Chương 1. Những vấn đề lý luận về pháp luật kê biên tài sản là quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự Chương 2. Thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về kê biên tài sản là quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự t thực ti n tỉnh Quảng Ngãi. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả về kê biên tài sản là quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự t thực ti n tỉnh Quảng Ngãi 5 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT KÊ BIÊN TÀI SẢN LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1.
Lý luận về kê biên tài sản là quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của kê biên tài sản là quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự 1. Khái niệm về kê biên tài sản là quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự Theo t điển Tiếng việt của Viện ngôn ngữ học do Nhà giáo dục xuất bản năm 1994 viết: “Kê là viết ra theo thứ tự t ng tên, t ng nhóm để ghi nhớ hoặc thông báo” [35, tr.466], còn “biên là viết lên trang giấy” [35, tr. Theo cuốn T điển luật học thì kê biên tài sản là một biện pháp cưỡng chế nhằm bảo đảm việc thi hành án hình sự, chỉ áp dụng với bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định [30, tr.
Trong lĩnh vực THADS thì theo khoản 3 Điều 71 Luật THADS năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì kê biên được hiểu là một trong những biện pháp cưỡng chế THADS do Chấp hành viên áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án phải có nghĩa vụ thanh toán khoản tiền nào đó theo bản án, quyết định của Tòa án nhưng hết thời gian tự nguyện theo quy định của Luật THADS mà không tự nguyện thi hành án thì Chấp hành viên tiến hành trình tự thủ tục để kê biên. Trong các loại tài sản được kê biên để đảm bảo thực hiện các án kiện dân sự thì tài sản là quyền sử dụng đất là tài sản được kê biên chiếm số lượng lớn nhất, Hiện nay, trong luật học chưa có khái niệm về quyền sử dụng đất. Tuy nhiên có thể căn cứ vào nội dung về quyền sở hữu được quy định trong Bộ luật dân sự năm 2015, có hiệu lực ngày 01/01/2017 thì quyền sở hữu gồm ba quyền: Quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt. Trong đó quyền sử dụng được coi là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức t tài sản.
Quyền sử dụng có thể chuyển 6 nhượng, chuyển giao cho người khác theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật (quy định tại Điều 189 của Bộ luật Dân sự năm 2015). Theo t điển giải thích luật học thì: QSDĐ của Nhà nước là quyền khai thác các thuộc tính có ý t đất để phục vụ cho các mục đích phát triển kinh tế và đời sống xã hội. Nhà nước thực hiện QSDĐ một cách gián tiếp thông qua việc giao đất của các tổ chức, cá nhân sử dụng. Các tổ chức, cá nhân này khi sử dụng có nghĩa vụ đóng góp vật chất cho Nhà nước dưới dạng thuế sử dụng đất, tiền sử dụng đất: (Trường đại học luật Hà Nội.
T điển giải thích luật học, 1999, NXB Công an Nhân dân, trang 59). Với giải thích này thì QSDĐ của Nhà nước không được thực hiện trực tiếp bởi Nhà nước mà gián tiếp thực hiện qua chủ thể là người sử dụng đất, là người được Nhà nước cho phép sử dụng đất thông qua các hình thức pháp lý khác nhau và trao cho họ những quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể trong quá trình khai thác QSDĐ. Và như vậy, những giá trị và khả năng sinh lợi của đất, những thuộc tính cố ý trên t ng mảnh đất và ở phạm vi toàn bộ đất đai của quốc gia có được khai thác và sử dụng có hiệu quả hay không là tùy thuộc vào người sử dụng đất - người trực tiếp thực hiện QSDĐ theo ý đồ của Nhà nước Như vậy có thể hiểu Quyền sử dụng đất là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức t đất đai. Đối với nước ta, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.
Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất đối với người đang sử dụng đất ổn định; quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. Như vậy, Nhà nước là chủ thể đặc biệt của quyền sở hữu đất đai, còn các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình chỉ có quyền sử dụng đất đai chứ không có quyền định đoạt đất đai. Như vậy, dựa trên những lý luận về các khái niệm đã phân tích về kê biên, kê biên tài sản, quyền sử dụng đất, ghép nối lại có thể hiểu: kê biên tài sản là quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự là một trong các biện pháp cưỡng chế thi hành án theo quy định của pháp luật hiện hành do cơ quan thi hành án dân sự mà cụ thể là do Chấp hành viên thực hiện khi người phải thi hành những bản án quyết định của tòa án có hiệu lực thi hành mà không tự nguyện thi hành theo quy định của 7 Luật THADS, đối tượng kê biên là quyền sử dụng đất, buộc người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ phải thanh toán về tiền hoặc là giao trả QSDĐ theo Bản án, quyết định của Tòa nhằm bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của người được thi hành án và thể hiện tính quyền lực của nhà nước. Đặc điểm của kê biên tài sản là quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự - Quyền sử dụng đất là một loại tài sản, là bất động sản theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Như ta đã biết, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015. Đất đai là nguồn tài sản vô giá, quan trọng nhất của người sử dụng đất, bất cứ người dân nào cũng được hưởng quyền này tuy nhiên người sử dụng đất không được quyền định đoạt, chiếm hữu. Chính vì vậy, trong công tác thi hành án dân sự, kê biên tài sản là quyền sử dụng đất c n phải thận trọng, đảm bảo thực hiện đúng trình tự thủ tục quy định của Luật thi hành án dân sự và các văn bản dưới luật có liên quan đến lĩnh vực đất đai.
- Kê biên tài sản là quyền sử dụng đất là biện pháp cưỡng chế có tính chất phức tạp không giống như kê biên các loại tài sản khác. Thông thường khi kê biên là tài sản hiện hữu, tài sản đặc định, đã được định dạng rõ ràng t ban đ u và không thay đổi trong suốt quá trình kể t khi tài sản thuộc phạm vi thỏa thuận là tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, cho đến khi chấp hành viên thực hiện lệnh kê biên để thực hiện nghĩa vụ dân sự. Song kê biên tài sản là quyền sử dụng đất lại có những sự khác biệt: tài sản kê biên có thể chỉ thu n túy là quyền sử dụng đất song cũng có thể bao gồm cả tài sản khác gắn liền với đất như: nhà ở, vật kiến trúc, các công trình xây dựng khác, vườn cây. Quyền sử dụng đất kê biên cũng có thể không thay đổi kể t khi xác lập quan hệ, cho đến khi chấp hành viên thực hiện lệnh kê biên, song quyền sử dụng đất cũng có thể thay đổi về tình trạng hiện hữu như: tại thời điểm thiết lập một giao dịch mới chỉ là quyền sử dụng đất, song trong quá trình thực hiện giao dịch có thêm tài sản khác được hình thành trên đất (tài sản là nhà ở, công trình 8 xây dựng khác hình thành trong tương lai).
Sự khác biệt này cũng là một trong những yếu tố buộc các chấp hành viên phải lưu ý và phân định rất rõ khi kê biên để đảm bảo công tác thi hành án được chính xác, trung thực, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các bên. - Việc thực hiện kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự phải dựa trên những căn cứ nhất định, rõ ràng và cụ thể. Căn cứ để CHV cưỡng chế THADS nói chung và cưỡng chế kê biên tài sản là QSDĐ nói riêng là Bản án, Quyết định; Quyết định thi hành án; Quyết định cưỡng chế thi hành án, tr trường hợp bản án, quyết định đã tuyên kê biên, phong tỏa tài sản, tài khoản và trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án. Khi Bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực nhưng người phải thi hành án có điều kiện thi hành, có tài sản là QSDĐ thuộc sở hữu của mình mà không tự nguyện thi hành án thì CHV tiến hành áp dụng biện pháp kê biên tài sản là QSDĐ để đảm bảo cho việc thanh toán khoản tiền phải thi hành theo Bản án, Quyết định của Tòa án tuyên.
Kê biên QSDĐ trong THADS về mục đích khác với kê biên của cơ quan điều tra Công an và cơ quan Tòa án. Kê biên QSDĐ do cơ quan điều tra Công an và Tòa án về mục đích kê biên của các cơ quan này nhằm bảo đảm việc thi hành án sau này, tránh việc tẩu tán, hủy hoại tài sản của bị can, bị cáo. Kê biên tài sản trong thi hành án hình sự chỉ áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tiền hoặc có thể bị tịch thu tài sản hoặc để bảo đảm bồi thường thiệt hại và áp dụng biện pháp kê biên tài sản trong giai đoạn điều tra, xét xử khi chưa có bản án, quyết định của Tòa án. - Kê biên tài sản là QSDĐ thể hiện tính quyền lực của Nhà nước, người áp dụng biện pháp kê biên là người được Nhà nước trao quyền thực hiện quyền lực của Nhà nước.
Không phải ai cũng được Nhà nước trao quyền thực hiện việc cưỡng chế THADS nói chung và cưỡng chế kê biên tài sản là QSDĐ nói riêng mà chỉ người có chức danh Chấp hành viên mới được trao quyền này. CHV là người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án quyết định theo quy định tại Điều 17 Luật 9 THADS [23].