Tổng quan nghiên cứu

Chương trình Mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới là một cuộc vận động cách mạng sâu rộng, tác động trực tiếp đến diện mạo kinh tế, văn hóa và đời sống của hàng triệu cư dân nông thôn trên khắp cả nước. Tại huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái, toàn bộ 21/21 xã đã đồng loạt triển khai chương trình với quyết tâm chính trị cao nhằm hoàn thành mục tiêu trở thành huyện nông thôn mới đầu tiên của tỉnh vào năm 2019. Trong quá trình đó, tổng giá trị sản xuất các ngành kinh tế của huyện đã tăng trưởng từ 3.755,00 tỷ đồng năm 2016 lên 4.605,70 tỷ đồng năm 2018, tương ứng mức tăng bình quân 11,08% mỗi năm. Cùng với sự chuyển dịch kinh tế, tỷ trọng lao động phi nông nghiệp tăng nhanh từ 24,82% lên 30,56%, tương ứng 16.585 người trong tổng số 54.254 lao động toàn huyện.

Vấn đề cốt lõi được đặt ra là làm thế nào để khơi dậy và phát huy tối đa nội lực từ chính người dân, xóa bỏ tư tưởng ỷ lại vào nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách nhà nước. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp của tác giả Hoàng Quốc Việt, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Hà Quang Trung tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đã tập trung giải quyết yêu cầu cấp thiết này. Đề tài hướng tới 3 mục tiêu cụ thể: hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về huy động nguồn lực cộng đồng; đánh giá khách quan thực trạng huy động nguồn tài chính, vật lực (đất đai) và nhân lực giai đoạn 2016-2018; từ đó nhận diện các rào cản và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực cộng đồng giai đoạn 2019-2025.

Nghiên cứu được triển khai chuyên sâu tại 3 xã đại diện gồm Nga Quán, Hòa Cuông và Việt Hồng. Kết quả nghiên cứu không chỉ làm phong phú thêm kho tàng tài liệu khoa học về phát triển nông thôn miền núi mà còn cung cấp luận cứ thực tiễn quan trọng, giúp các cấp chính quyền xây dựng chiến lược phát triển nông thôn bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống cho hơn 84.355 người dân trên địa bàn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý luận vững chắc về phát triển nông thôn có sự tham gia và quản trị phát triển dựa vào nội lực. Nổi bật nhất là cách tiếp cận Phát triển nông thôn dựa vào nội lực cộng đồng (Asset-Based Community Development - ABCD) do Jody Kretzmann và John McKnight đề xuất năm 1993. Lý thuyết này nhấn mạnh việc khai thác các tài sản hiện hữu ngay bên trong cộng đồng như tài sản tự nhiên, vật chất, con người, tài chính và vốn xã hội thay vì thụ động trông chờ vào ngoại lực.

Đồng thời, luận văn vận dụng khung phân tích sự tham gia của Cohen và Uphoff năm 1979 với 4 chiều kích trọng tâm: tham gia ra quyết định, tham gia thực hiện, chia sẻ hưởng lợi và tham gia đánh giá. Tác giả cũng tích hợp mô hình 3 dạng thức tham gia của Peter Oakley năm 1987 gồm tham gia đóng góp, tham gia tổ chức và tham gia trao quyền. Hệ thống khái niệm cốt lõi được định hình chặt chẽ theo các văn bản pháp lý chủ chốt của Nhà nước như Quyết định số 800/QĐ-TTg, Quyết định số 1600/QĐ-TTg và Quyết định số 1980/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới với 19 tiêu chí chuẩn mực, kết hợp Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn và Thông tư số 174/2009/TT-BTC về cơ chế tài chính huy động tối đa 70% ngân sách hỗ trợ cho các hạng mục hạ tầng thiết yếu.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp hài hòa giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp thực chứng. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Niên giám thống kê huyện Trấn Yên giai đoạn 2016-2018, các nghị quyết, báo cáo tổng kết của Ủy ban nhân dân huyện và 3 xã nghiên cứu. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra khảo sát thực địa từ cuối năm 2018 đến đầu năm 2019 với tổng quy mô mẫu đạt 165 phiếu.

Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên được áp dụng để đảm bảo tính đại diện cao. Cấu trúc mẫu gồm 30 phiếu dành cho cán bộ lãnh đạo, chuyên môn thuộc các phòng ban cấp huyện, xã và ban chỉ đạo thôn; 135 phiếu khảo sát trực tiếp các chủ hộ gia đình tại 3 xã đại diện cho 3 tiểu vùng sinh thái - kinh tế: xã Nga Quán (vùng thấp ven đô thị), xã Hòa Cuông (vùng đồi gò chuyển tiếp) và xã Việt Hồng (vùng sâu, chân núi Con Voi).

