Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong nền kinh tế thị trường, kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm đóng vai trò trọng yếu đối với mọi doanh nghiệp sản xuất, bất kể quy mô lớn hay nhỏ. Tác giả Nguyễn Trần Khá xác định rằng giá thành sản phẩm vừa là thước đo mức chi phí tiêu hao cần bù đắp, vừa là căn cứ trực tiếp để xây dựng giá bán, qua đó ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh và sự tồn tại của doanh nghiệp. Thực tiễn tại Nhà máy Gạch Ngói Tunnel An Giang — một đơn vị trực thuộc Công ty TNHH MTV Xây Lắp An Giang — đặt ra yêu cầu cụ thể: hạch toán chi phí sản xuất phải chính xác, xác định đúng các khoản chi phí hợp lý được tính vào giá thành, tránh sai lệch làm ảnh hưởng đến tính cạnh tranh của sản phẩm.

Mục tiêu nghiên cứu gồm ba nội dung chính:

  1. Tìm hiểu các lý luận chung về kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
  2. Khảo sát thực trạng công tác tổ chức hạch toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, bao gồm cách sử dụng tài khoản và phân bổ chi phí tại Nhà máy Gạch Ngói Tunnel An Giang.
  3. Đánh giá tính hợp lý của hệ thống kế toán, từ đó đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng: Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, cụ thể là sản phẩm gạch ống kích thước (8×18) cm; không đề cập đến các chi phí hay vấn đề khác.
  • Không gian: Nhà máy Gạch Ngói Tunnel An Giang, địa chỉ tại Khóm 5, thị trấn Tri Tôn, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.
  • Thời gian: Số liệu thu thập và xử lý để tính giá thành là tháng 05 năm 2016.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết

Chuyên đề xây dựng khung lý luận dựa trên các khái niệm và phân loại chuẩn mực trong kế toán chi phí sản xuất Việt Nam, có tham chiếu trực tiếp đến tài liệu Tập thể tác giả khoa Kế toán – Kiểm toán (2007) và giáo trình của GS-TS Ngô Quế Chi (2006). Các nội dung lý thuyết trọng tâm bao gồm:

  • Phân loại chi phí theo bốn tiêu thức: theo yếu tố (nguyên vật liệu, nhân công, khấu hao tài sản cố định, dịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền); theo sự biến động (biến phí, định phí, chi phí hỗn hợp); theo mối quan hệ với sản phẩm (trực tiếp, gián tiếp); theo khoản mục tính giá thành (chi phí nguyên vật liệu trực tiếp – TK 621, chi phí nhân công trực tiếp – TK 622, chi phí sản xuất chung – TK 627).
  • Phân loại giá thành theo thời điểm xác định (định mức, kế hoạch, thực tế) và theo nội dung cấu thành (giá thành sản xuất, giá thành toàn bộ).
  • Các phương pháp tính giá thành: trực tiếp (giản đơn), loại trừ sản phẩm phụ, hệ số, tỉ lệ, phân bước (kết chuyển song song hoặc tuần tự), đơn đặt hàng, định mức.
  • Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang: theo chi phí nguyên vật liệu chính/trực tiếp, theo sản phẩm hoàn thành tương đương, theo chi phí định mức.
  • Chế độ kế toán áp dụng tại nhà máy: Thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22 tháng 12 năm 2014 của Bộ Tài chính.

Phương pháp nghiên cứu

  • Thu thập dữ liệu thứ cấp: chứng từ kế toán, sổ sách, thông tin nội bộ của Nhà máy Gạch Ngói Tunnel An Giang; tham khảo sách chuyên ngành tài chính – kế toán, chuẩn mực kế toán, thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính.
  • Phương pháp tổng hợp: phân loại và tổng hợp số liệu thu thập theo từng nhóm chi phí nguyên vật liệu, nhân công, sản xuất chung để tính giá thành.
  • Phương pháp phân tích: phân tích tính hợp lý của chi phí và các yếu tố cấu thành giá thành sản phẩm.

Nguồn dữ liệu chủ yếu là số liệu kế toán nội bộ tháng 05/2016 và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh các năm 2014–2015.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Mở đầu

Chương này trình bày lý do lựa chọn đề tài xuất phát từ tầm quan trọng của kế toán chi phí trong bối cảnh cạnh tranh thị trường hiện nay. Tác giả xác định ba mục tiêu nghiên cứu, giới hạn phạm vi khảo sát vào sản phẩm gạch ống (8×18) cm tại một địa điểm và trong một tháng cụ thể, đồng thời trình bày ý nghĩa thực tiễn của đề tài đối với công tác quản lý chi phí của Nhà máy.

