phần mở đầu, kết luận, bố cục của bài khóa luận tốt nghiệp có bố cục gồm bốn chƣơng chính với tiêu đề nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp Chƣơng 2: Cơ sở lý luận về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các DNXL Chƣơng 3: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm công trình đƣờng giao thông nông thôn xã Thanh Quân tại Công ty Cổ phần Đầu tƣ Xây lắp Và Dịch vụ Nam Cƣờng. Chƣơng 4: Một số giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công trình đƣờng giao thông nông thôn xã Thanh Quân tại Công ty Cổ phần Đầu tƣ Xây lắp Và Dịch vụ Nam Cƣờng 9 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NHIÊN CỨU KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu. Thời gian vừa qua, đã có rất nhiều công trình trong nƣớc và ngoài nƣớc nghiên cứu về đề tài kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành.
Đặc biệt, các đề tài đƣợc nghiên cứu trong doanh nghiệp xây dựng XDCB nói chung và doanh nghiệp xây lắp nói riêng cũng ngày càng đa dạng. Qua tìm đƣợc cụ thể đã có một công trình nghiên cứu về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm mang giá trị cao cả về mặt lý luận, có ý nghĩa thực tiễn nhƣ sau: Một là, Luận văn thạc sĩ : “Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Xây dựng Đại Quang Minh” năm 2016 của tác giả Nguyễn Hữu Nam: - Về đối tƣợng nghiên cứu: Kế toán chi phí sản xuất và và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Xây dựng Đại Quang Minh - Về kết quả nghiên cứu: Đề tài đã tìm hiểu thực tế công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại công ty, rút ra đƣợc những ƣu, nhƣợc điểm trong công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty đối với việc cung cáp thông tin cho nhà quản trị. * Trong nghiên cứu, tác giả đã chỉ ra các mặt hạn chế trong kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phầm như: Thứ nhất: Do sản phẩm xây lắp là cố định tại nơi sản xuất còn các điều kiện sản xuất nhƣ lao động, máy móc. phải di chuyển theo địa điểm đặt công trình, từ đó mà công tác quản lý, sử dụng, hạch toán vật tƣ, tài sản cũng trở nên phức tạp.
Quá trình luân chuyển chứng từ từ khi phát sinh đến khi kế toán thu thập đƣợc và lên sổ là khoảng thời gian không phải là ngắn. Sỡ dĩ do có sự cách biệt về địa lý giữa nơi phát sinh chi phí (công trƣờng thi công) và nơi tổng hợp chi phí để lên sổ (phòng kế toán). 10 Thứ hai: Cuối kỳ hạch toán, kế toán đã không kiểm kê lại vật tƣ còn lại, dễ gây thất thoát vật tƣ. Đối tƣợng tính giá thành là những công trình, hạng mục công trình, có lúc để kịp thời gian báo cáo, việc xác định đƣợc chi phí phát sinh diễn ra gấp gáp nên kết quả chƣa đƣợc chính xác.
Thứ ba: Về tổ chức bộ máy kế toán: Công ty sử dụng kế toán trên máy vi tính nhƣng chƣa sử dụng phần mềm. Tuy nhiên việc sử dụng nhƣ vậy còn nhiều bất cập, chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu về cập nhật và xử lý thông tin. Thứ tư: Do đặc điểm sản xuất của ngành, Công ty có khối lƣợng công nhân lớn, bộ máy quản lý nhỏ nên việc quản lý toàn diện các công việc không đƣợc đảm bảo. Mặt khác, công ty phải thƣờng xuyên thuê lao động bên ngoài.
Hầu hết những lao động này là lao động thời vụ có trình độ chuyên môn và tay nghề thấp do không đƣợc đào tạo, nên việc đảm bảo kỹ thuật thi công là không tốt và có thể kéo dài thời gian thi công của công trình. Thứ năm: Máy thi công của Công ty sẽ đƣợc điều động khi có công trình, nhƣng có những công trình thi công ở xa, Công ty sẽ phải thuê máy thi công ngoài. Chi phí thuê máy biến động lên xuống theo giá cả thị trƣờng , có thể sẽ không thuê đƣợc máy do chi phí cao, làm giảm tiến độ thi công. * Nghiên cứu đã đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện kế chi phí sản xuất và tính giá thành tại đơn vị như sau: Thứ nhất: Với điều kiện thực tế hiện nay, để đẩy nhanh công tác hoàn thiện các thủ tục, hồ sơ, chứng từ nhƣ về công nợ, quyết toán khối lƣợng hoàn thành.thì bộ phận kế toán cần phải kết hợp chặt chẽ hơn nữa với các tổ đội thi công và các phòng ban chức năng của Công ty.
Điều này sẽ giúp cho công tác kế toán đƣợc thực hiện kịp thời theo đúng thời gian nhằm tránh công việc dồn nén dễ tạo ra kết quả thiếu chính xác. Thứ hai: Để tránh việc thất lạc, thất thoát hoặc chậm trễ chứng từ, công ty cần có những biện pháp chặt chẽ khâu luân chuyển chứng từ nội bộ nhƣng vẫn đảm bảo tuần tự và phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận để kịp thời cung cấp chứng từ cho kế toán. 11 Thứ ba: Trong xu thế của nền kinh tế thị trƣờng với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt thì đòi hỏi các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp xây lắp nói riêng phải không ngừng cải tiến phƣơng pháp hoạt động của mình để có thể hội nhập với tốc độ phát triển của toàn cầu. Do đó, Công ty nên áp dụng phần mềm kế toán máy vào công tác kế toán, nhằm làm giảm nhẹ công việc cho nhân viên kế toán trong Công ty.
