Chương 1 của luận văn đã nêu rõ các nội dung, đặc điểm xuyên suốt và khái quát những vấn đề cơ bản nhất của đề tài. Thông qua việc trình bày tính cấp thiết của việc phải hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là nhằm kiểm soát chi phí, hạ giá thành sản phẩm, hỗ trợ nhà quản lý ra quyết định chính xác trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt. Với đề tài đã chọn, tác giả đã tìm hiểu những nghiên cứu đã có trước đây về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của một số tác giả khác, tìm ra một số nội dung cần phát triển sâu hơn. Thông qua chương này, luận văn nêu rõ được mục tiêu nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn.
Với mục tiêu đó, xác định câu hỏi nghiên cứu đưa ra cần giải quyết là tìm ra những nhân tố ảnh hưởng đến chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Giải quyết các câu hỏi nghiên cứu là quá trình đi tìm hiểu, thu thập dữ liệu phân tích vấn đề trên cơ sở phương pháp nghiên cứu cụ thể. Đề tài thực hiện trong phạm vi bộ phận kế toán Công ty cổ phần xây dựng Số 2 với những dữ liệu thực tế, kết cấu theo 4 chương. Với những nội dung như trên luận văn có ý nghĩa khái quát về mặt lý luận và chỉ ra các vấn đề thực tiễn để có kiến nghị, đề xuất hoàn thiện.
6 CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XẤY LẮP 2. Đặc điểm hoạt động xây lắp ảnh hưởng đến kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Do tính chất ngành XDCB là ngành sản xuất vật chất, có vai trò quan trọng trong việc xây dựng, cải tạo, đổi mới cơ sở hạ tầng nhưng sản phẩm lại mang những đặc điểm riêng biệt so với sản phẩm của các ngành sản khác. Vì vậy tổ chức hạch toán ở các doanh nghiệp kinh doanh xây lắp phải dựa trên những đặc điểm chính của nó.
Sản phẩm xây lắp có những đặc điểm sau: Sản phẩm xây lắp là các công trình hạng mục, công trình vật kiến trúc có quy mô lớn, kết cấu phức tạp mang tính đơn chiếc, thời gian thi công kéo dài và phân tán. Vì vậy trong khi tiến hành xây lắp, sản phẩm dự định đều phải qua các khâu từ dự án rồi đến dự toán công trình. Dự toán công trình là tổng mức chi phí cần thiết cho việc đầu tư công trình được tính toán cụ thể ở giai thiết kế kỹ thuật. Để đảm bảo việc quản lý từng công trình, nhất thiết phải lập dự toán thiết kế và dự toán thi công.
Điều này giúp cho các doanh nghiệp xây lắp có thể hạch toán tương đối chính xác giá trị công trình, từ đó lên kế hoạch về tài chính cũng như việc tổ chức kế toán quản trị, giám sát việc chi tiêu, tránh thất thoát lãng phí vốn đầu tư. Sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất, còn tất cả các điều kiện sản xuất như xe máy, lao động, vật tư. đều phải di chuyển theo địa điểm của công trình xây lắp. Đặc điểm này làm tăng chi phí di chuyển và công tác quản lý vật tư, con người sẽ gặp khó khăn.
Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp xây lắp phải tăng cường tính cơ động về mặt trang bị tài sản cố định sản xuất, lựa chọn các hình thức sản xuất kinh hoạt nhằm tối thiểu hóa chi phí. Trong quá trình thi công sẽ phát sinh chi phí điều động công nhân, điều động máy móc thiết bị, chi phí chuẩn bị mặt bằng, dọn mặt bằng tập kết vật liệu và máy thi công …nên kế toán phải theo dõi chi tiết, 7 chính xác các khoản chi phí này và phân bổ cho các đối tượng phù hợp để đảm bảo tính chặt chẽ và mang lại hiệu quả cao trong quản lý. Sản phẩm xây lắp hoàn thành không nhập kho mà lại tiêu thụ ngay theo giá dự toán (giá thanh toán với chủ đầu tư bên A) hoặc giá thoả thuận (cũng được xác định trên dự toán công trình), do đó tính chất hàng hoá của sản phẩm xây lắp không được thể hiện rõ. Thời gian sử dụng sản phẩm xây lắp lâu, đòi hỏi việc tổ chức quản lý và hạch toán phải chặt chẽ, đảm bảo chất lượng công trình vàt trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ bảo hành công trình.
