Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Chương trình Mục tiêu Quốc gia về xây dựng Nông thôn mới (NTM) là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm thay đổi toàn diện diện mạo nông thôn, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân. Trong quá trình triển khai, hệ thống chính trị cấp cơ sở giữ vai trò nòng cốt, là cầu nối trực tiếp truyền tải chủ trương, chính sách đến từng thôn xóm và hộ gia đình. Việc thực thi phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân hưởng thụ" đòi hỏi công tác tuyên truyền, vận động phải đi trước một bước nhằm khơi dậy tính tự giác, phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư.
Xã Tân Long là một xã miền núi vùng cao thuộc huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, có địa hình phức tạp, núi đá vôi chiếm 3/4 diện tích tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, tập quán canh tác còn phân tán. Để định hình phát triển các điểm dân cư, hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất và cải thiện môi trường nông thôn, công tác tuyên truyền và vận động nhân dân là nhiệm vụ cấp bách nhằm tạo sự đồng thuận và huy động nguồn lực xã hội hóa. Xuất phát từ bối cảnh đó, đề tài "Tìm hiểu công tác tuyên truyền, vận động người dân trong quá trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Tân Long huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên" được thực hiện.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận gồm:
- Mục tiêu chung: Nghiên cứu thực trạng, đề xuất các giải pháp tuyên truyền, vận động, huy động người dân nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Tân Long, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
- Mục tiêu cụ thể:
- Tìm hiểu đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của địa bàn nghiên cứu.
- Tìm hiểu hiện trạng chương trình xây dựng nông thôn mới của địa bàn nghiên cứu.
- Tìm hiểu các công việc đã và đang triển khai của chương trình xây dựng nông thôn mới có liên quan đến người dân trên địa bàn.
- Tìm hiểu về đối tượng, nội dung, phương pháp, tần suất thực hiện các công việc liên quan đến hoạt động tuyên truyền, vận động người dân trong xây dựng nông thôn mới tại địa bàn nghiên cứu.
- Đánh giá hiệu quả của công tác tuyên truyền, vận động người dân trong xây dựng nông thôn mới.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả của công tác tuyên truyền, vận động người dân trong xây dựng nông thôn mới.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các hoạt động, công việc liên quan đến công tác tuyên truyền, vận động người dân tham gia xây dựng nông thôn mới.
- Phạm vi không gian: Toàn bộ địa giới hành chính xã Tân Long, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
- Phạm vi thời gian: Số liệu điều tra, khảo sát thực tế thu thập từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2018; các mốc số liệu thứ cấp đánh giá giai đoạn 2011–2015 và cập nhật đến năm 2017.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng trên hệ thống lý luận về công tác tư tưởng, vận động quần chúng và khung pháp lý thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới:
- Khái niệm và nguyên tắc: Tuyên truyền là hoạt động phổ biến, cung cấp thông tin, kiến thức; vận động là việc thuyết phục, thúc đẩy người dân hành động theo nội dung đã tiếp nhận. Công tác này vận hành dựa trên các nguyên tắc: thông tin chính xác, kịp thời, dễ hiểu; phối hợp chặt chẽ với cơ chế dân chủ cơ sở; bám sát đặc điểm tâm lý, phong tục tập quán của cư dân địa phương.
- Văn bản pháp lý và chính sách: Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; Quyết định số 324/QĐ-TTg phê duyệt đề án Đoàn Thanh niên tham gia xây dựng NTM giai đoạn 2013–2020; Quyết định số 1282/QĐ-UBND của UBND tỉnh Thái Nguyên; Chương trình 135 và Quyết định 147 về phát triển lâm nghiệp.
- Khung chức năng của hệ thống chính trị cơ sở: Phân định vai trò tuyên truyền và vận động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc (cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh"), Hội Nông dân (chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, làm đường giao thông), Đoàn Thanh niên ("Tuổi trẻ chung tay xây dựng nông thôn mới"), Hội Liên hiệp Phụ nữ ("Gia đình 5 không, 3 sạch"), Hội Cựu chiến binh và Ban phát triển thôn.