Chương 2: Cơ sở lý luận về kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

Đây là chương lý thuyết toàn diện, bao gồm:

  • Khái niệm và bốn cách phân loại chi phí sản xuất.
  • Phân loại và mối quan hệ giữa chi phí sản xuất với giá thành sản phẩm: chi phí sản xuất phát sinh thường xuyên, liên tục, gắn với thời kỳ; giá thành gắn với kết quả sản xuất cụ thể.
  • Quy trình tổ chức kế toán gồm bốn bước: tập hợp chi phí theo đối tượng → tổng hợp chi phí → đánh giá sản phẩm dở dang → tính giá thành và nhập kho thành phẩm.
  • Hệ thống tài khoản sử dụng (TK 621, TK 622, TK 627, TK 154) kèm sơ đồ hạch toán.
  • Bảy phương pháp tính giá thành được giới thiệu đầy đủ với công thức cụ thể.

Chương 3: Giới thiệu về Công ty và Nhà máy Gạch Ngói Tunnel An Giang

Chương này cung cấp bức tranh toàn cảnh về đơn vị nghiên cứu:

  • Công ty TNHH MTV Xây Lắp An Giang: tiền thân là Công ty Xây Lắp An Giang thành lập năm 1977, chuyển đổi mô hình kể từ ngày 01/7/2010 theo Quyết định số 1408/QĐ-UBND. Hiện có 13 đơn vị chi nhánh, được cấp chứng nhận TCVN ISO 9001-2008.
  • Nhà máy Gạch Ngói Tunnel An Giang: thành lập theo Quyết định số 03/QD.2001 ngày 27/3/2001; diện tích khu đất 37 (đơn vị không ghi rõ); sản xuất bằng dây chuyền công nghệ MORANDO – ITALY; công suất 40 triệu sản phẩm quy chuẩn/năm; sản phẩm đạt tiêu chuẩn TCVN 1450-1998, 1451-1998, 1452-2004 và TCVN ISO 9001-2008.
  • Danh mục sản phẩm: gạch xây dựng (ống nửa, ống 4 lỗ, gạch đình/thẻ với nhiều kích thước), ngói lợp (ngói lợp 22, ngói sập nóc) và gạch lát nền (gạch tàu 20, tàu 30, tàu 80).
  • Kết quả kinh doanh 2014–2015: lợi nhuận sau thuế năm 2014 âm (–226.981 nghìn đồng), năm 2015 chuyển sang dương (226.941,22 nghìn đồng sau điều chỉnh — tương ứng tăng 1.941,2%). Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ năm 2015 tăng 16.383 nghìn đồng (tương ứng 46,78%) so với năm 2014; lợi nhuận gộp tăng 167,35%. Chi phí tài chính (lãi vay) phát sinh 84.647 nghìn đồng trong năm 2015.
  • Nhân sự: tổng lao động năm 2015 là 192 người (tăng 12 người so với năm 2014, tương ứng 106,67%); thu nhập bình quân mỗi tháng tăng 2.171 nghìn đồng/người/tháng (tương ứng 164,33%).
  • Thị trường tiêu thụ: Kiên Giang chiếm 50,27% tổng sản lượng tiêu thụ năm 2015 (tăng 28,78% so với 2014); An Giang chiếm 30,48% (tăng 54,57% so với 2014).
  • Bộ máy kế toán: gồm Kế toán trưởng (kiêm kế toán tổng hợp), Kế toán thanh toán – công nợ, và Thủ quỹ. Phần mềm kế toán V6SOFTWARE, hình thức chứng từ ghi sổ, áp dụng Thông tư 200/2014/TT-BTC.

Chương 4: Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Nhà máy Gạch Ngói Tunnel An Giang

Đây là chương trọng tâm, trình bày toàn bộ quy trình thực tế:

Quy trình sản xuất: Nhà máy vận hành theo hệ thống lò nung Tunnel, cơ giới hóa các khâu nhào đất, tạo hình, sấy, nung kết hợp thủ công ở khâu bốc xếp. Áp lực chân không đạt 0,8–0,9, áp lực dùn (18–25) kg/cm², độ ẩm tạo hình 18%–20%, độ ẩm sau phơi thủ công hạ xuống còn 10%.

Quy trình tính giá thành chia làm hai giai đoạn (phương pháp phân bước, kết chuyển tuần tự):

Giai đoạn Nội dung Chi phí chính
Giai đoạn mộc Gạch được tạo hình nhưng chưa nung NVL trực tiếp (đất sét, than, điện), NCTT, SXC (dầu DO, CCDC, khấu hao TSCĐ, tiền ăn giữa ca)
Giai đoạn thành phẩm Sau khi nung, gạch đạt tiêu chuẩn bán NVL phụ (than cám, điện, củi trấu), NCTT, SXC, cộng giá thành giai đoạn mộc chuyển sang

Đối tượng hạch toán: theo từng giai đoạn, theo từng loại sản phẩm (gạch ống 9×19, 8×18, 7×17; gạch thẻ 9×19, 8×18, 7×17; gạch nửa 9×19, 8×18, 7×17). Đơn vị tính là viên gạch.

