Chương 1: Những vấn đề chung về kê biên tài sản để bảo đảm THA trong các vụ án KDTM. Chương 2: Thực tiễn kê biên tài sản sản để bảo đảm THA trong các vụ án KDTM tại Cơ quan THADS thành phố Hà Nội. Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp luật về kê biên tài sản sản để bảo đảm THA trong các vụ án KDTM tại Cơ quan thi hành án thành phố Hà Nội. 7 Chƣơng 1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, Ý NGHĨA CỦA KÊ BIÊN TÀI SẢN TRONG THI HÀNH ÁN KINH DOANH THƢƠNG MẠI 1.
Khái niệm, đặc điểm, vai trò và phân loại kê biên tài sản để bảo đảm thi hành án trong các vụ án kinh doanh thƣơng mại 1. Khái niệm kê biên tài sản để bảo đảm thi hành án trong các vụ án kinh doanh thương mại Kê biên là một động từ được ghép bởi hai từ “kê” và “biên”. Có rất nhiều cách hiểu về kê biên chẳng hạn như theo Từ điển bách khoa toàn thư thì “kê biên là cưỡng chế của Nhà nước đối với tài sản của người vi phạm pháp luật. Kê biên tài sản trong thi hành án là một trong những biện pháp cưỡng chế và CHV có quyền áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành.1” Ở góc độ luật học thì “kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án là một biện pháp cưỡng chế thi hành án do cơ quan thi hành án áp dụng khi người phải thi hành án có nghĩa vụ thanh toán tiền theo bản án, quyết định của Tòa án được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành mà không tự nguyện thi hành trong thời hạn do CHV ấn định hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án chuyển dịch tài sản cho người khác tẩu tán, hủy hoại tài sản.”2 Còn theo Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, kê là “viết ra theo thứ tự từng tên, từng nhóm để ghi nhớ hoặc thông báo” và “biên viết lên trang giấy”3.
Còn theo giải thích trong cuốn Từ điển Luật học, kê biên tài sản là “biện pháp cưỡng chế nhà nước được áp dụng đối với bị can, bị cáo mà theo quy định của Bộ luật hình sự có thể bị phạt tiền cũng như đối với người phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do Tòa án, chấp hành viên tiến hành để kê khai, ghi lại từng loại tài sản, giao cho chủ tài sản hoặc thân nhân bảo quản, cấm việc tẩu tán, phá hủy nhằm bảo đảm cho việc xét xử, thi hành bản án và các quyết định của cơ quan nhà nước được thuận lợi, đúng pháp luật” 4 Với cách định nghĩa này, khái niệm kê biên chỉ bó hẹp trong lĩnh vực hình sự. 1 Viện từ điển bách khoa (1999), Từ điển bách khoa, Nxb. Từ điển bách khoa, Hà Nội, tr. 984 2 Trường Đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình thi hành án dân sự, Nxb.
Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 154 3 Viện Ngôn ngữ học (2004), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, Đà Nẵng, tr.762 4 Viện Khoa học pháp lý - Bộ tư pháp (2005), Từ điển Luật học, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr.
572 8 Tuy nhiên, khái niệm này chưa đầy đủ bởi lẽ không phải chỉ có cơ quan điều tra của Công an mà tòa án nhân dân các cấp, cơ quan quản lý hành chính và cơ quan THADS được Nhà nước trao quyền thực hiện việc kê biên tài sản. Trong luận văn này, người viết chỉ xem xét kê biên ở góc độ luật học trên cơ sở đó sẽ phân tích, đánh giá để tìm hiểu rõ hơn về biện pháp cưỡng chế bằng hình thức kê biên tài sản để bảo đảm THA trong các vụ án KDTM theo những quy định của pháp luật hiện hành. Như vậy, kê biên tài sản là một biện pháp cưỡng chế hữu hiệu để Nhà nước thực hiện quyền lực của mình, do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện với mục đích bảo đảm cho việc thực hiện một nghĩa vụ tài sản đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân xâm hại đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân. Cụ thể trong lĩnh vực THADS, biện pháp kê biên tài sản quy định tại khoản 3 Điều 71 Luật THADS năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, (viết tắt là Luật THADS năm 2014) được xem là một trong những biện pháp cưỡng chế THADS do CHV áp dụng đối với tài sản của NPTHA trong trường hợp NPTHA không tự nguyện THA.
Căn cứ vào phạm vi điều chỉnh của Luật THADS năm 2014, có thể thấy THADS là hoạt động thi hành bản án, quyết định dân sự, hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự, phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của Tòa án, quyết định của Tòa án giải quyết phá sản, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành và phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại (sau đây gọi chung là bản án, quyết định). Cần lưu ý rằng chỉ khi NPTHA có điều kiện THA và đã hết thời hạn tự nguyện THA mà vẫn không THA thì CHV mới áp dụng biện pháp cưỡng chế THA để buộc người đó thực hiện nghĩa vụ của mình. Thứ hai, chúng ta cần phân tích về khái niệm vụ án KDTM. Trong đời sống xã hội, con người luôn sáng tạo, lao động, vươn lên và do đó, mối quan hệ của con người cũng luôn phát triển và ngày càng phong phú.
Từ đó, các va chạm, xung đột, tranh chấp của con người cũng ngày càng phức tạp hơn. Trong thực tế, để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của mình, con người phải lao động và ra sức bảo vệ lợi ích từ quá trình lao động ấy. 9 Cũng chính từ nguyên nhân đó, các xung đột lợi ích đã xảy ra, trở thành những tranh chấp quyền lợi của con người với con người. Hiện nay, tranh chấp được đề cập từ nhiều góc độ khác nhau, với những nội dung không hoàn toàn đồng nhất.
Tranh chấp là “đấu tranh giằng co khi có ý kiến bất đồng, thường là trong vấn đề quyền lợi giữa hai bên”, “tranh chấp là mâu thuẫn, là xung đột về quyền và nghĩa vụ của các bên”. Như vậy, tranh chấp được hiểu là những mâu thuẫn, bất đồng, xung đột của con người trong quá trình tồn tại và phát triển, là cái tự nhiên vốn có của cuộc sống, phát sinh, phát triển song hành cùng sự phát triển của xã hội. Mối quan hệ của con người ngày càng phong phú thì sẽ càng phát sinh tranh chấp trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Tiêu biểu trong đó là tranh chấp về quyền lợi kinh tế.
Đất nước đổi mới, nền kinh tế tập trung bao cấp đã được thay thế bởi nền kinh tế thị trường phát triển, năng động, cạnh tranh và phong phú. Bên cạnh đó, tiến trình toàn cầu hóa, hội nhập thương mại quốc tế cũng đang diễn ra hết sức mạnh mẽ và khốc liệt. Đứng trước những cơ hội và thách thức của thời cuộc, nước ta đang có những định hướng phù hợp, phát huy thế mạnh của nền kinh tế. Trong đó, phát triển thương mại là một trong những bước đi đúng đắn nhất, đem lại hiệu quả cao cho đời sống xã hội.
Luật Thương mại năm 2005 được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005 đã đưa ra một khái niệm về hoạt động thương mại tương đối giản đơn. Tuy nhiên, khái niệm này cũng đã hàm chứa và lột tả được nội hàm của hoạt động thương mại. Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại 2005 quy định: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”. Theo khái niệm này, quan niệm về hoạt động thương mại được mở rộng bao gồm mọi hoạt động có mục đích sinh lợi.
Hướng tiếp cận này của Luật Thương mại cho thấy, khái niệm về hoạt động thương mại đã thể hiện sự tương đồng với khái niệm kinh doanh trong Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp năm 2005 cũng như Luật Doanh nghiệp năm 2014. Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá 10 trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Như vậy, tranh chấp thương mại có thể hiểu đơn giản là những bất đồng, mâu thuẫn liên quan đến quyền và lợi ích của các chủ thể tham gia hoạt động thương mại. Thứ nhất, tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong mối quan hệ cụ thể.
Mâu thuẫn được hiểu là trạng thái xung đột, đối xứng nhau về quyền và nghĩa vụ giữa các bên tranh chấp. Quan hệ thương mại và bất đồng giữa các bên trong quan hệ thương mại là điều kiện cần và đủ để tranh chấp phát sinh. Trong hoạt động thương mại, các bên vừa hợp tác đồng thời vừa cạnh tranh nhau để đạt được những mục đích đề ra. Do đó, việc phát sinh những mâu thuẫn, bất đồng trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên là điều tất yếu.
Các quan hệ thương mại có bản chất là các quan hệ tài sản nên nội dung tranh chấp thường liên quan trực tiếp tới lợi ích kinh tế của các bên. Thông thường, những mâu thuẫn bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên phát sinh trong các mối quan hệ cụ thể bao gồm: Mua bán hàng hoá; cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý; kí gửi; thuê, cho thuê, thuê mua; xây dựng; tư vấn kĩ thuật; vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường thuỷ nội địa; vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường biển; mua bán cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác; đầu tư tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác. Tranh chấp về quyền SHTT, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận. Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty.
Tranh chấp khác về KDTM mà pháp luật có quy định.