Tổng quan nghiên cứu

Đầu tư cho khoa học và công nghệ tại Việt Nam năm 2006 chỉ đạt khoảng 1,3 tỷ USD, mức kinh phí rất khiêm tốn khi đặt cạnh 343,74 tỷ USD của Mỹ hay 130,74 tỷ USD của Nhật Bản. Thậm chí trong giai đoạn 2002 - 2005, tổng nguồn vốn ngân sách nhà nước chi cho lĩnh vực này trên cả nước chỉ đạt khoảng 1 tỷ USD, thấp hơn đáng kể so với mức đầu tư 3,2 tỷ USD của riêng một tập đoàn công nghệ nước ngoài. Trước bối cảnh tội phạm công nghệ cao gia tăng với nhiều thủ đoạn tinh vi, lực lượng Công an nhân dân đứng trước bài toán cấp bách về sự thiếu hụt trang thiết bị và cơ sở kỹ thuật hiện đại. Việc trông chờ hoàn toàn vào ngân sách nhà nước cấp hàng năm không thể đáp ứng kịp thời yêu cầu thực tiễn chiến đấu, đòi hỏi phải nhanh chóng thiết lập cơ chế xây dựng kế hoạch huy động tiềm lực khoa học và công nghệ từ toàn xã hội theo tinh thần Nghị định số 169/2007/NĐ-CP.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là luận giải toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn công tác lập kế hoạch huy động tiềm lực khoa học và công nghệ tại Cục Quản lý Khoa học Công nghệ và Môi trường (Cục H46), trực thuộc Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật (Tổng cục IV - Bộ Công an). Phạm vi nghiên cứu tập trung phân tích nguồn dữ liệu thực tế giai đoạn 2008 - 2012 tại Cục H46 và Công an các đơn vị địa phương trên địa bàn 63 tỉnh, thành phố; qua đó xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng lập kế hoạch cho giai đoạn 2015 - 2020. Về mặt giá trị thực tiễn, công trình tạo tiền đề vững chắc cho việc quản lý và phân bổ hiệu quả tổng dự toán 180 tỷ đồng trong kế hoạch trung hạn 2011 - 2015, từng bước nâng tỷ lệ triển khai thành công các nhiệm vụ huy động từ mức 58,3% ở giai đoạn thí điểm lên mức 100%, bảo đảm vững chắc an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng kết hợp hai hệ thống lý thuyết nền tảng gồm Lý thuyết quản lý khoa học và công nghệ và Lý thuyết kế hoạch hóa nguồn lực công vụ. Đề tài tiếp cận mô hình chu trình kế hoạch hóa khoa học và công nghệ gắn kết chặt chẽ ba yếu tố: nhu cầu tác chiến thực tế của lực lượng vũ trang, nguồn tiềm lực công nghệ sẵn có trong xã hội và hành lang pháp lý điều chỉnh.

Khung lý thuyết của luận văn làm rõ 4 khái niệm khoa học trọng tâm:

  • Khoa học: Hệ thống tri thức về các hiện tượng, quy luật khách quan của tự nhiên, xã hội và tư duy đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn.
  • Công nghệ: Tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết và phương tiện dùng để chuyển hóa các nguồn lực thành sản phẩm hoàn chỉnh.
  • Tiềm lực khoa học và công nghệ phục vụ công tác công an: Toàn bộ khả năng về nhân lực, tổ chức, tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật, thông tin dữ liệu và thành tựu công nghệ ngoài ngành có thể huy động nhằm giải quyết các nhiệm vụ an ninh trật tự.
  • Kế hoạch huy động tiềm lực khoa học và công nghệ: Công cụ quản trị xác định mục tiêu, đối tượng, phương thức (bắt buộc, thỏa thuận, tự nguyện), thẩm quyền và lộ trình phân bổ nguồn lực theo quy chuẩn pháp lý.

