phần mở đầu, kết luận, gồm: Chƣơng 1: Lý luận chung về tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất. Chƣơng 2: Thực trạng tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty TNHHNN một thành viên công nghiệp tàu thuỷ Bến Kiền. Chƣơng 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty TNHHNN một thành viên công nghiệp tàu thuỷ Bến Kiền. Sinh viên: Nguyễn Thị Nga - Lớp: QT 1002K 2 Khóa luận tốt nghiệp Chƣơng 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1.
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM 1. Khái quát về chi phí sản xuất 1. Khái niệm chi phí sản xuất Để tiến hành hoạt động sản xuất bình thƣờng các doanh nghiệp cần phải có đủ ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất đó là: Đối tƣợng lao động, tƣ liệu lao động, sức lao động, sự tham gia của các yếu tố này dẫn đến sự hình thành của các chi phí tƣơng ứng. Nhƣ vậy chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp là sự biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí lao động vật hoá và lao động sống cần thiết mà doanh nghiệp bỏ ra để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm).
Các chi phí sản xuất bao gồm nhiều loại, nhiều yếu tố khác nhau, song quy lại không ngoài chi phí về lao động sống và lao động vật hoá: - Chi phí lao động sống bao gồm: Tiền lƣơng trích quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ. - Chi phí về lao động vật hoá: Chi phí nguyên vật liệu, chi phí khấu hao, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí bằng tiền. Trong các doanh nghiệp sản xuất ngoài những chi phí có tính chất sản xuất, còn có thể phát sinh những chi phí không mang tính chất sản xuất. Vì vậy chỉ có những chi phí bỏ ra để tiến hành hoạt động sản xuất mới đƣợc gọi là chi phí sản xuất.
Chi phí sản xuất gắn liền với việc sử dụng tài sản, vật tƣ, lao động, vì thế quản lý chi phí sản xuất thực chất là quản lý việc sử dụng hợp lý tiết kiệm các loại tài sản, vật tƣ, tiền vốn của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Mặt khác chi phí Sinh viên: Nguyễn Thị Nga - Lớp: QT 1002K 3 Khóa luận tốt nghiệp sản xuất là cơ sở để tạo nên giá thành sản phẩm dịch vụ lao vụ hoàn thành nên quản lý chặt chẽ chi phí sản xuất là mục tiêu hạ giá thành sản phẩm tăng lợi nhuận. Để quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm đƣợc chặt chẽ, để có thể phân tích quá trình phát sinh chi phí sản xuất và hình thành giá thành sản phẩm và kết cấu tỷ trọng của chi phí sản xuất ngƣời ta tiến hành phân loại chi phí sản xuất theo một số tiêu thức khác nhau. Phân loại chi phí sản xuất Chi phí sản xuất – kinh doanh bao gồm nhiều loại, nhiều khoản khác nhau cả về nội dung, tính chất, công dụng, vai trò, vị trí… trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Để thuận tiện cho công tác quản lý và hạch toán chi phí, cần thiết phải tiến hành phân loại chi phí. Xuất phát từ các mục đích và yêu cầu khác nhau của quản lý chi phí sản xuất cũng đƣợc phân loại theo những tiêu thức khác nhau. Phân loại chi phí là việc sắp xếp chi phí sản xuất vào từng loại từng nhóm khác nhau theo những đặc điểm nhất định. Xét về mặt lý luận cũng nhƣ thực tế, có rất nhiều cách phân loại chi phí khác nhau nhƣ phân loại theo nội dung kinh tế, theo công dụng, theo vị trí, theo quan hệ chi phí với các quá trình sản xuất… Mỗi cách đều đáp ứng ít nhất cho mục đích quản lý , hạch toán, kiểm tra, kiểm soát chi phí phát sinh… ở các góc độ khác nhau.
Vì thế các cách phân loại đều tồn tại bổ sung cho nhau và giữ vai trò nhất định trong quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. Sau đây là một số cách phân loại: a) Phân loại theo nội dung kinh tế ban đầu Để phục vụ cho việc tập hợp quản lý chi phí theo nội dung kinh tế ban đầu của nó mà không xét đến công dụng cụ thể địa điểm phát sinh của chi phí, chi phí đƣợc phân theo yếu tố. Chi phí đƣợc chi tiết hoá theo nội dung kinh tế cụ thể của chúng. Tuỳ theo yêu cầu và trình độ quản lý ở mỗi nƣớc, mỗi thời kỳ mà mức độ chi tiết của các yếu tố có thể khác nhau.
Theo quy định của Việt Nam, toàn bộ chi phí đƣợc chia thành 5 yếu tố sau: - Yếu tố chi phí vật liệu: Bao gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ … sử dụng vào sản xuất kinh Sinh viên: Nguyễn Thị Nga - Lớp: QT 1002K 4 Khóa luận tốt nghiệp doanh (loại trừ giá trị nguyên liệu, vật liệu dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi). - Yếu tố chi phí nhân công: Phản ánh tổng số tiền lƣơng, phụ cấp mang tính chất lƣơng phải trả cho công nhân viên chức và các khoản BHXH, BHYT, KPCĐ trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lƣơng và phụ cấp lƣơng phải trả cho công nhân viên chức. - Yếu tố chi phí khấu hao tài sản cố định: Phản ánh tổng số khấu hao tài sản cố định phải trích trong kỳ của tất cả các tài sản cố định sử dụngcho sản xuất kinh doanh trong kỳ. - Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: Phản ánh chi phí dịch vụ mua ngoài dùng vào sản xuất kinh doanh.