Kỳ tính giá thành: cuối mỗi tháng.

Phương pháp xuất kho: bình quân gia quyền cuối kỳ. Nhà máy không có sản phẩm dở dang cuối kỳ do đặc thù ngành: toàn bộ nguyên vật liệu mua về đều được xuất dùng hết, sản phẩm hoàn thành không còn chi phí treo lại.

Chương 4 trình bày chi tiết hạch toán từng khoản mục chi phí (TK 621, 622, 627, 154), chứng từ sử dụng cho từng loại chi phí, phương pháp phân bổ chi phí sản xuất chung theo từng nhóm sản phẩm, và bảng tính giá thành sản phẩm gạch ngói Tunnel cuối tháng 05/2016.

Chương 5: Nhận xét – Kết luận – Kiến nghị

Chương cuối tổng kết ưu và nhược điểm trong công tác kế toán chi phí sản xuất và giá thành của Nhà máy, đồng thời đưa ra một số kiến nghị để cấp quản lý tham khảo nhằm nâng cao hiệu quả hoặc áp dụng các biện pháp khả thi hơn.


Kết quả và đóng góp

Kết quả chính:

  • Tác giả đã hệ thống hóa toàn bộ quy trình hạch toán chi phí sản xuất thực tế tại Nhà máy Gạch Ngói Tunnel An Giang trong tháng 05/2016, bao gồm các tài khoản, chứng từ, phương pháp phân bổ cho từng giai đoạn sản xuất.
  • Xác định rõ phương pháp tính giá thành Nhà máy đang áp dụng là phương pháp phân bước (kết chuyển tuần tự), phù hợp với quy trình sản xuất hai giai đoạn (mộc và thành phẩm).
  • Phân tích kết quả kinh doanh hai năm 2014–2015 cho thấy xu hướng phục hồi rõ rệt: doanh thu tăng 46,78%, giá vốn chỉ tăng 30,80%, lợi nhuận gộp tăng 167,35%.
  • Thị trường Kiên Giang năm 2015 tăng sản lượng tiêu thụ 28,78% so với 2014 (tương ứng tăng 6.762 viên); thị trường An Giang tăng 54,57% (tương ứng tăng 6.038 viên).

Giải pháp và kiến nghị tác giả đề xuất (theo cấu trúc Chương 5):

  • Đánh giá các ưu điểm và hạn chế trong thực trạng kế toán chi phí tại Nhà máy.
  • Kiến nghị các biện pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả công tác tập hợp chi phí, tính giá thành và quản lý chi phí.

Đóng góp so với nghiên cứu trước: Tác giả không nêu tường minh sự so sánh với các công trình trước; đóng góp chủ yếu nằm ở việc mô tả và đánh giá thực trạng kế toán tại một đơn vị sản xuất gạch ngói cụ thể trong bối cảnh áp dụng Thông tư 200/2014/TT-BTC.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Tác giả tự nhận xét trong lời cảm ơn rằng "do thời gian thực tập có hạn và trình độ hạn chế nên bài viết không tránh khỏi sai sót". Căn cứ vào phạm vi nghiên cứu được xác định, có thể nhận thấy thêm các giới hạn sau:

  • Dữ liệu chỉ bao gồm một tháng (tháng 05/2016), chưa phản ánh được biến động chi phí theo mùa vụ hoặc theo chu kỳ kinh doanh dài hơn.
  • Chỉ tập trung vào sản phẩm gạch ống (8×18) cm, chưa mở rộng sang các chủng loại sản phẩm khác trong danh mục sản xuất của Nhà máy (ngói lợp, gạch lát nền).
  • Đơn vị hạch toán phụ thuộc nên một số nghiệp vụ tài chính được xử lý tập trung tại Công ty TNHH MTV Xây Lắp An Giang, hạn chế khả năng phân tích toàn diện cơ cấu chi phí.
  • Hướng nghiên cứu tiếp có thể mở rộng sang phân tích chi phí định mức, so sánh giá thành thực tế với giá thành kế hoạch, hoặc khảo sát nhiều kỳ liên tiếp để nhận diện xu hướng chi phí.