Phương pháp nghiên cứu được triển khai cụ thể:
- Phương pháp chọn mẫu: Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản với tổng dung lượng mẫu $n = 110$ đối tượng khảo sát trên địa bàn xã Tân Long, bao gồm:
- 50 cán bộ (trong đó có 32 cán bộ cấp xã và 18 cán bộ cấp thôn, xóm).
- 60 hộ gia đình nông dân sinh sống tại các xóm bản.
- Phương pháp thu thập dữ liệu:
- Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ các báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội của UBND xã Tân Long, biên bản nghiệm thu năng suất cây trồng của Phòng Nông nghiệp & PTNT huyện Đồng Hỷ (năm 2017), số liệu quan trắc khí tượng thủy văn tỉnh Thái Nguyên, văn kiện đồ án quy hoạch NTM xã phê duyệt ngày 22/04/2013.
- Dữ liệu sơ cấp: Sử dụng phiếu điều tra bán cấu trúc phỏng vấn trực tiếp cán bộ và người dân về nhận thức nội dung, phương thức tuyên truyền tiếp cận, mức độ tham gia đóng góp tiền mặt, ngày công lao động và hiến đất.
- Phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu: Phương pháp thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình) và phương pháp phân tích, tổng hợp logic; dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS và Microsoft Excel (PivotTable).
Nội dung chính theo từng chương
Phần I: Đặt vấn đề
Phần mở đầu xác lập tính cấp thiết của đề tài từ góc độ vai trò của hệ thống chính trị cơ sở trong việc cụ thể hóa các tiêu chí NTM. Tác giả khẳng định cấp xã, thôn là nơi trực tiếp diễn ra đời sống của cư dân, do đó cán bộ cơ sở đóng vai trò then chốt trong việc làm gương và thuyết phục nhân dân. Phần này nêu rõ mục tiêu chung, 6 mục tiêu cụ thể, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của khóa luận trong việc hoàn thiện phương pháp vận động quần chúng ở địa bàn miền núi.
Phần II: Tổng quan tài liệu
Tác giả hệ thống hóa các vấn đề lý luận về bản chất, nguyên tắc, 4 yêu cầu nghiệp vụ của tuyên truyền viên cơ sở (nắm vững nội dung gắn với thực tiễn, am hiểu đối tượng, trung thực khi thuyết phục, đánh giá được mức độ hài lòng của dân) và 5 hình thức tuyên truyền (tuyên truyền miệng, hệ thống thông tin đại chúng, công cụ trực quan, hoạt động văn hóa - lễ hội, tham quan mô hình điển hình). Nội dung tuyên truyền được chia thành 5 nhóm trọng tâm: tham gia ý kiến quy hoạch, đóng góp nguồn lực, trực tiếp thực hiện tiêu chí gia đình/thôn xóm, giám sát cộng đồng và nỗ lực nâng cao thu nhập. Chương này cũng phân tích kinh nghiệm thực tiễn xây dựng khu dân cư kiểu mẫu tại tỉnh Hà Tĩnh và đánh giá kết quả xây dựng NTM của tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011–2015.
Phần III: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết về đối tượng nghiên cứu là các hoạt động tuyên truyền, vận động tại xã Tân Long, huyện Đồng Hỷ trong thời gian từ tháng 1 đến tháng 5/2018. Tác giả thiết kế quy trình chọn mẫu $n = 110$ (50 cán bộ, 60 hộ dân), xây dựng hệ thống chỉ tiêu thu thập số liệu sơ cấp, thứ cấp và quy định phương pháp xử lý dữ liệu bằng thống kê mô tả thông qua Excel và SPSS.