- Yếu tố chi phí khác bằng tiền: Phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiền chƣa phản ánh vào các yếu tố trên dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ. Cách phân loại này cho biết kết cấu, tỷ trọng của từng loại chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra cho hoạt động sản xuất kinh doanh. b) Phân loại chi phí theo công dụng kinh tế Cách phân loại này dựa vào công dụng kinh tế của chi phí và mức phân bổ chi phí cho từng đối tƣợng. Theo quy định hiện hành giá thành sản xuất ở Việt Nam bao gồm 3 khoản chi phí: - Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp: Phản ánh toàn bộ nguyên liệu chính, phụ, nhiên liệu, tham gia trực tiếp vào việc sản xuất chế tạo sản phẩm.
- Chi phí nhân công trực tiếp: Tiền lƣơng, phụ cấp lƣơng, các khoản trích cho BHXH, BHYT, KPCĐ theo tỷ lệ tiền lƣơng phát sinh. - Chi phí sản xuất chung: Là những chi phí phát sinh trong phạm vi phân xƣởng sản xuất ( trừ chi phí vật liệu và nhân công trực tiếp). Cách phân loại này có ý nghĩa quan trọng đối với việc xác định phƣơng hƣớng, biện pháp quản lý chi phí sản xuất từng loại thích hợp. c) Phân loại chi phí theo chức năng trong sản xuất Sinh viên: Nguyễn Thị Nga - Lớp: QT 1002K 5 Khóa luận tốt nghiệp Dựa vào chức năng của các hoạt động trong quá trình kinh doanh và chi phí liên quan trực tiếp đến việc thực hiện các chức năng mà chi phí sản xuất - kinh doanh chia làm 3 loại: - Chi phí sản xuất: Gồm các chi phí liên quan đến chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xƣởng.
- Chi phí tiêu thụ: Các chi phí phát sinh liên quan đến tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, lao vụ… - Chi phí quản lý: Gồm chi phí quản lý và các chi phí liên quan đến toàn doanh nghiệp. Cách phân loại này là cơ sở xác định giá thành, giá trị tồn kho, phân biệt chi phí cho từng chức năng, là căn cứ kiểm tra, kiểm soát, quản lý chi phí. d) Phân loại theo cách thức kết chuyển chi phí gồm chi phí sảm phẩm và chi phí thời kỳ - Chi phí sản phẩm: Là chi phí gắn liền với sản phẩm đƣợc sản xuất ra hoặc đƣợc mua. - Chi phí thời kỳ: Là những chi phí làm giảm lợi tức trong một thời kỳ nào đó nhƣ chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp.
e) Phân loại theo quan hệ của chi phí với khối lƣợng công việc, sản phẩm hoàn thành Để thuận lợi cho việc lập kế hoạch và điều tra chi phí đồng thời làm căn cứ để đề ra các quyết định kinh doanh, toàn bộ CPSXKD lại đƣợc phân chia theo quan hệ với khối lƣợng công việc hoàn thành. Theo cách phân loại này chi phí đƣợc chia thành hai loại định phí và biến phí. - Định phí: Là (chi phí cố định) là những chi phí không thay đổi theo số lƣợng hàng hoá dịch vụ nhƣ chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí thuê tài sản, chi phí quản lí…. - Biến phí (chi phí biến đổi): Là những chi phí thay đổi theo khối lƣợng sản phẩm, dịch vụ hoàn thành nhƣ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp… Sinh viên: Nguyễn Thị Nga - Lớp: QT 1002K 6 Khóa luận tốt nghiệp Ngoài cách phân loại phổ biến trên chi phí còn có thể phân theo quan hệ với quá trình sản xuất, theo khả năng kiểm soảt.
+ Theo quan hệ quả trình sản xuất. Chi phí trực tiếp: Là chi phí liên quan trực tiếp đến việc sản xuất ra một loại sản phẩm nào đó, một công việc nhất định nào đó, và nó có thể ghi trực tiếp cho đối tƣợng nên cần phân bổ. + Theo khả năng kiểm soát. - Chi phí kiểm soát đƣợc.
- Chi phí không kiểm soát đƣơc. Cách phân loại chi phí này cỏ ý nghĩa quan trọng đối với công tác quản lí quá trình sản xuất và thực tiễn sản xuất sản phẩm. Giá thành sản phẩm 1. Khái niệm giá thành sản phẩm Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ các khoản chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra, bẩt kể kì nào nhƣng có liên quan đến khối lƣợng công việc, sản phẩm đã hoàn thành trong kì.
Giá thành là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh chất lƣợng toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh và quản lí tài chính của doanh nghiệp. Cùng một loại hình sản xuất - kinh doanh giá thành sản phẩm cho phép đánh giá đƣợc tƣơng đối chính xác về trình độ sử dụng nguyên vật liệu, năng lƣợng, khả năng tận dụng công suất máy móc thiết bị.