Giá trị tham khảo

Chuyên đề có giá trị tham khảo cho các nhóm đối tượng sau:

  • Sinh viên ngành Kế toán, Quản trị kinh doanh đang thực hiện đề tài tốt nghiệp về kế toán chi phí sản xuất trong doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng. Phần lý thuyết Chương 2 cung cấp hệ thống khái niệm và phân loại chi phí, giá thành đầy đủ, kèm sơ đồ hạch toán cho TK 621, 622, 627, 154.
  • Sinh viên thực tập hoặc nghiên cứu tại doanh nghiệp sản xuất gạch, ngói, vật liệu xây dựng: Chương 4 trình bày cụ thể cách phân tách hai giai đoạn (mộc và thành phẩm) trong quy trình tính giá thành phân bước, là hình mẫu thực tế ít gặp trong tài liệu giảng dạy.
  • Kế toán viên tại các đơn vị hạch toán phụ thuộc: Chương 3 và 4 cung cấp mẫu tổ chức bộ máy kế toán, hệ thống tài khoản, và quy trình ứng dụng phần mềm V6SOFTWARE với hình thức chứng từ ghi sổ theo Thông tư 200/2014/TT-BTC.
  • Người làm đề tài về phân tích kết quả kinh doanh doanh nghiệp nhà nước chuyển đổi mô hình: Bảng báo cáo kết quả kinh doanh 2014–2015 (Bảng 6) và bảng phân tích thu nhập lao động (Bảng 7) là dữ liệu thực tế có thể tham chiếu.

Câu hỏi thường gặp

1. Nhà máy áp dụng phương pháp tính giá thành nào và tại sao?

Nhà máy áp dụng phương pháp phân bước (kết chuyển tuần tự) vì quy trình sản xuất chia thành hai giai đoạn rõ ràng: giai đoạn gạch mộc (tạo hình, chưa nung) và giai đoạn gạch thành phẩm (sau khi nung). Giá thành giai đoạn mộc được kết chuyển sang làm nguyên liệu đầu vào của giai đoạn thành phẩm; tổng chi phí hai giai đoạn cộng lại tạo thành giá vốn sản phẩm.

2. Nhà máy có đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ không?

Không. Do đặc thù ngành sản xuất gạch tại Nhà máy, toàn bộ nguyên vật liệu mua về đều được xuất dùng hết trong kỳ để sản xuất, và sản phẩm hoàn thành không để lại chi phí dở dang. Vì vậy, Nhà máy không thực hiện bước đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ.

3. Dây chuyền sản xuất của Nhà máy có nguồn gốc từ đâu và đạt tiêu chuẩn nào?

Dây chuyền sản xuất được nhập từ MORANDO – ITALY. Sản phẩm của Nhà máy được tổ chức QUACERT chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 1450-1998, TCVN 1451-1998, TCVN 1452-2004 và được cấp chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng TCVN ISO 9001-2008. Công suất thiết kế đạt 40 triệu sản phẩm quy chuẩn/năm.

4. Tình hình kinh doanh của Nhà máy năm 2014–2015 diễn biến như thế nào?

Năm 2014, Nhà máy kinh doanh thua lỗ với lợi nhuận âm –226.981 nghìn đồng. Sang năm 2015, lợi nhuận phục hồi lên 226.941,22 nghìn đồng (tăng tương ứng 1.941,2%). Nguyên nhân chủ yếu là doanh thu bán hàng tăng 46,78% trong khi giá vốn chỉ tăng 30,80%, dẫn đến lợi nhuận gộp tăng 167,35%. Tuy nhiên, chi phí tài chính (lãi vay) phát sinh 84.647 nghìn đồng đã làm giảm một phần lợi nhuận thuần.

5. Phương pháp xuất kho nguyên vật liệu tại Nhà máy là gì, và ai thực hiện việc tính toán?

Nhà máy áp dụng phương pháp bình quân gia quyền cuối kỳ. Công thức tính đơn giá bình quân xuất kho = (Trị giá NVL tồn đầu kỳ + Trị giá NVL nhập trong kỳ) / (Số lượng tồn đầu kỳ + Số lượng nhập trong kỳ). Việc tính toán này được phần mềm kế toán V6SOFTWARE (do Công ty TNHH MTV Xây Lắp An Giang cung cấp) tự động thực hiện vào cuối mỗi tháng khi thực hiện khóa sổ.


Kết luận

Chuyên đề tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Trần Khá trình bày có hệ thống lý luận về kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, đồng thời áp dụng vào thực tiễn tại Nhà máy Gạch Ngói Tunnel An Giang — một đơn vị sản xuất quy mô trung bình thuộc sở hữu nhà nước đang trong giai đoạn chuyển đổi mô hình. Điểm nổi bật về mặt thực tiễn là mô tả chi tiết cách nhà máy triển khai phương pháp phân bước tính giá thành tương ứng với hai giai đoạn sản xuất gạch mộc và gạch thành phẩm, đồng thời làm rõ lý do không phát sinh sản phẩm dở dang trong ngành sản xuất gạch ngói. Chuyên đề phù hợp làm tài liệu tham chiếu thực tế cho sinh viên ngành kế toán nghiên cứu kế toán chi phí trong doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng tại Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh áp dụng Thông tư 200/2014/TT-BTC.