Phần IV: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương này tập trung phân tích thực trạng tự nhiên, kinh tế - xã hội và đánh giá chi tiết công tác xây dựng NTM cùng hoạt động tuyên truyền, vận động tại xã Tân Long:
| Chỉ tiêu tự nhiên và dân sinh |
Số liệu thực tế tại xã Tân Long |
| Tổng diện tích tự nhiên |
4.114,7 ha |
| Đất lâm nghiệp có rừng |
2.265,4 ha (chiếm 55% diện tích tự nhiên) |
| Đất sản xuất nông nghiệp |
980,36 ha (chiếm 24% diện tích tự nhiên) |
| Đất đồi núi |
Chiếm 70% tổng diện tích |
| Dân số và phân bố dân tộc |
4.036 nhân khẩu / 9 xóm bản (Dân tộc Nùng: 44,81%; Kinh: 23,43%; Dân tộc khác: 32,75%) |
| Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên / Mật độ |
0,12% / 146 người/km² |
| Tỷ lệ lao động Nông - Lâm nghiệp |
Chiếm 95% tổng số 4.036 lao động |
| Nhiệt độ / Độ ẩm / Lượng mưa TB |
22°C / 82% / 2.097 mm/năm (mùa mưa chiếm 91,6%) |
Về sản xuất nông - lâm nghiệp năm 2017:
- Tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 3.600 tấn (đạt 106% kế hoạch năm).
- Cây lúa: Diện tích gieo cấy 475 ha, năng suất bình quân 47 tạ/ha, sản lượng 2.100 tấn.
- Cây ngô: Diện tích gieo trồng 330 ha, năng suất bình quân 44,3 tạ/ha, sản lượng 1.450 tấn (giống ngô lai NK4300, CP333, NK6654, P4199 chiếm 97%).
- Cây chè: Tổng diện tích 165 ha; trong đó chè kinh doanh 160 ha (năng suất 115,6 tạ/ha, sản lượng 1.850 tấn), chè trồng mới bằng giống LDP1 đạt 5,3 ha.
- Lâm nghiệp: Diện tích trồng rừng mới đạt 100 ha; khai thác 1.142,8 m³ gỗ keo rừng trồng.
| Danh mục công trình / Hạng mục NTM (2011–2015) |
Quy mô / Kinh phí thực hiện |
| Đường trục xóm, ngõ xóm (Đồng Mây, Đồng Luông, Làng Mới, Ba Đình, Đồng Mẫu, Làng Giếng) |
10 km (Kinh phí: trên 1 tỷ đồng) |
| Đường bê tông xóm Mỏ Ba, Lân Quan |
7,5 km (Kinh phí nhà nước đầu tư: 4,7 tỷ đồng) |
| Tu sửa đường liên xóm |
1.500 m (Kinh phí nhà nước: 400 triệu đồng) |
| Trường mầm non xã Tân Long |
Kinh phí đầu tư: 2,7 tỷ đồng |
| Đập dâng xóm Hồng Phong |
Kinh phí nguồn vốn thủy lợi huyện: 1,9 tỷ đồng |
| Nhà văn hóa xóm Lân Quan |
Kinh phí xây mới: 650 triệu đồng |
| Đóng góp đất đai của người dân |
Hiến 03 ha đất làm đường giao thông |
| Hỗ trợ sản xuất từ Chương trình 135 |
Tổng kinh phí: 1,2 tỷ đồng |
Tác giả phân tích kết quả khảo sát về trình độ cán bộ, các hình thức phổ biến thông tin, tần suất tiếp cận của người dân, sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội và mức độ đồng thuận của nhân dân trong việc đóng góp tiền mặt, ngày công và hiến đất.
Phần V: Kết luận và kiến nghị
Tổng hợp những kết quả đạt được và tồn tại trong công tác vận động quần chúng tại địa bàn; đưa ra các nhóm khuyến nghị cụ thể đối với UBND huyện Đồng Hỷ, UBND xã Tân Long và cộng đồng người dân sở tại nhằm củng cố tính bền vững của các tiêu chí NTM.
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu thực tế từ văn bản:
- Về hạ tầng và quy hoạch: Đồ án quy hoạch và đề án xây dựng NTM xã Tân Long được hoàn thành, phê duyệt ngày 22/04/2013. Trong giai đoạn 2011–2015, xã đã huy động xây dựng hoàn thành 10 km đường trục xóm, 7,5 km đường Mỏ Ba – Lân Quan, tu sửa 1.500 m đường liên xóm; hoàn thành trường mầm non (2,7 tỷ đồng), đập dâng Hồng Phong (1,9 tỷ đồng) và nhà văn hóa xóm Lân Quan (650 triệu đồng).
