Chương 1: NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH – VAI TRÒ CỦA NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI.1 - Khái luận chung về tài chính và nguồn lực tài chính Theo quan điểm của K. Marx: “ Hàng hóa là sản phẩm của lao động có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người và dùng để trao đổi với nhau”. Tức là, trong nền kinh tế hàng hoá – tiền tệ, sản phẩm được xem là hàng hóa khi thỏa mãn hai mặt: giá trị sử dụng làm xuất hiện nhu cầu trao đổi và giá trị biến khả năng trao đổi thành hiện thực. Tiền tệ đóng vai trò động lực thúc đẩy các hoạt động giao lưu kinh tế; tiền tệ làm cho quá trình phân phối, trao đổi diễn ra dễ dàng và đặc biệt là tạo nên hình thái phân phối mới từ hiện vật chuyển sang phân phối bằng giá trị.
Khi hàng hóa thể hiện giá trị luôn gắn kết với sự vận động của tiền tệ và tạo nên các khoản thu nhập cho người cung cấp hàng hóa, trải qua quá trình phân phối sẽ tạo ra nguồn tài chính hay quỹ tiền tệ cho các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội hay các cá nhân nhằm mục đích tiêu dùng và đầu tư phát triển. Sự vận động không ngừng của quá trình sản xuất hàng hóa luôn đòi hỏi các quỹ tiền tệ phải được tạo lập, phân phối và sử dụng cho mục đích đầu tư phát triển KT-XH và từ đó đã làm nảy sinh phạm trù tài chính. Cũng theo quan điểm của K.Marx: “Tài chính là phạm trù phân phối, phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối các quỹ tiền tệ nhằm thỏa mãn các nhu cầu của các chủ thể trong nền kinh tế.” Theo quan điểm hiện đại, tài chính là một phạm trù kinh tế ra đời và phát triển gắn liền với kinh tế hàng hóa, nó phản ảnh sự vận động các nguồn lực tài chính thông qua những hình thức hoạt động phân phối thu nhập, đầu tư, mua bán vốn giữa các chủ thể trong nền kinh tế. Tài chính được sử dụng bởi những cá nhân gọi là tài chính cá nhân, Chính phủ sử dụng gọi là tài chính công, được sử dụng bởi doanh nghiệp gọi là tài chính công ty và tài chính quốc tế đối với các yếu tố nước ngoài… LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Xét về nguồn gốc thực chất quyết định sự ra đời và phát triển của tài chính không chỉ đơn thuần thuộc về Nhà nước mà chính là do nền tái sản xuất xã hội.
Nếu như không có sản phẩm dư thừa, không có thu nhập quốc dân, không có của cải vật chất và các yếu tố tinh thần được tạo ra từ tái sản xuất xã hội thì Nhà nước sẽ khó đứng vững và tài chính cũng không còn nữa vì đã mất đi chỗ dựa của mình. Sức mạnh của Nhà nước bao gồm sức mạnh tinh thần và sức mạnh vật chất. Sức mạnh vật chất gồm sự tổng hợp về nhân lực (sức lao động, sức mạnh về trí tuệ, sức mạnh về khoa học kỹ thuật và tài năng quản lý), vật lực (đất đai, tài nguyên thiên nhiên, vật tư hàng hóa và khả năng làm ra sản phẩm xã hội) và nguồn lực tài chính mà Nhà nước có thể sử dụng toàn bộ trong một thời kỳ lịch sử nhất định. Nguồn lực tài chính là quá trình tạo lập, luân chuyển và sử dụng tiền vốn dưới hình thức giá trị, là thành phần quan trọng có tác dụng chủ đạo trong toàn bộ nguồn sức mạnh của Nhà nước.
Nó được hiểu như là khối lượng tiền tệ có tính lỏng cao mà các chủ thể có được tùy theo đặc điểm hoạt động của mình. Đối với cá nhân, nguồn lực tài chính được hình thành chủ yếu từ thu nhập lao động, đối với doanh nghiệp được hình thành từ kết quả kinh doanh, đối với Chính phủ thì hình thành từ các khoản thuế. Trong trường hợp tài trợ không đủ thì các chủ thể này có thể đi vay trong và ngoài nước hoặc huy động từ thị trường tài chính để đáp ứng nhu cầu tài trợ cho mục đích đầu tư và tiêu dùng.2- Các nguồn lực tài chính tài trợ cho hoạt động đầu tư phát triển 1.1- Nguồn lực tài chính trong nước: Nguồn lực tài chính trong nước là phần tích lũy của nội bộ nền kinh tế được huy động vào quá trình tái sản xuất xã hội từ khoản tiết kiệm của dân cư, các tổ chức kinh tế và tiết kiệm của Nhà nước. Nó thể hiện sức mạnh nội lực của một quốc gia, với ưu điểm là ổn định, bền vững, chi phí thấp, giảm thiểu được rủi ro và hậu quả xấu do những tác động từ bên ngoài mang lại, bao gồm các loại nguồn lực sau: 1.1- Ngân sách Nhà nước Cùng với quá trình phát triển xã hội, khi Nhà nước ra đời đã thúc đẩy sự phát triển của hoạt động tài chính, để duy trì hoạt động Nhà nước đã tạo lập quỹ ngân LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sách Nhà nước.
