CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN DOANH THU CUNG CẤP DỊCH VỤ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH 1.1 Các khái niệm cơ bản, đặc điểm và nhiệm vụ kế toán cung cấp dịch vụ trong doanh nghiệp dịch vụ Hoạt động sản xuất của con người là hoạt động tự giác có ý thức và có mục đích, được lặp đi lặp lại và không ngừng được đổi mới, hình thành quá trình tái sản xuất xã hội, gồm các giai đoạn: sản xuất - lưu thông - phân phối - tiêu dùng. Các giai đoạn này diễn ra một cách tuần tự và tiêu thụ là khâu cuối cùng quyết định đến sự thành công hay thất bại của một doanh nghiệp. Tiêu thụ hay kinh doanh là quá trình chuyển hoá vốn từ hình thái hiện vật sang hình thái giá trị "tiền tệ" và hình thành kết quả kinh doanh. Doanh nghiệp với tư cách là người cung cấp dịch vụ phải chuyển giao sản phẩm cho người mua theo đúng các điều khoản quy định trong hợp đồng kinh tế đã ký giữa hai bên.
Quá trình cung cấp dịch vụ được coi là kết thúc khi đã hoàn tất việc giao hàng và bên mua đã trả tiền hoặc chấp nhận thanh toán cho số sản phẩm hàng hoá đó. Doanh thu cung cấp dịch vụ là một chỉtiêu quan trọng đối với công ty thương mại, dịch vụ. Chỉ tiêu doanh thu cung cấp cho các nhà quản lý doanh nghiệp những căn cứ đánh giá một cách khái quát kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định để từ đó đưa ra quyết định đúng đắn.1 Khái niệm về dịch vụ Có nhiều định nghĩa khác nhau về dịch vụ. Nhưng nhìn chung các định nghĩa đều thống nhất dịch vụ là sản phẩm của lao động, không tồn tại dưới dạng vật thể, quá trình sản xuất và tiêu thụ xảy ra đồng thời, nhằm đáp ứng nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng.
Theo Philip Kotler: “Dịch vụ là bất kỳ hoạt động hay lợi ích nào mà chủ thể này có thể cung cấp cho chủ thể kia. Trong đó đối tượng cung cấp nhất định phải mang tính vô hình và không dẫn đến bất kỳ quyển sở hữu một vật nào cả. Còn việc sản xuất dịch vụ có thể hoặc không cần gắn liền với một sản phẩm vật chất nào”. Trong kinh tế học: Dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng là phi vật chất.
Có những sản phẩm thiên về sản phẩm hữu hình và những sản phẩm thiên về sản phẩm dịch vụ, tuy nhiên đa số là những sản phẩm nằm trong 5 khoảng giữa sản phẩm hàng hóa, dịch vụ. Như vậy, có thể thấy bản chất của dịch vụ như sau: - Là quá trình vận hành các hoạt động, hành vi dựa vào các yếu tố vô hình nhằm giải quyết các mối quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng. - Gắn liền với hiệu suất/ thành tích bởi mỗi dịch vụ đều gắn với mục tiêu là mang lại giá trị nào đó cho người tiêu dùng. Hiệu suất ở đây chính là những tiện ích, giá trị và giá trị gia tăng mà khách hàng nhận được sau khi sử dụng dịch vụ.
- Là một quá trình, nó diễn ra theo một trình tự nhất định bao gồm nhiều giai đoạn, nhiều bước khác nhau. Trong mỗi giai đoạn đôi khi sẽ có thêm nhiều dịch vụ phụ, dịch vụ cộng thêm 1.2 Khái niệm về xác định kết quả kinh doanh Kết quả kinh doanh là kết quả cuối cùng của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định được biểu hiện bằng số tiền lãi hay lỗ. Xác định kết quả kinh doanh là việc so sánh giữa chi phi đã bỏ ra và doanh thu đã thu về trong kỳ. Nếu doanh thu lớn hơn chi phí thì kết quả kinh doanh là lãi và ngược lại, nếu doanh thu nhỏ hơn chi phí thì kết quả là lỗ.
