận thầu đã ký kết”.
N hững nhận thức chi phí có thể khác nhau về quan điểm, hình thức thể hiện chi phí nhưng tất cả đều thừa nhận một vấn đề chung: “Chi phí là phí tổn tài nguyên, vật chất, lao động và phải phát sinh gắn liền với mục đích sản xuất kinh doanh. Đây chính là bản chất kinh tế của chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bản chất kinh tế này giúp nhà quản trị phân biệt được chi phí với chi tiêu, chi phí với vốn”. Phân loại chi phí trong xây lắp Trong doanh nghiệp xây lắp, các chi phí sản xuất bao gồm có nội dung kinh tế và công dụng khác nhau.
Việc phân loại chi phí sản xuất là hết sức quan trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận, do đó việc quản lý và giám sát chặt chẽ chi phí là hết sức cần thiết. Để có thể giám sát và quản lý tốt chi phí cần phải phân loại chi phí theo các tiêu thức thích hợp. Phân loại chi phí theo nội dung kinh tế ban đầu Theo cách phân loại này, những chi phí sản xuất trong doanh nghiệp có chung tính chất kinh tế sẽ được xếp chung vào một yếu tố chi phí không kể chi phí đó phát sinh ở đâu và dùng vào mục đính gì. Theo quy định hiện hành có 5 yếu tố chi phí: Chi phí nguyên liệu, vật liệu: Bao gồm toàn bộ giá trị nguyên liệu, vật liệu, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ xuất dùng cho sản xuất kinh doanh trong kỳ.
8 Chi phí nhân công: Bao gồm toàn bộ chi phí trả cho người lao động (thường xuyên hay tạm thời) về tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp, trợ cấp có tính chất lương trong kỳ trước khi trừ các khoản giảm trừ. Chi phí khấu hao TSCĐ: Bao gồm chi phí khấu hao toàn bộ TSCĐ của doanh nghiệp dùng sản xuất kinh doanh trong kỳ. Chi phí dịch vụ mua ngoài: Bao gồm các chi phí về nhận cung cấp dịch vụ từ các đơn vị khác để phục vụ cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như: điện nước, điện thoại. Chi phí khác bằng tiền: Là chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất ngoài 4 yếu tố chi phí nói trên như chi phí tiếp khách, hội nghị.
Phân loại theo tiêu thức này giúp ta hiểu được kết cấu, tỷ trọng của từng loại chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh, giúp doanh nghiệp dự toán chi phí sản xuất kinh doanh cho kỳ sau.