Phương pháp phân tích dữ liệu bao gồm thống kê mô tả, phân tích so sánh kinh tế, phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia của người dân (PRA) và lượng hóa nhận thức thông qua thang đo Likert 4 mức độ cùng 5 mức độ trên phần mềm Microsoft Excel. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm phản ánh chính xác các biến số định lượng như giá trị vốn đóng góp, diện tích đất hiến tặng, số ngày công lao động, đồng thời đo lường khoa học các khía cạnh định tính về mức độ minh bạch, sự hài lòng và tính chủ động của người dân trong tiến trình xây dựng nông thôn mới.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu kinh tế huyện Trấn Yên ghi nhận bước chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hóa. Giá trị ngành công nghiệp - xây dựng tăng từ 1.348,00 tỷ đồng năm 2016 (chiếm 35,90%) lên 1.771,00 tỷ đồng năm 2018, vươn lên chiếm tỷ trọng lớn nhất với 38,45% tổng giá trị sản xuất toàn huyện. Ngược lại, tỷ trọng ngành nông - lâm - thủy sản giảm từ 38,47% xuống còn 34,89%, dù giá trị tuyệt đối vẫn tăng từ 1.444,60 tỷ đồng lên 1.606,70 tỷ đồng. Ngành thương mại - dịch vụ duy trì mức tăng trưởng ổn định, đạt 1.228,00 tỷ đồng (chiếm 26,66%) vào năm 2018.

Thứ hai, công tác quản lý và khai thác tài nguyên đất đai phục vụ phát triển kinh tế đạt hiệu quả cao. Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 62.914,20 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 57.589,23 ha (tương ứng 91,54%). Đất lâm nghiệp chiếm ưu thế tuyệt đối với 46.227,46 ha (chiếm 73,48% tổng diện tích tự nhiên), tạo điều kiện cho các mô hình kinh tế đồi rừng, trồng quế và cây nguyên liệu gỗ phát triển mạnh. Đất sản xuất nông nghiệp đạt 10.916,96 ha (17,35%), trong đó đất trồng cây lâu năm chiếm 6.507,47 ha (10,34%) và đất lúa giữ ổn định ở mức 3.073,55 ha (4,89%).

Thứ ba, kết quả huy động nguồn lực tài chính, vật lực và nhân lực từ cộng đồng đạt nhiều dấu ấn nổi bật. Tại 3 xã nghiên cứu, nguồn vốn ngân sách nhà nước kết hợp chặt chẽ với vốn đối ứng tự nguyện của nhân dân đã hoàn thành kiên cố hóa hàng chục km đường giao thông nông thôn và kênh mương nội đồng. Trong 165 đối tượng khảo sát, đa số người dân sẵn sàng hiến đất ở và đất sản xuất nông nghiệp mà không yêu cầu bồi thường kinh phí giải phóng mặt bằng. Bên cạnh đó, các tổ chức đoàn thể như Hội Nông dân và Đoàn Thanh niên đã huy động hàng nghìn ngày công lao động tham gia dọn dẹp vệ sinh môi trường, đổ bê tông đường ngõ xóm và xây dựng nhà văn hóa thôn.

Thảo luận kết quả

Thành công trong việc huy động nguồn lực tại Trấn Yên xuất phát từ việc thực hiện triệt để nguyên tắc dân chủ cơ sở theo phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân hưởng thụ. Khi các kế hoạch đóng góp được công khai và minh bạch hóa, niềm tin của người dân được củng cố, chuyển hóa nhận thức từ việc xem xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ của Nhà nước sang tinh thần tự nguyện của chính cộng đồng.

So sánh với kinh nghiệm quốc tế như phong trào Saemaul Undong tại Hàn Quốc, Trấn Yên đã áp dụng thành công nguyên tắc hỗ trợ vốn mồi từ ngân sách nhà nước (cung ứng xi măng, cát sỏi) để kích thích nguồn lực nội tại của thôn bản. So sánh với các địa phương trong nước như tỉnh Hà Tĩnh (đạt 60,3% số xã chuẩn nông thôn mới nhờ xây dựng khu dân cư kiểu mẫu) và tỉnh Bắc Kạn (chỉ đạt 8,18% số xã chuẩn nông thôn mới do địa bàn chia cắt), Trấn Yên đã tận dụng tốt lợi thế địa hình chuyển tiếp và hệ thống giao thông huyết mạch kết nối với sông Hồng và đường sắt Hà Nội - Lào Cai.