- Về huy động sức dân: Công tác tuyên truyền, vận động đã tạo chuyển biến nhận thức rõ rệt, vận động các hộ gia đình tự nguyện hiến 03 ha đất phục vụ mở rộng mạng lưới giao thông nông thôn và đóng góp ngày công lao động xây dựng công trình phúc lợi.
- Về văn hóa, xã hội và môi trường: Xã duy trì phổ cập giáo dục tiểu học và THCS, có 02 trường học đạt chuẩn quốc gia mức độ 1; đạt chuẩn quốc gia về y tế xã với tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt 100%; 22/22 cán bộ công chức xã đạt chuẩn theo quy định; 5/5 đoàn thể chính trị - xã hội cơ sở hoạt động đồng bộ.
- Tồn tại ghi nhận: Việc công bố và cắm mốc chỉ giới quy hoạch còn chậm; các mô hình sản xuất nông nghiệp còn nhỏ lẻ, chưa hình thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn; nhóm tiêu chí về nhà ở dân cư, hình thức tổ chức sản xuất và môi trường (chưa có bãi rác tập trung) đạt ở mức thấp.
Các giải pháp tác giả đề xuất:
- Kiện toàn và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ tuyên truyền cấp xã, thôn; tổ chức tập huấn chuyên sâu về kỹ năng đối thoại, thuyết phục và nghiệp vụ xây dựng NTM.
- Đa dạng hóa hình thức truyền thông: kết hợp tuyên truyền miệng qua các buổi họp xóm với hệ thống loa truyền thanh cơ sở, pano trực quan và lồng ghép trong các hoạt động văn hóa, văn nghệ.
- Đảm bảo thực hiện nghiêm túc quy chế dân chủ cơ sở: công khai, minh bạch các khoản đóng góp, các dự án đầu tư và đồ án quy hoạch để người dân trực tiếp tham gia giám sát.
- Gắn công tác tuyên truyền NTM với hỗ trợ kỹ thuật sản xuất, chuyển dịch cơ cấu cây trồng (mở rộng diện tích chè cành LDP1, ngô lai) nhằm trực tiếp nâng cao thu nhập cho nông hộ.
Đóng góp của nghiên cứu:
Khóa luận cung cấp nguồn dữ liệu thực chứng chi tiết về thực trạng công tác tuyên truyền, vận động xây dựng NTM tại một xã vùng cao có đông đồng bào dân tộc thiểu số (người Nùng chiếm 44,81%). Nghiên cứu phản ánh trung thực mức độ tiếp nhận chính sách và sự tham gia đóng góp nguồn lực của người dân, làm cơ sở thực tế cho việc điều chỉnh giải pháp vận động quần chúng ở cấp cơ sở.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Không gian nghiên cứu giới hạn trong phạm vi hành chính xã Tân Long, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
- Thời gian khảo sát thực địa diễn ra từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2018, số liệu phản ánh thực trạng tại thời điểm điều tra.
- Quy mô mẫu dừng ở mức 110 đối tượng (50 cán bộ và 60 hộ gia đình nông dân).
- Nghiên cứu tập trung vào phân tích thống kê mô tả, chưa đi sâu phân tích định lượng đa biến về các yếu tố tác động đến mức độ sẵn sàng chi trả hay hiến đất của nông hộ.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi khảo sát so sánh giữa các xã có điều kiện tự nhiên, kinh tế khác nhau trên địa bàn huyện Đồng Hỷ hoặc tỉnh Thái Nguyên.
- Nghiên cứu chuyên sâu về hiệu quả của các mô hình kinh tế tập thể, hợp tác xã nông nghiệp gắn với chuỗi giá trị sản phẩm chè và lâm nghiệp trong giai đoạn xây dựng nông thôn mới nâng cao.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng sử dụng: Sinh viên, học viên chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Phát triển nông thôn, Quản lý kinh tế và Khuyến nông; cán bộ lãnh đạo cấp xã, cán bộ ban chỉ đạo NTM cấp huyện và thành viên Ban phát triển các thôn bản.
- Phần nội dung có giá trị tham khảo cao:
- Khung phân tích 5 hình thức và 5 nhóm nội dung tuyên truyền, vận động xây dựng NTM ở cấp cơ sở.