Theo Luật NSNN của Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 16/12/2002 cho rằng: “Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.” NSNN bao gồm: ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương. NSNN được hình thành từ việc huy động các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí, các khoản viện trợ, vay nợ, các khoản đóng góp của các tổ chức, cá nhân và các khoản thu khác. Đồng thời NSNN được sử dụng để chi tiêu cho hoạt động của bộ máy Nhà nước, chi cho an ninh quốc phòng, y tế, văn hóa, giáo dục, chi trả nợ, các khoản khác theo quy định và quan trọng nhất là khoản chi cho đầu tư phát triển KT-XH của quốc gia và từng địa phương.2- Tín dụng Nhà nước Xét trên góc độ huy động vốn, TDNN là hoạt động đi vay do Nhà nước tiến hành nhằm bổ sung nguồn tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, trong đó có lĩnh vực đầu tư phát triển hay sự tiếp cận và sử dụng vốn vay của các doanh nghiệp để đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ. Bao gồm: (i) Vay nợ trong nước: phát hành các loại chứng khoán của Nhà nước như tín phiếu ngắn hạn, trái phiếu dài hạn, công trái … (ii) Vay nợ nước ngoài: phát hành trái phiếu của Nhà nước trên thị trường quốc tế, vay từ nguồn vốn ODA … 1.3- Các quỹ hỗ trợ tài chính Nhà nước Để đa dạng hóa sự huy động các nguồn lực tài chính của xã hội đầu tư vào một số lĩnh vực có tính chất ưu tiên cần khuyến khích nhằm góp phần thúc đẩy sự phát triển KT-XH, Nhà nước đã thành lập các quỹ hỗ trợ tài chính.
Cơ chế huy động vốn thường là tiếp nhận từ NSNN; từ phát hành chứng khoán; vốn đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; và các nguồn vốn khác. Kinh nghiệm phát triển của nhiều nước cho thấy, trong giai đoạn tạo đà cho công nghiệp hóa, quỹ hỗ trợ tài chính sẽ giúp cho Nhà nước mở rộng khả năng huy LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com động nguồn lực tài chính từ xã hội, kết hợp cùng NSNN và các công cụ tài chính khác sẽ thúc đẩy nhanh sự đầu tư phát triển của nền kinh tế theo hướng CNH-HĐH.4- Thị trường tài chính Thị trường tài chính là tổng hòa các mối quan hệ cung cầu về vốn, diễn ra dưới hình thức vay mượn, mua bán về vốn, tiền tệ và các chứng từ có giá nhằm chuyển dịch từ nơi cung cấp đến nơi có nhu cầu về vốn cho các hoạt động kinh tế.1: Quy trình tài trợ vốn giữa các chủ thể trong nền kinh tế ĐỊNH CHẾ Vốn TRUNG GIAN TÀI CHÍNH Nguồn cung vốn Nhu cầu sử dụng vốn Cá nhân & Hộ GĐ Cá nhân & Hộ GĐ Doanh nghiệp Doanh nghiệp Chính phủ Chính phủ THỊ Vốn TRƯỜNG TÀI CHÍNH Tài trợ vốn trực tiếp là việc các chủ thể dư thừa về vốn chuyển vốn trực tiếp cho các chủ thể thiếu vốn là người chi tiêu cuối cùng bằng cách mua các tài sản tài chính trực tiếp từ người phát hành, tức là người cần vốn. Bằng cách này lượng tiền vận động thẳng từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn thông qua thị trường tài chính.Tài trợ vốn gián tiếp thể hiện ở chổ các chủ thể thừa vốn không trực tiếp cung ứng vốn cho người thiếu vốn là người sử dụng vốn cuối cùng mà là gián tiếp thông qua các định chế trung gian tài chính.5- Các định chế tài chính trung gian Các định chế tài chính trung gian là một chủ thể tham gia thị trường tài chính với nhiệm vụ làm cầu nối giữa những người cần vốn và những người cung cấp vốn. Các tổ chức trung gian tài chính được hình thành hết sức đa dạng nhằm “hút” toàn bộ các nguồn vốn dự trữ với thời hạn và quy mô rất khác nhau để “bơm” cho nền LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kinh tế hoạt động và phát triển.
Các định chế trung gian tài chính gồm các công ty kinh doanh và môi giới chứng khoán, các công ty tài chính, hệ thống ngân hàng thương mại, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tài chính khác, các công ty bảo hiểm, các quỹ đầu tư, các quỹ trợ cấp và hưu trí … 1.2- Nguồn lực tài chính nước ngoài: 1.1- Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign direct investment – FDI) Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty" 1.
Như vậy, FDI là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này, (thường là các công ty đa quốc gia MNC) vào nước khác để thiết lập các cơ sở sản xuất, kinh doanh và nắm quyền kiểm soát các hoạt động kinh tế.