Chương 1: Lý luận cơ bản về kế toán chi phí sản xuất và giá thành s ản phẩm xây lắp trong các doanh nghiệp xây dựng nhỏ và vừa Chương 2: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp tại các doanh nghiệp xây dựng nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa Chương 3: Các kết luận và đề xuất giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp tại các doanh nghiệp xây dựng nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa 9 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG NHỎ VÀ VỪA 1. Đặc điểm doanh nghiệp xây dựng nhỏ và vừa và ảnh hƣởng của nó đến kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp 1. Đặc điểm doanh nghiệp xây dựng nhỏ và vừa DNNVV được hiểu là các doanh nghiệp có quy mô hoạt động nhỏ xét về số lao động, quy mô kinh doanh và tổng doanh thu. Cho đến nay chưa có một khái niệm chung về DNNVV mà tùy thuộc đặc điểm của từng quốc gia, từng giai đoạn phát triển kinh tế để đưa ra những quy định về DNNVV.
Theo điều 3, nghị định 56/2009/NĐ – CP về trợ giúp phát triển DNNVV đưa ra định nghĩa về DNNVV như sau: “ Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên). Theo thông tư số 16/2013/TT – BTC ngày 08/02/2013 hướng dẫn thực hiện việc gia hạn, giảm một số khoản thu ngân sách Nhà nước theo Nghị quyết số 02/NQ – CP ngày 07 tháng 01 năm 2013 của Chính phủ thì doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa bao gồm cả chi nhánh, đơn vị trực thuộc nhưng hạch toán độc lập, hợp tác xã ( sử dụng dưới 200 lao động làm việc toàn bộ thời gian năm và có doanh thu năm không quá 2 0 tỷ đồng) không bao gồm doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, xổ số, trò chơi có thưởng, sản xuất hàng hóa, dịch vụ thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt. Từ khi đất nước chuyển sang cơ chế thị trường, các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa nói chung có xu hướng chiếm ưu thế hơn so với các doanh nghiệp lớn. Các doanh nghiệp này có những đặc điểm sau: - Lĩnh vực hoạt động kinh doanh của các DNNVV thường tập trung vào những ngành nghề kinh doanh chính.
Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong các 10 doanh nghiệp thường là những nghiệp vụ cơ bản gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu. - Tổ chức sản xuất kinh doanh, tổ chức bộ máy quản lý của các DNNVV thường linh hoạt, gọn nhẹ. - Quy mô hoạt động kinh doanh, quy mô vốn đầu tư ban đầu không lớn ( Theo quy định tại nghị định 56/2009/NĐ – CP là dưới 20 tỷ đồng đối với doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản và công nghiệp, xây dựng; dưới 10 tỷ đồng đối với doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại dịch vụ và từ trên 20 tỷ đến dưới 100 tỷ đối với doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản và công nghiệp, xây dựng, từ trên 10 tỷ đồng đến 50 tỷ đồng đối với doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại dịch vụ), nguồn nhân lực còn nhiều hạn chế cả về chất lượng và số lượng ( Theo quy định tại nghị định 56/2009/NĐ – CP chỉ có 10 lao động trở xuống đối với doanh nghiệp siêu nhỏ; từ trên 10 người đến 200 người đối với doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản và công nghiệp, xây dựng, từ trên 10 người đến 50 người đối với doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại dịch vụ và từ trên 200 người đến 300 người đối với doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản và công nghiệp, xây dựng, từ trên 50 người đến 100 người đối với doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại dịch vụ). - Cơ sở vật chất kỹ thuật thường yếu kém, trình độ công nghệ thường đơn giản.
Các DNNVV hoạt động trong nhiều lĩnh vực trong đó có lĩnh vực xây lắp. Các doanh nghiệp xây lắp nhỏ và vừa cũng có những đặc điểm chung của DNNVV và có những đặc trưng riêng: - Các doanh nghiệp xây lắp nhỏ và vừa thường tổ chức các tổ ( đội) thi công trực thuộc. Tuy nhiên, các tổ ( đội) hầu hết đều hạch toán phụ thuộc với các doanh nghiệp. - Vốn đầu tư thực hiện các công trình xây lắp thi công trong các DNNVV thường không lớn, thời gian thi công không dài do hạn chế về nguồn lực.
- Cơ sở vật chất kỹ thuật và trình độ công nghệ của các doanh nghiệp xây lắp nhỏ và vừa còn hạn chế. Các doanh nghiệp này phần lớn phải thuê ngoài MTC để thi công các công trình. Đặc điểm hoạt động sản xuất xây lắp ảnh hưởng đến kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp So với các ngành sản xuất khác, ngành xây dựng cơ bản có những đặc điểm về kinh tế - kỹ thuật riêng biệt, thể hiện rất rõ nét ở sản phẩm xây lắp và quá trình tạo ra sản phẩm của ngành. Điều này đã chi phối đến công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp.