- Thiết kế bảng hỏi bán cấu trúc và phương pháp tiếp cận điều tra cán bộ xã, trưởng thôn và hộ dân nông thôn.
- Hệ thống số liệu chi tiết về hiện trạng hạ tầng, cơ cấu sử dụng đất, năng suất các loại cây trồng (lúa, ngô, chè, cây lâm nghiệp) và khối lượng huy động hiến đất làm đường tại xã Tân Long.
Câu hỏi thường gặp
1. Đề án quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại xã Tân Long được cấp có thẩm quyền phê duyệt vào thời điểm nào?
Đồ án quy hoạch và đề án xây dựng nông thôn mới của xã Tân Long được hoàn thành và chính thức phê duyệt vào ngày 22 tháng 4 năm 2013, bao gồm nội dung đánh giá hiện trạng 19 tiêu chí và xác định lộ trình thực hiện đến năm 2020.
2. Cỡ mẫu điều tra và cơ cấu đối tượng phỏng vấn trong nghiên cứu này được phân bổ ra sao?
Tổng dung lượng mẫu khảo sát là 110 đối tượng, được lựa chọn theo phương pháp ngẫu nhiên đơn giản, bao gồm 50 cán bộ (32 cán bộ cấp xã, 18 cán bộ cấp thôn xóm) và 60 hộ gia đình nông dân sinh sống trên địa bàn xã Tân Long.
3. Người dân xã Tân Long đã tham gia đóng góp diện tích đất cụ thể là bao nhiêu để phục vụ các công trình xây dựng NTM giai đoạn 2011–2015?
Thông qua công tác tuyên truyền và vận động, các hộ gia đình trên địa bàn xã Tân Long đã tự nguyện tham gia hiến tổng cộng 03 ha đất để phục vụ thi công, mở rộng các tuyến đường giao thông nông thôn.
4. Kết quả sản xuất cây chè – cây trồng thương phẩm chủ lực của xã Tân Long – đạt các chỉ số nào trong năm 2017?
Năm 2017, tổng diện tích chè toàn xã là 165 ha; trong đó diện tích chè kinh doanh là 160 ha với năng suất bình quân 115,6 tạ/ha, sản lượng đạt 1.850 tấn (đạt 100% kế hoạch). Diện tích chè trồng mới và trồng lại đạt 5,3 ha, toàn bộ sử dụng giống chè cành chất lượng cao LDP1 được Nhà nước hỗ trợ 100% giống.
5. Các công trình hạ tầng thiết yếu nào đã được đầu tư xây dựng tại xã Tân Long trong giai đoạn 2011–2015 và nguồn vốn thực hiện như thế nào?
Các công trình bao gồm: 10 km đường trục xóm/ngõ xóm (vốn nhà nước và dân đóng góp trên 1 tỷ đồng); 7,5 km đường bê tông xóm Mỏ Ba – Lân Quan (ngân sách nhà nước đầu tư 4,7 tỷ đồng); tu sửa 1.500 m đường liên xóm (400 triệu đồng); xây dựng trường mầm non xã (2,7 tỷ đồng); xây dựng đập dâng xóm Hồng Phong (vốn thủy lợi huyện 1,9 tỷ đồng); xây mới nhà văn hóa xóm Lân Quan (650 triệu đồng).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Đức Thiện đã phản ánh toàn diện thực trạng kinh tế - xã hội, tiến độ triển khai Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới và vai trò của công tác tuyên truyền, vận động người dân tại xã Tân Long, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Thông qua việc kết hợp số liệu thứ cấp và dữ liệu khảo sát thực tế trên 110 cán bộ và hộ dân, tác giả đã chỉ rõ những kết quả đạt được về đầu tư hạ tầng thiết yếu, phát triển cây trồng chủ lực, huy động hiến 03 ha đất, đồng thời chỉ ra các hạn chế trong công tác cắm mốc quy hoạch và tiêu chí môi trường. Các giải pháp và kiến nghị được xây dựng sát hợp với đặc thù của một xã miền núi, có giá trị ứng dụng thiết thực cho công tác chỉ đạo và vận động quần chúng tại địa phương.