Việc xác định kết quả kinh doanh được tiến hành vào cuối kỳ kinh doanh thường là cuối tháng, cuối quý hay cuối năm là tùy thuộc vào từng đặc điểm kinh doanh và yêu cầu quản lý của từng doanh nghiệp.3 Đặc điểm của hoạt động kinh doanh dịch vụ Trong bối cảnh đa phương hóa, toàn cầu hóa như hiện nay, dịch vụ đang là một trong những ngành kinh doanh được kỳ vọng sẽ phát triển nhanh chóng trong tương lai. Khác với hàng hóa, vật chất thì dịch vụ có những đặc điểm riêng biệt đòi hỏi công tác kế toán phải chặt chẽ, linh hoạt. *Đặc điểm của dịch vụ: -Tính vô hình: Điều này được thể hiện ở chỗ người ta không thể nào dùng các giác quan để cảm nhận được các tính chất cơ lý hóa của dịch vụ. -Tính không thể tách rời: Dịch vụ thường được cung ứng và tiêu dùng một cách đồng thời, khác với hàng hoá vật chất thường phải sản xuất ra rồi nhập kho, phân phối qua nhiều nấc trung gian, rồi sau đó mới đến tay người tiêu dùng cuối cùng.
6 -Tính không đồng nhất: Rất khó để có một tiêu chuẩn chung nào để đánh giá được chất lượng của dịch vụ. -Tính không thể cất trữ: Dịch vụ chỉ tồn tại vào thời gian mà nó được cung cấp. Do vậy, DV không thể sản xuất hàng loạt để cất vào kho dự trữ, khi có nhu cầu thị trường thì đem ra bán -Tính không chuyển quyền sở hữu được: Khi mua một hàng hoá, khách hàng được chuyển quyền sở hữu và trở thành chủ sở hữu hàng hoá mình đã mua. Khi mua DV thì khách hàng chỉ được quyền sử dụng DV, được hưởng lợi ích mà DV mang lại trong một thời gian nhất định mà thôi.
*Đặc điểm của hoạt động kinh doanh dịch vụ: - Kinh doanh dịch vụ thường bao gồm nhiều ngành nghề khác nhau như: kinh doanh lữ hành, kinh doanh lưu trú, kinh doanh vận tải, kinh doanh dịch vụ giáo dục v.v - Đối tượng phục vụ của ngành dịch vụ thường không ổn định và biến đổi rất phức tạp, tổ chức hoạt động dịch vụ cũng phân tán và nhỏ lẻ. Do đó đòi hỏi công tác kế toán doanh thu tại các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ không những phải rất chặt chẽ mà còn linh động, phù hợp với đặc thù của từng đơn vị. *Các phương thức cung cấp dịch vụ trong doanh nghiệp - Phương thức cung ứng dịch vụ nội địa Cung ứng dịch vụ nội địa là phương thức CCDV phổ biến nhất trong các doanh nghiệp dịch vụ hiện nay khi các dịch vụ được cung ứng và thực hiện ngay cho các khách hàng trong nước. Đặc điểm của CCDV nội địa là dịch vụ được luân chuyển ngay trong nước, thời gian luân chuyển nhanh và trình tự kế toán không quá phức tạp.
Dịch vụ thường được cung cấp với giá trị không quá lớn, giá bán biến động tùy thuộc vào khối lượng dịch vụ và phương thức thanh toán. Trong CCDV nội địa thường gồm các phương thức sau: + Cung cấp dịch vụ trực tiếp: theo hình thức này, dịch vụ được DN giao bán trực tiếp cho khách hàng tại địa điểm và phương thức thanh toán do hai bên thỏa thuận. Dịch vụ được cung cấp một lần duy nhất, sau khi CCDV cho khách hàng, đại diện 7 khách hàng sẽ ký nhận vào chứng từ bán hàng và quyền sở hữu hoặc kiểm soát dịch vụ được chuyển giao cho khách hàng. Khi đó, dịch vụ được xác định là đã tiêu thụ.