Thứ nhất, sản phẩm xây lắp là những công trình xây dựng, vật kiến trúc. có quy mô lớn, kết cấu phức tạp mang tính đơn chiếc, thời gian sản xuất sản phẩm xây lắp lâu dài. Do đó, việc tổ chức quản lý và hạch toán sản phẩm xây lắp phải lập dự toán. Quá trình sản xuất xây lắp phải so sánh với dự toán, lấy dự toán làm thước đo, đồng thời để giảm bớt rủi ro phải mua bảo hiểm cho công trình xây lắp.
Thứ hai, sản phẩm xây lắp được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá thỏa thuận với chủ đầu tư (giá đấu thầu), do đó tính chất hàng hóa của sản phẩm xây lắp không thể hiện rõ, chi phí chủ yếu phát sinh trong quá trình cung ứng và quá trình sản xuất. Phù hợp với đặc điểm này, kế toán chỉ tập trung theo dõi và tập hợp chi phí trong quá trình sản xuất. Thứ ba, sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất còn các điều kiện sản xuất (xe máy, thiết bị thi công, người lao động.) phải di chuyển theo địa điểm đặt sản phẩm. Đặc điểm này làm cho công tác quản lý sử dụng, hạch toán tài sản, vật tư rất phức tạp.
Thứ tư, sản phẩm xây lắp từ khi khởi công cho đến khi hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng thường kéo dài. Quá trình thi công được chia thành nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn lại chia thành nhiều công việc khác nhau, các công việc thường diễn ra ngoài trời chịu tác động rất lớn của các nhân tố môi trường như nắng, mưa, lũ lụt. Đặc điểm này khiến cho kế toán chi phí trở nên khó khăn, đồng thời đòi hỏi việc tổ chức quản lý, giám sát phải chặt chẽ sao cho bảo đảm chất lượng công trình đúng như thiết kế, dự toán. Thứ năm, hoạt động xây lắp được các doanh nghiệp tổ chức thực hiện với nhiều hình thức khác nhau trên cơ sở HĐ đã được ký kết với chủ đầu tư, việc tổ chức thi công được thực hiện dưới sự giám sát chặt chẽ của chủ đầu tư cả về kỹ 12 thuật, chất lượng và tiến độ thi công.
Khối lượng công tác xây lắp hoàn thành của từng giai đoạn có thể được các bên liên quan nghiệm thu, xác nhận và thanh toán trên cơ sở quy định của HĐ. Thứ sáu, các doanh nghiệp xây lắp thường tổ chức theo hai phương thức khoán đó là khoán toàn bộ chi phí ( khoán gọn công trình) và khoán theo khoản mục chi phí cho các đơn vị nội bộ trong doanh nghiệp. Khoán toàn bộ chi phí là hình thức mà đơn vị khoán giao toàn bộ giá trị công trình cho đơn vị nhận khoán. Đơn vị nhận khoán tự tổ chức cung ứng vật tư, tổ chức lao động để tiến hành thi công.
Khi công nhân hoàn t hành bàn giao quyết toán sẽ được thanh toán toàn bộ giá trị công trình theo giá nhận khoán và nộp cho đơn vị giao khoán một khoản theo quy định. Đơn vị giao khoán là đơn vị có đủ tư cách pháp nhân và đứng ra ký kết HĐ lắp đặt và chịu trách nhiệm pháp lý về chất lượng và tiến độ thi công công trình. Khoán theo khoản mục chi phí là hình thức mà đơn vị giao khoán cho đơn vị nhận khoán nhận các khoản mục chi phí nhất định ( thường là chi phí nhân công, vật tư phụ…) còn các khoản mục còn lại do đơn vị giao khoán tự hạch toán và chịu trách nhiệm giám sát kỹ thuật, chất lượng công trình. Hình thức này áp dụng cho đơn vị nhận khoán là các tổ đội thi công không đủ điều kiện cung ứng vật tư kỹ thuật chưa thực hiện hạch toán kinh tế.
Khi nhận khoán hai bên giao khoán và bên nhận khoán phải lập HĐ giao khoán, trong đó ghi rõ nội dung công việc, trách nhiệm, quyền lợi mỗi bên cũng như thời gian thực hiện HĐ. Khi hoàn thành công trình nhận khoán bàn giao hai bên lập bản quyết toán khoán và thanh lý HĐ. Nếu đơn vị nhận khoán được phân cấp quản lý tài chính, có tổ chức bộ máy kế toán riêng thì đơn vị nhận khoán phải tổ chức hạch toán kế toán hoạt động nhận khoán, theo dõi chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm, lập báo cáo kế toán theo chế độ hiện hành. Đội trưởng đơn vị nhận khoán phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về hoạt động kinh doanh lắp đặt nhận khoán, đảm bảo tuân thủ đúng quy định về chứng từ kế toán, tài khoản kế toán, hệ thống sổ kế toán theo chế độ kế toán hiện hành.
13 Nếu đơn vị nhận khoán không có tổ chức bộ máy kế toán riêng thì tại đơn vị giao khoán, kế toán hạch toán toàn bộ chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp.