TỦ SÁCH KHUYẾN NÔNG PHỤC vụ NGƯỜI LAO ĐỘNG JNGUYÊN HỌC LIỆU HUÖNG DÄN VE SINH, CHÄM SÖC GIA SÜC Tủ SÁCH KHUYẾN NỔNG PHỤC vụ NGƯỜI LAO ĐỘNG CHU THỊ THƠM, PHAN THỊ LÀI NGUYỄN VĂN TÓ (B iên soạn) HIÍỚKDÂIV VỆ sun. ( HÀM SÓC GIA súc NHÀ XUẤT BẢN LAO ĐỘNG HÀ NỘI-2006 LỜI NÓIĐẦU Cùng với sự p h á t triển của các ngành kinh tế khác, trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi đã có những bước tiến nhất định. Người dân không chỉ chăn nuôi nhằm mục đích tạo nguồn thực phẩm cho gia đình mà dần dần đã biến nó thành hình thức sản xuất có lãi, mang lại hiệu quả cao. Bên cạnh những tiến bộ trong chăn nuôi như áp dụng các kỹ thuật mới, tạo được nhiều giống cao sản, chuỵên cho thịt, sữa, trứng, việc chăn nuôi trong các hộ gia đình cũng như ở các cơ sở chăn nuôi vẫn còn nhiều khó khăn phải đối đầu, chang hạn vấn đề về dịch bệnh trong mấy năm gần đây đã gây tổn hại không nhỏ về kinh tê'cho nông dân và sức khoẻ của người tiêu dùng.
Một trong những nguyên nhân gây nên dịch bệnh là vấn đề vệ sinh gia súc, gia cầm. Từ chuồng trại, nước, thức ăn đến việc vận chuyển gia súc, cách ly gia súc khi có dịch bệnh là một vấn đề rất quan trọng. Cuốn "Hướng dẫn vệ sinh, chăm sóc gia súc" nhằm trình bày các kiến thức cụ thê về vệ sinh phòng bệnh gia súc, từ khâu chọn đất làm chuồng trại, nước và thức ăn cho gia súc, xử lý p h ế thải, cho tới khâu vận chuyển và giết mô gia súc khi có dịch v. nhằm giúp các hộ nông dãn có những kiến thức cơ bản cần thiết về vệ sinh gia súc, tránh được bệnh dịch, chăn nuôi đạt hiệu quả cao.
VỆ SINH GIA SÚC TRONG PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI 1. K hái n iệ m k h o a h ọ c vệ sin h g ia sú c Vệ sinh gia súc là khoa học nghiên cứu về quan hệ giữa điều kiện ngoại cảnh (điều kiện thiên nhiên và điều kiện chăn nuôi) và cơ thể gia súc để bảo vệ sức khoẻ và nâng cao sức sản xuất của gia súc. Việc hiểu rõ tác động của những nhân tố ngoại cảnh như điều kiện thức ăn, chăm sóc, sử dụng gia súc. đến cơ thể gia súc, sẽ tạo ra những con vật khoẻ mạnh, có sức chông đỡ với bệnh tật, là điều kiện cơ bản để cải tạo giống, nâng cao sức sản xuất của từng loài gia súc chăn nuôi nhằm những mục đích khác nhau.
Thực tế, p h át triển chăn nuôi gia súc cho thấy, vệ sinh gia súc phải chú ý đến mấy điểm sau: - Vệ sinh chuồng trại. - Vệ sinh thức ăn. - Vệ sinh chăn thả. - Vệ sinh th ân thể.
- Vệ sinh khi vận chuyển gia súc. Vệ sinh đối với từng loại gia súc. - Vệ sinh phòng bệnh, phòng dịch. 7 Tác dụ ng củ a vệ sin h gia sú c rạ o được giống gia súc tốt, khoẻ, có sức chống chịu Cho năng suất thịt, sữa, trứng.
đem lại hiệu quả tế cao. rránh và ngăn ngừa được dịch bệnh. 3ảo vệ môi trường, đất, nước, không khí. Bảo vệ sức khoẻ cho cộng đồng.
VỆ SINH MÔI TRƯỜNG 1. Không khí - Không khí là một trong những nhân tố ngoại cảnh quan trọng bao vây quanh cơ thể gia súc. Không những sự biến đổi về thành phần hoá học của không khí (0 2> C 0 2.) ảnh hưỏng đến sự sông của gia súc, mà trạng thái vật lý của không khí (nhiệt độ, độ ẩm, luồng không khí, khí áp, ánh m ặt tròi.) thây đổi cũng ảnh hứởng tới trạng thái sinh lý, sức khoẻ và sức sản xuất của gia súc (Ví dụ: N hiệt độ và độ ẩm ảnh hưởng đến sản lượng sữa của bò sữa). Nhiệm vụ của khoa học vệ sinh gia súc là phải trừ bỏ những điều kiện có hại, duy trì và tạo nên những điều kiện có lợi cho cơ thể gia súc, để giảm bốt bệnh tật, chết chóc, bảo vệ sức khoẻ và nâng cao sức sản xuất của gia súc.
Như ta đã biết ánh m ặt trời, lượng mưa rơi, chế độ nhiệt, chế độ ẩm, gió. tạo nên những yếu tô" của khí hậu một địa phương. Nưốc ta nằm ở vùng nhiệt đới gió mùa. Ở miền Bắc, từ tháng 10 đến tháng 3, khốỉ không khí chuyển động từ phía bắc xuống, gây gió bắc và gió mùa đông bắc; không khí lạnh ít ẩm chuyển vào làm cho những tháng lạnh này trong năm ít mưa.
Trong những tháng nóng, gió vận động theo hướng ngược lại từ phía nam lên, 9 ng theo không khí bão hoà ẩm của xích đạo, gây ra i tiết nóng và mưa. ỉh í hậu miền Bắc còn phức tạp hơn nữa vì có mùa ng mù và mưa phùn lạnh ẩm ướt, lại có thòi gian a đoạn giữa thời kỳ bắt đầu thòi tiết nóng đến thời bắt đầu mưa. Do đó, ở miền Bắc có thể chia thành 4 a: 1) Từ tháng 11 đến cuối tháng giêng là mùa khô ih và lạnh (đông); 2) Từ cuốĩ tháng giêng đến đầu tháng I mùa xuân còn lạnh nhưng thêm ẩm (có sương mù, a phùn); 3) Từ đầu tháng 4 đến tháng 7 là mùa hè, .g, trời chói nắng, bắt đầu mưa; vào tháng 5-6 thỉnh ảng có gió nồm đầu mùa; thỉnh thoảng có mưa rào và Ig; 4) Đến đầu tháng 8 mới thật hẳn là mùa thu, trời nóng, mưa giảm, nhiệt độ và độ ẩm thay đổi, gió lốc tih, đôi khi có bão, mùa này kéo dài đến tháng 10. các tỉnh phía Nam trật tự tiếp diễn các mùa khác Ldo không có mưa phùn và ẩm lạnh.
Tháng 4 bắt Lkhô nóng; tháng 8 bắt đầu chuyển sang mùa mưa dài đến tháng giêng; từ thájig giêng đến đầu tháng chí hậu dễ chịu nhất, không nóng lắm cũng không a nhiều. Dộ cao (so với mặt biển) càng tăng thì nhiệt độ càng n, trung bình nếu lên cao lOOm thì nhiệt độ giảm 'ng khoảng 4-5° đốỉ với mùa nóng cũng như mùa h. Miền Bắc, không có mùa đông giá tuyết. Nhiệt độ p tuyệt đối giảm xuống dưới 0° chỉ có ỏ những nơi trên 500m.