Dữ liệu nghiên cứu được trực quan hóa thông qua 12 bảng số liệu chuyên sâu và hệ thống biểu đồ cơ cấu ngành kinh tế giai đoạn 2016-2018. Biểu đồ đường thể hiện tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 11,08%/năm kết hợp biểu đồ cột phân bổ nguồn vốn đối ứng giữa ngân sách nhà nước và sức dân tại 3 xã nghiên cứu đã phản ánh rõ nét sự tương quan thuận giữa mức thu nhập bình quân đầu người với khả năng huy động vốn cộng đồng.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm gia tăng hiệu quả huy động nguồn lực cộng đồng trong giai đoạn tới:

Thứ nhất, đổi mới và minh bạch hóa cơ chế quản lý, sử dụng nguồn đóng góp của nhân dân. Ủy ban nhân dân huyện Trấn Yên chỉ đạo Ban quản lý các xã thực hiện niêm yết công khai 100% dự toán, quyết toán các công trình do dân đóng góp tại trụ sở xã và nhà văn hóa thôn. Mục tiêu nâng tỷ lệ giải ngân nguồn vốn đối ứng đạt trên 95% kế hoạch hàng năm, hoàn thành quy chế giám sát tài chính cộng đồng ngay trong quý II năm 2020 do Phòng Tài chính - Kế hoạch và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện chủ trì thực hiện.

Thứ hai, tăng cường bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ cơ sở và Ban giám sát đầu tư cộng đồng. Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Phòng Nội vụ huyện tổ chức từ 3 đến 5 lớp tập huấn chuyên sâu hàng năm cho trên 200 lượt cán bộ xã, trưởng thôn và thành viên ban thanh tra nhân dân. Nội dung tập huấn tập trung vào kỹ năng lập kế hoạch có sự tham gia, kỹ thuật kiểm tra chất lượng thi công và quản lý dự án cộng đồng, thực hiện định kỳ trong giai đoạn 2020-2023.

Thứ ba, đẩy mạnh tái cơ cấu nông nghiệp gắn với chuỗi giá trị và chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP). Trạm Khuyến nông huyện hướng dẫn người dân chuyển đổi ít nhất 500 ha diện tích đất vườn tạp sang phát triển vùng trồng cây ăn quả có múi, chè chất lượng cao và tre măng Bát Độ. Giải pháp này hướng tới mục tiêu nâng thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn đạt trên 45 triệu đồng/người/năm vào năm 2022, tạo tiền đề nâng cao năng lực tài chính cho người dân tham gia đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng.

Thứ tư, đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, vận động hiến đất và đóng góp ngày công lao động. Đoàn Thanh niên và Hội Nông dân huyện phát động phong trào thi đua giữa các thôn, bản, đặt chỉ tiêu vận động hội viên hiến trên 15.000 m2 đất mở rộng đường trục chính nội đồng và đóng góp hơn 20.000 ngày công lao động trong giai đoạn 2020-2025, kịp thời biểu dương, khen thưởng các hộ gia đình điển hình.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cho 4 nhóm đối tượng chính:

Nhóm thứ nhất là cán bộ lãnh đạo, chuyên viên tại Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới và Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã: Nghiên cứu cung cấp khung hướng dẫn thực tế về quy trình vận động nhân dân hiến đất, cơ chế điều tiết vốn đối ứng và phương pháp tổ chức họp thôn dân chủ, giúp nâng tỷ lệ hoàn thành các tiêu chí hạ tầng giao thông, thủy lợi đúng tiến độ.

Nhóm thứ hai là giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Quản lý kinh tế và Phát triển nông thôn: Tài liệu này là nguồn tham khảo mẫu mực về việc ứng dụng khung lý thuyết ABCD và Cohen - Uphoff vào phân tích thực chứng, cùng bộ công cụ điều tra 165 mẫu phân tầng tại vùng đồng bào trung du miền núi.

Nhóm thứ ba là ban điều phối các dự án phát triển cộng đồng và các tổ chức phi chính phủ (NGO): Có thể khai thác các bài học kinh nghiệm về phương pháp giám sát đánh giá có sự tham gia (PRA) và các chỉ số đo lường vốn xã hội để thiết kế các dự án can thiệp sinh kế miền núi đạt tính bền vững cao.

Nhóm thứ tư là ban giám đốc các hợp tác xã nông nghiệp và lãnh đạo các tổ chức đoàn thể cơ sở: Luận văn cung cấp nhiều giải pháp thiết thực về liên kết chuỗi giá trị nông sản và cách thức khơi dậy tinh thần đoàn kết hội viên trong tham gia chỉnh trang cảnh quan làng xóm, xây dựng đời sống văn hóa mới.