Hiện nay trên thị trƣờng có nhiều phần mềm kế toán mà Công ty có thể tham khảo để lựa chọn nhƣ: Vas, Fast, Misa, Vacom. Đồng thời, Công ty nên thuê tƣ vấn nâng cao tính năng, phát huy thêm các tác dụng của phần mềm kế toán, có những thay đổi phù hợp với chế độ, hệ thống sổ sách kế toán. Thứ tư: Vật tƣ chiếm tỷ trọng lớn nhất trong giá thành nên việc quản lý chặt chẽ chi phí vật tƣ là rất cần thiết. Tại mỗi công trình, Công ty có bố trí thủ kho, nhân viên kế toán.
Vì vậy, Công ty nên tận dụng lực lƣợng lao động này để tổ chức hạch toán chặt chẽ hơn nữa quá trình nhập vật tƣ về công trƣờng và quá trình xuất vật tƣ cho thi công để làm sao tránh đƣợc sử dụng lãng phí, vừa đảm bảo đƣợc chất lƣợng công trình. Vì vậy, kế toán nên kiểm kê số vật tƣ còn lại tại chân công trình để kiểm tra đƣợc định mức sử dụng vật tƣ, đồng thời ghi giảm chi phí, đảm bảo tính phù hợp chính xác của giá trị sản phẩm dở dang cũng nhƣ giá thành công trình trong kỳ hạch toán (chi phí và giá thành của toàn bộ công trình hoàn thành không thay đổi nhiều). Thứ năm: Công ty nên đầu tƣ, trang bị thêm máy móc thiết bị tiên tiến hiện đại để hạn chế bớt việc thuê ngoài. Nó sẽ tạo điều kiện chủ động trong thi công công trình, tránh hiện tƣợng phụ thuộc vào sự lên xuống thất thƣờng của giá cả thị trƣờng.
Mặt khác, việc đầu tƣ vào những tài sản lớn có giá trị tạo cơ hội trong cạnh tranh, đấu thầu và có thể vay cũng nhƣ chiếm dụng đƣợc những khoản vốn lớn khi có tài sản đảm bảo.Việc theo dõi chấm công cho tổ máy thi công chƣa hợp lý, vì trong sản xuất không phải lúc nào máy thi công cũng hoạt động. Ngoài ra, cùng một máy thi công cùng một kỳ có thể tham gia thi công ở nhiều công trƣờng. Do đó, nên theo dõi hoạt động của máy thi công để làm cơ 12 sở tính lƣơng cho công nhân điều khiển máy thi công và tính khấu hao cho máy chính xác, hợp lý. Hai là, khóa luận tốt nghiệp: “Hoàn thiện chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của Công ty cổ phần Xi măng Bỉm Sơn” năm 2015 tác giả Lê Thu Hà: - Về đối tƣợng nghiên cứu: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần Xi măng Bỉm Sơn.
- Về kết quả nghiên cứu: Đề tài đã hệ thống những lý luận chung về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất và vận dụng những lý luận đó vào thực tiễn để tìm hiểu và đánh giá thực trạng kế toán cho Công ty CP Xi măng Bỉm Sơn, từ đó tìm ra giải pháp phù hợp nhất để hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty. * Trong nghiên cứu, tác giả đã chỉ ra các mặt hạn chế trong kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phầm như: Thứ nhất: Bộ máy kế toán giản đơn. Đối với một doanh nghiệp có bộ máy kế toán giản đơn, lƣợng nhân viên trong bộ máy kế toán ít sẽ làm cho khối lƣợng công việc của một kế toán nhiều, trách nhiệm đối với công việc cao, làm cho áp lực công việc đối với kế toán viên cao hơn, điều đó làm cho hiệu quả công việc kém. Khả năng thu thập số liệu có thể sẽ không kịp thời.
Công việc trong hệ thống kế toán chƣa đƣợc phân công rõ ràng cho từng ngƣời, một ngƣời còn kiêm nhiều công việc, bao gồm cả công việc liên quan tới kinh doanh của công ty. Thứ hai: Việc luân chuyển chứng từ. Do có nhiều công trình phải thi công lắp đặt ở xa công ty nên khi có các chứng từ phát sinh không chuyển về cho kế toán kịp thời, làm cho việc cập nhật chứng từ bị chậm trễ. Nhiều khi các chứng từ đến cuối tháng mới đƣợc chuyển về tới công ty.
Điều này dẫn đến công việc ở phòng kế toán sẽ dồn hết vào cuối tháng dễ gây ra sai sót, nhầm lẫn về số liệu, gây ảnh hƣởng lớn đến việc cung cấp thông tin, tập 13 hợp số liệu và quản lý chi phí. Trong khi đó vào các thời điểm khác trong tháng công việc không nhiều, việc sử dụng nhân viên sẽ không đạt hiệu quả cao. Thứ ba: Kế hoạch thu mua, dự trữ, bảo quản nguyên vật liệu. - Về khâu thu mua: Khi có yêu cầu của tổ sản xuất về nguyên vật liệu thì công ty mới thực hiện nhập nguyên vật liệu nhƣ vậy sẽ rất bất cập và không đáp ứng kịp thời cho quá trình sản xuất, thi công công trình.