Phương pháp nghiên cứu

Khảo sát được thực hiện trên cỡ mẫu toàn diện tại Cục H46 và mẫu phân tầng có chủ đích đối với các Tổng cục, Bộ Tư lệnh cùng Công an 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tham gia dự án Điều tra cơ bản theo Quyết định số 2154/2008/QĐ-BCA-E11. Phương pháp chọn mẫu này bảo đảm thu thập đầy đủ dữ liệu đại diện cho mọi địa bàn tác chiến trọng yếu.

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm hệ thống 15 văn bản quy phạm pháp luật nền tảng (Nghị định 169/2007/NĐ-CP, Thông tư liên tịch 05/2008/TTLT-BCA-BKHCN-BTC, Thông tư liên tịch 03/2009/TTLT-BCA-BLDTBXH-BNV-BTC, Kế hoạch số 57/KH-BCA-E11) cùng báo cáo tài chính của dự án Điều tra cơ bản với tổng kinh phí 7.500 triệu đồng. Nghiên cứu kết hợp phương pháp tổng hợp tài liệu, thống kê mô tả định lượng và phân tích logic định tính. Việc lựa chọn phương pháp này giúp chỉ rõ các nút thắt trong thủ tục phân bổ ngân sách giữa nguồn chi an ninh thường xuyên và chi sự nghiệp khoa học công nghệ. Tiến trình nghiên cứu diễn ra qua 2 giai đoạn từ tháng 4/2008 đến tháng 10/2010 và tổng hợp dữ liệu hoàn thiện trong giai đoạn 2011 - 2012.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu nhu cầu đăng ký huy động bộc lộ sự mất cân đối lớn. Khoảng 100% Công an các đơn vị địa phương đề xuất tập trung vào cơ sở vật chất kỹ thuật phần cứng (viễn thông, cơ yếu, tin học), trong khi nhu cầu tiếp nhận chuyển giao thành tựu khoa học và nguồn tin dữ liệu chuyên sâu chiếm tỷ lệ dưới 5%.

Thứ hai, việc triển khai thí điểm mang lại hiệu quả tác chiến đột phá. Trong năm 2010, Bộ Công an đã thực hiện thành công 7 trên tổng số 12 nhiệm vụ huy động theo kế hoạch (đạt tỷ lệ 58,3%). Điển hình là việc huy động Công ty HTI chuyển đổi hệ thống giám sát Internet Telephone phục vụ đơn vị A70 giải quyết kịp thời điểm nóng an ninh trật tự tại Mường Nhé - Điện Biên; huy động Bộ môn Truyền thông và Mạng máy tính thuộc Đại học Bách khoa Hà Nội xây dựng giải pháp phục hồi dữ liệu cho đơn vị A71, giúp tăng năng lực thu thập tài liệu nghiệp vụ qua hệ thống BP5 lên 6.000 lần so với trước đó.

Thứ ba, sự thiếu đồng bộ về cơ chế tài chính tạo điểm nghẽn nghiêm trọng. Tổng dự toán kế hoạch giai đoạn 2011 - 2015 được duyệt là 180 tỷ đồng, gồm nguồn chi an ninh thường xuyên 131.800 triệu đồng (chiếm 73,2%) và chi sự nghiệp khoa học công nghệ 48.200 triệu đồng (chiếm 26,8%). Tuy nhiên, năm 2011 kế hoạch đạt 0% do vướng mắc thủ tục liên bộ; sang năm 2012, trong tổng số 16.965 triệu đồng dự toán cho 24 nhiệm vụ, thực tế ban đầu chỉ kịp giải ngân 1.800 triệu đồng cho 5 nhiệm vụ thuộc khối cơ quan Bộ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các hạn chế bắt nguồn từ khoảng trễ ban hành thể chế: Nghị định 169 ban hành cuối năm 2007 nhưng phải mất 17 tháng (đến tháng 4/2009) hệ thống Thông tư liên tịch hướng dẫn mới hoàn tất. Cùng với đó, 63 đơn vị địa phương đều thiếu vắng cán bộ chuyên trách công tác khoa học công nghệ, trong khi thủ tục thanh quyết toán tài chính phải qua nhiều khâu trung gian theo Luật Ngân sách nhà nước.