Câu hỏi thường gặp

Yếu tố then chốt nào quyết định sự thành công trong huy động sức dân tại huyện Trấn Yên? Yếu tố quyết định là việc thực hiện nghiêm túc Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 về quy chế dân chủ cơ sở. Khi người dân được tự bàn bạc mức thu, trực tiếp quản lý và nghiệm thu công trình, tỷ lệ đồng thuận tại 3 xã nghiên cứu đạt trên 90%, giúp địa phương huy động thành công hàng nghìn ngày công và diện tích đất hiến tặng lớn.

Nguồn lực cộng đồng trong luận văn được cấu thành từ những yếu tố nào? Nguồn lực cộng đồng được phân định toàn diện thành 3 nhóm: nguồn lực tài chính (tiền mặt đóng góp đối ứng), nguồn vật lực (quyền sử dụng đất hiến tặng mở đường, nguyên vật liệu sẵn có) và nguồn nhân lực (trí tuệ, ngày công lao động từ các đoàn thể), kết hợp cùng vốn xã hội là niềm tin và tinh thần tương thân tương ái.

Cơ cấu ngành kinh tế của huyện Trấn Yên có sự thay đổi như thế nào trong giai đoạn 2016-2018? Cơ cấu kinh tế của huyện chuyển dịch tích cực từ nông nghiệp sang công nghiệp - xây dựng. Tỷ trọng công nghiệp - xây dựng tăng từ 35,90% lên 38,45%, vượt qua tỷ trọng nông - lâm - thủy sản (giảm từ 38,47% xuống 34,89%), góp phần đưa tổng giá trị sản xuất năm 2018 đạt 4.605,70 tỷ đồng.

Quy mô và phương pháp chọn mẫu khảo sát 165 phiếu được tiến hành ra sao? Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên tại 3 xã đại diện địa hình (Nga Quán, Hòa Cuông, Việt Hồng). Cỡ mẫu gồm 30 phiếu dành cho cán bộ quản lý các cấp và 135 phiếu dành cho các chủ hộ gia đình, đảm bảo thu thập đầy đủ ý kiến đa chiều từ cơ quan điều hành đến người thụ hưởng.

Bài học nào từ phong trào Saemaul Undong của Hàn Quốc được áp dụng tại Trấn Yên? Bài học quan trọng nhất là nguyên tắc hỗ trợ có điều kiện từ ngân sách nhà nước nhằm kích hoạt tinh thần tự lực của người dân, xóa bỏ tâm lý trông chờ ỷ lại. Nhờ hỗ trợ xi măng từ nhà nước, nhân dân tại 21 xã thuộc huyện đã tự thiết kế, thi công các tuyến đường ngõ xóm đạt chuẩn kỹ thuật.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện khung lý thuyết về phát triển nông thôn dựa vào nội lực cộng đồng (ABCD) và khung phân tích sự tham gia 4 chiều kích của Cohen và Uphoff trong bối cảnh thực tiễn tại huyện miền núi Trấn Yên.
  • Phản ánh trung thực bức tranh chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện với ngành công nghiệp - xây dựng chiếm tỷ trọng cao nhất đạt 38,45% và tỷ lệ lao động phi nông nghiệp đạt 30,56% vào năm 2018.
  • Lượng hóa chi tiết kết quả huy động 3 nguồn lực cốt lõi (tài chính, đất đai, nhân lực) thông qua số liệu khảo sát thực chứng từ 165 cán bộ và hộ dân tại 3 xã trọng điểm.
  • Xác định rõ nét tác động của 2 nhóm nhân tố chính gồm cơ chế chính sách của Nhà nước, năng lực ban quản lý và các yếu tố nội sinh từ phía cộng đồng dân cư.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ có lộ trình cụ thể đến năm 2025 nhằm hỗ trợ huyện Trấn Yên giữ vững và nâng cao chất lượng các tiêu chí nông thôn mới bền vững.

Đóng góp chính của công trình nghiên cứu là cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc cho công tác hoạch định chính sách nông nghiệp nông thôn vùng Trung du và Miền núi phía Bắc. Để tiếp cận toàn bộ hệ thống số liệu chi tiết, các mô hình hồi quy và phương pháp luận chuyên sâu, kính mời quý độc giả, nhà nghiên cứu và các nhà quản lý tham khảo toàn văn luận văn thạc sĩ kinh tế nông nghiệp của tác giả Hoàng Quốc Việt.