Thông thường công tác xây lắp do các đơn vị kinh doanh xây lắp nhận thầu và chỉ được tiến hành sản xuất sau khi có đơn đặt hàng (hợp đồng giao thầu) của chủ đầu tư (người giao thầu, người mua sản phẩm) nên chi phí bỏ vào sản xuất thi công là khác nhau giữa các công trình. Công trình thi công ở các địa điểm khác nhau với điều kiện thi công khác nhau thì chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm của mỗi công trình cũng khác nhau nên kế toán phải tính chi phí giá thành và kết quả thi công cho từng công trình riêng biệt. Hoạt động xây lắp thường tiến hành ngoài trời, chịu tác động trực tiếp và ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên,do đó việc thi công xây lắp có tính thời vụ và có nhiều rủi ro làm phát sinh các khoản thiệt hại phải làm lại hoặc ngừng sản xuất, những khoản thiệt hại này đòi hỏi doanh nghiệp xây lắp phải hạch toán riêng, phải giám sát chặt chẽ và hạch toán phù hợp. Từ những đặc điểm trên đây, đòi hỏi công tác kế toán vừa phải đáp ứng những yêu cầu chung về chức năng, nhiệm vụ kế toán một Doanh nghiệp sản xuất vừa phải đảm bảo phù hợp đặc trưng riêng của ngành XDCB nhằm cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, cố vấn lãnh đạo cho việc tổ chức quản lý để đạt hiệu quả cao trong sản xuất - kinh doanh của Doanh nghiệp.
Yêu cầu và nhiệm vụ của công tác quản lý, hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong Doanh nghiệp xây dựng cơ bản. Yêu cầu quản lý đối với công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp. Như đã trình bày ở trên, sản xuất XDCB có những đặc thù riêng từ đó làm cho việc quản lý về XDCB khó khăn phức tạp hơn một số ngành khác. Chính lẽ đó, trong quá trình đầu tư, XDCB phải đáp cứng được các yêu cầu là :" Bảo đảm đúng mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thực hiện chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; Huy động và sử dụng có hiệu quả cao nhất các nguồn vốn đầu tư trong nước cũng như của nước nước ngoài đầu tư tại Việt Nam; khai thác tốt tài nguyên, tiềm năng lao động, đất đai và mọi tiềm lực khác đồng thời bảo vệ môi trường sinh thái, chống mọi hành vi tham ô, lãng phí trong hoạt động đầu tư và xây dựng; Xây dựng theo quy hoạch, kiến trúc và thiết kế kỹ thuật được duyệt, bảo đảm bền vững, mỹ quan. Thực hiện cạnh tranh trong xây dựng nhằm áp dụng công nghệ xây dựng tiến tiến, bảo đảm chất lượng và thời hạn xây dựng với chi phí hợp lý và thực hiện bảo hành công trình" (Trích Nghị định số 42/CP ngày 16/07/1996 của Chính phủ). Ở nước ta trong nhiều năm qua, do việc quản lý vốn đầu tư trong lĩnh vực XDCB chưa thật chặt chẽ đã để xảy ra tình trạng thất thoát vốn đầu tư và kéo theo đó là hàng loạt các hậu quả nghiêm trọng khác.Từ thực trạng đó, Nhà nước đã thực hiện quản lý xây dựng thông qua việc ban hành các chế độ, chính sách về giá, các nguyên tắc các phương pháp lập dự toán, các căn cứ định mức kinh tế- kỹ thuật. Từ đó xác định tổng mức vốn đầu tư, tổng dự toán công trình.nhằm hạn chế sự thất thoát vốn đầu tư của Nhà nước, nâng cao hiệu quả cho quá trình đầu tư.
Trong cơ chế thị trường hiện nay, mục tiêu hàng đầu của các Doanh nghiệp (DN) nói chung phải tăng cường quản lý kinh tế mà trước hết là quản lý chi phí sản xuất và tính giá sản phẩm. Nhiệm vụ của công tác quản lý hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp. Để đáp ứng được yêu cầu trên, kế toán ngành phải thực hiện các nhiệm vụ sau: - Tham gia vào việc lập dự toán chi phí sản xuất xây lắp trên nguyên tắc phân loại chi phí. - Xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm xây lắp.
- Tổ chức kế toán chi phí xây lắp theo đúng đối tượng và phương pháp đã xác định trên sổ kế toán. - Xác định đúng chi phí xây lắp dở dang làm căn cứ tính giá thành. - Thực hiện tính giá thành sản phẩm kịp thời, chính xác. - Phân tích tình hình thực hiện định mức chi phí và giá thành sản phẩm để có quyết định trước mắt cũng như lâu dài.
Bản chất và nội dung kinh tế của chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp. Bản chất và nội dung kinh tế của chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp Chi phí sản xuất XDCB là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hoá cùng các chi phí khác mà DN phải bỏ ra để tiến hành sản xuất trong một thời kỳ nhất định. Trong XDCB, chi phí sản xuất bao gồm nhiều loại có nội dung kinh tế, công dụng và yêu cầu quản lý đối với từng loại khác nhau. Việc quản lý chi phí, không chỉ dựa vào số liệu tổng hợp mà còn căn cứ vào số liệu cụ thể của từng loại chi phí theo từng công trình ( CT), hạng mục công trình ( HMCT).
Do đó, phân loại chi phí sản xuất là một yêu cầu tất yếu để hạch toán chính xác chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. 10 Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí. Theo cách phân loại này các chi phí nội dung, tính chất kinh tế giống nhau được xếp vào một yếu tố, không phân biệt chi phí đó phát sinh trong lĩnh vực nào, ở đâu, mục đích và tác dụng của chi phí đó như thế nào. Theo cách phân loại này chi phí sản xuất được chia thành các yếu tố sau đây.