Dữ liệu phân bổ ngân sách 180 tỷ đồng giai đoạn 2011 - 2015 có thể được mô hình hóa trực quan qua biểu đồ cột chồng (Stacked Bar Chart) thể hiện tỷ trọng 73,2% nguồn an ninh thường xuyên và 26,8% sự nghiệp khoa học công nghệ theo từng năm. Tương tự, bức tranh nhu cầu của 63 tỉnh thành được khái quát qua bảng ma trận 8 lĩnh vực chuyên môn (viễn thông, cơ yếu, tin học, vũ khí công cụ, kỹ thuật hình sự, quản lý trật tự, y tế, sản xuất chuyên dụng) tương ứng với 4 nhóm tài nguyên huy động. Kết quả này chứng minh rằng việc xây dựng kế hoạch huy động bài bản giúp tiết kiệm từ 40% đến 60% chi phí mua sắm thiết bị mới và rút ngắn 50% thời gian nghiên cứu tự chủ công nghệ.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Chuẩn hóa quy trình lập dự toán và phân bổ ngân sách: Bộ Công an cần phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành quy chế phối hợp liên ngành trước ngày 15/7 hàng năm, phấn đấu đưa tỷ lệ giải ngân kinh phí đạt từ 95% đến 100% trên tổng dự toán 180 tỷ đồng trong kế hoạch trung hạn.
  2. Xây dựng và số hóa cơ sở dữ liệu quốc gia về tiềm lực công nghệ: Cục H46 chủ trì chuyển đổi toàn bộ dữ liệu của dự án Điều tra cơ bản (ngân sách 7.500 triệu đồng) lên hệ thống máy chủ nghiệp vụ trước quý 4 năm 2016, quản lý hồ sơ của hơn 1.000 chuyên gia đầu ngành và 500 tổ chức khoa học sẵn sàng huy động.
  3. Kiện toàn tổ chức bộ máy và đào tạo nhân lực chuyên trách: Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật triển khai đề án đào tạo nghiệp vụ quản lý khoa học, bảo đảm 100% Công an 63 tỉnh, thành phố bố trí tối thiểu 02 cán bộ chuyên trách trước tháng 12 năm 2017.
  4. Chuyển dịch cơ cấu nhiệm vụ sang công nghệ cao và thành tựu trí tuệ: Lực lượng Công an toàn quốc chuyển đổi định hướng, nâng tỷ trọng các nhiệm vụ huy động chuyển giao công nghệ, bản quyền phần mềm phân tích và ngân hàng dữ liệu gen hình sự từ dưới 5% hiện nay lên mức tối thiểu 30% trong giai đoạn 2015 - 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Lãnh đạo và cán bộ hoạch định chiến lược tại Bộ Công an và Bộ Quốc phòng: Tiếp cận phương pháp luận lập kế hoạch trung hạn 5 năm, tối ưu hóa ngân sách quốc phòng - an ninh và chủ động phương án xử lý các tình huống đột xuất.
  2. Cán bộ tham mưu kế hoạch tại Công an 63 tỉnh, thành phố: Nắm vững quy trình 3 bước lập hồ sơ, phương pháp khảo sát thực địa và kỹ năng phối hợp với các Sở, Ban, Ngành địa phương nhằm huy động hạ tầng kỹ thuật sẵn có.
  3. Các viện nghiên cứu, trường đại học kỹ thuật và doanh nghiệp công nghệ: Nhận diện nhu cầu thực tế của 8 lĩnh vực an ninh chuyên dụng, mở ra cơ hội hợp tác nghiên cứu phát triển và thương mại hóa sản phẩm khoa học phục vụ xã hội.
  4. Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý KH&CN: Sử dụng hệ thống tài liệu pháp lý và bộ dữ liệu khảo sát thực chứng giai đoạn 2008 - 2012 làm tiền đề phát triển các đề tài nghiên cứu chính sách quản trị công.