+ Cung cấp dịch vụ nhiều kỳ: hình thức này thường được sử dụng đối với những dịch vụ có giá trị lớn, dịch vụ gồm nhiều giai đoạn mới hoàn thành như dịch vụ chuyển giao công nghệ nghiên cứu, dịch vụ bảo hiểm tử kỳ, dịch vụ bảo trì, bảo dưỡng hệ thống công nghệ thông tin, quản trị mạng v. Theo hình thức này, dịch vụ được cung cấp nhiều lần theo định kỳ hoặc có biến động về thời điểm cung cấp, qua nhiều kỳ kế toán mới hoàn thành và thực hiện đầy đủ giá trị. + Cung cấp dịch vụ theo phương thức trả chậm, trả góp: dịch vụ trả chậm, trả góp là một hình thức mua bán, giao dịch giữa nhà CCDV và các khách hàng tham gia sử dụng dịch vụ. Phương thức này thường được các DN sử dụng khi cung cấp các loại dịch vụ có giá trị rất lớn, có tính rủi ro cao hoặc cung cấp cho các đối tượng là khách hàng có uy tín, khách hàng quen thuộc lâu năm của doanh nghiệp.
- Phương thức cung cấp dịch vụ ra nước ngoài Là phương thức CCDV ra bên ngoài lãnh thổ của DN. Dịch vụ được coi là cung cấp ngoài lãnh thổ trong những trường hợp sau: Dịch vụ xuất cho thương nhân nước ngoài theo hợp đồng đã ký kết; dịch vụ được triển lãm sau đó bán thu bằng ngoại tệ; dịch vụ cung cấp cho du khách nước ngoài, Việt kiều thu bằng ngoại tệ; dịch vụ cung cấp cho nước ngoài thông qua các hiệp định thương mại, nhân đạo, cứu trợ v.v Đặc điểm nổi bật của phương thức này là chịu ảnh hưởng nhiều từ điều kiện địa lý, phương tiện vận chuyển, điều kiện và phương thức thanh toán trong từng thời kỳ. *Các phương thức thanh toán - Phương thức thanh toán ngay Là phương thức thanh toán mà quyền sở hữu về tiền tệ sẽ được chuyển từ người mua sang người CCDV ngay sau khi quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát dịch vụ bị chuyển giao. Thanh toán trực tiếp có thể bằng tiền mặt, séc, thanh toán qua ngân 8 hàng, ủy nhiệm chi hoặc có thể bằng hàng hóa.
Ở hình thức này, sự vận động của dịch vụ gắn liền với sự vận động của tiền tệ. -Phương thức thanh toán yêu cầu tạm ứng Nhà cung cấp sẽ yêu cầu khách hàng ứng trước một khoản tiển và khách hàng sẽ thanh toán nốt phần giá trị còn lại của hợp đồng sau khi nhà cung cấp hoàn thành xong đơn hàng cho khách hàng -Phương thức thanh toán yêu cầu tạm ứng Nhà cung cấp sẽ yêu cầu khách hàng ứng trước một khoản tiển và khách hàng sẽ thanh toán nốt phần giá trị còn lại của hợp đồng sau khi nhà cung cấp hoàn thành xong đơn hàng cho khách hàng -Phương thức thanh toán chậm trả Là phương thức thanh toán mà quyền sở hữu về tiền tệ sẽ được chuyển giao sau một khoảng thời gian so với thời điểm chuyển quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát về dịch vụ, do đó hình thành khoản công nợ phải thu của khách hàng. Ở hình thức này, sự vận động của dịch vụ và tiền tệ có khoảng cách về không gian và thời gian 1.2 Vai trò, nhiệm vụ của kế toán doanh thu cung cấp dịch vụ và xác định kết quả kinh doanh Cung cấp dịch vụ là khâu cuối cùng quan trọng trong doanh nghiệp dịch vụ, có vai trò quyết định tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.