Câu hỏi thường gặp

Nghị định số 169/2007/NĐ-CP quy định những phương thức huy động tiềm lực khoa học và công nghệ nào? Nghị định quy định 3 phương thức gồm bắt buộc, thỏa thuận và tự nguyện. Phương thức bắt buộc áp dụng khi xuất hiện nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia theo Điều 21 Luật An ninh quốc gia. Phương thức thỏa thuận và tự nguyện là hình thức chủ yếu, triển khai theo kế hoạch được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt với tổng dự toán 180 tỷ đồng.

Tại sao kế hoạch huy động tiềm lực khoa học công nghệ năm 2011 không thể triển khai? Kế hoạch năm 2011 bị đình trệ do vướng mắc thủ tục phân bổ ngân sách giữa Bộ Công an, Bộ Tài chính và Bộ Khoa học và Công nghệ khi Kế hoạch trung hạn 2011 - 2015 chưa được phê duyệt kịp thời. Điều này dẫn đến việc đơn vị đầu mối tài chính không thể bố trí nguồn kinh phí thực hiện.

Những lĩnh vực kỹ thuật nào được Công an các đơn vị địa phương ưu tiên huy động nhiều nhất? Khoảng 80% nhu cầu tập trung vào viễn thông, cơ yếu và công nghệ thông tin. Các phương tiện như máy vô tuyến, trạm thông tin vệ tinh, công cụ giải mã và thiết bị giám sát an ninh luôn được ưu tiên hàng đầu, tiêu biểu là giải pháp phần mềm khôi phục dữ liệu giúp tăng 6.000 lần hiệu suất thu thập tin.

Cơ cấu nguồn kinh phí thực hiện kế hoạch huy động giai đoạn 2011 - 2015 được phân bổ như thế nào? Tổng nguồn vốn 180 tỷ đồng được cấu thành từ hai nguồn: chi an ninh thường xuyên là 131.800 triệu đồng (chiếm tỷ trọng 73,2%) và chi sự nghiệp khoa học công nghệ là 48.200 triệu đồng (chiếm tỷ trọng 26,8%).

Luận văn đóng góp giải pháp đột phá nào cho giai đoạn 2015 - 2020? Luận văn đề xuất chuẩn hóa quy trình lập kế hoạch 3 bước, số hóa dữ liệu điều tra cơ bản tại 63 tỉnh thành với kinh phí 7.500 triệu đồng và chuyển hướng mạnh mẽ từ huy động máy móc sang huy động chuyên gia giỏi và chuyển giao công nghệ cao.

Kết luận

  • Hệ thống hóa hoàn chỉnh cơ sở lý luận về quản lý và kế hoạch hóa tiềm lực khoa học và công nghệ phục vụ công tác an ninh theo Nghị định 169/2007/NĐ-CP.
  • Đánh giá thực chứng kết quả giai đoạn thí điểm 2008 - 2012 với 7 nhiệm vụ thành công và làm rõ nút thắt tài chính trong kế hoạch 180 tỷ đồng.
  • Định hình bức tranh nhu cầu công nghệ trên 8 lĩnh vực nghiệp vụ tại Công an 63 tỉnh, thành phố nhằm chấm dứt tình trạng đầu tư dàn trải.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao về phân bổ ngân sách, kiện toàn tổ chức và số hóa cơ sở dữ liệu giai đoạn 2015 - 2020.
  • Xác lập lộ trình chuyển đổi từ hình thức trưng dụng thiết bị vật chất đơn thuần sang khai thác chất xám chuyên gia và công nghệ cao.

Công trình là tài liệu tham khảo thiết thực cho các nhà quản lý trong việc nâng cao tiềm lực khoa học công nghệ phục vụ sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Độc giả quan tâm hãy áp dụng ngay khung giải pháp của luận văn vào thực tiễn xây dựng kế hoạch tại cơ quan, đơn vị.