3ự phân phối lượng mưa trong năm phụ thuộc vào sự y đổi của gió mùa; thòi kỳ gió nồm mùa nóng, lượng mưa chiếm gần 85%, thời kỳ gió bắc mùa lạnh mưa chỉ chiếm 15% tổng lượng mưa cả năm. Đáng chú ý ỉà sự khác nhau về sô' ngày mưa giữa các m ùa không chênh lệch như sự khác nhau về lượng mưa rỡi. Mùa rét có nhiều ngày mưa phùn; mùa nắng có mưa giông như trú t nước nhưng chỉ trong thời gian ngắn; sự khác nhau giữa thời kỳ mưa mùa hè với thời kỳ không mưa mùa đông không phải ỏ chỗ thòi gian mưa kéo dài mà là ở cường độ mưa. Những trận mưa rào lớn n h ất thường vào khoảng tháng 7-8, chỉ đôi khi mới có mưa rào lớn vào tháng 5 hay tháng 10-11.
Các tỉnh phía Nam, lượng mưa cao n h ất không phải là từ tháng 5 đến tháng 10, mà vào tháng 9-10-11; về mùa hè (từ tháng 5 đến tháng 8) lượng mưa kém rõ rệt; trong những tháng còn lại lượng mưa giảm. Các mùa thay đổi giữa các tỉnh phía Bắc và các tỉnh phía Nam ảnh hưởng tới thòi vụ trồng trọt, nhất là trồng lúa, đồng thòi ảnh hưỗng khác nhau đến sức khoẻ gia súc và đến quy lu ật các bệnh gia súc phát theo mùa. Các cơn giông m ạnh nhất, mưa rào và gió có sức phá hoại mạnh, đều do bão gây ra. Bão thưòng xảy ra nhiều nhất từ tháng 7 đến tháng 11, trong khoảng thòi gian này mỗi tháng có đến 1-2 trậ n lốc.
Sương ít co ở miền Bắc, do biên độ nhiệt độ ngày đêm tương đối cao, sương chỉ có vào tháng 3-4. Độ ẩm tương đốỉ của không khí ở miền Bắc rấ t cao, nhưng ít thay đổi giữa các vùng trong nước. Chỉ ở các tỉnh phía Nam, độ ẩm tương đốỉ trung bình hàng tháng vào tháng khô n h ất mới xuống 73-74%. Độ ẩm tương đổỉ 11 giảm thấp đột ngột khi có gió Lào thổi từ phía Tây g, gió này hanh nóng khô khan thổi nhiều ngày liền thời tiết thiêu đốt khó chịu và gây hạn nặng.
)o độ ẩm không khí cao, nên độ bốc hơi và sự bốc hơi : tế không cao lắm. Tổng số độ bốc hơi trong năm C có thể bốc hơi cao nhất) không ở đâu quá 1000m, là thấp hơn nhiều so vối tổng lượng mưa, và độ ẩm cao, cung cấp đủ nưốc cho một số cây trong thời kỳ LƯa. íói chung, độ ẩm cao nhất trong cả năm thường ng thấp dưới 73%, nhiệt độ trung bình cao nhất hơn ) trong suốt 7 tháng (tháng 3-10) thòi tiết lúc này khó chịu đối với cơ thể động vật, do cân bằng nhiệt cơ thể bị phá võ. Thòi kỳ mưa phùn (tháng 1-3) có lại nằm trong tình trạng thừa ẩm, thiếu nhiệt.
Do khí hậu miền nhiệt đổi có những khó khăn cho việc vệ sức khoẻ gia súc, làm cho nhiều bệnh tật phát 1, nhất là những bệnh do vi trùng và ký sinh trùng t triển mạnh trong điều kiện nóng và ẩm, và cả íng bệnh sinh ra do khô và hanh, bão lụt, do gió Lào. r nhiên khí hậu cũng có những thuận lợi khiến íng cây làm thức ăn cho gia súc phát triển được nh năm, các giốhg gia súc sinh trưởng và phát dục. KNhiệt độ không khí :Điều tiết thể nhiệt 'Thiệt độ thân thể của gia súc tương đối ổn định Sự 1 tiết thể nhiệt của chúng là do sự sinh ra và sự toả ủa nhiệt năng. * Sản sinh nhiệt năng.
Tất cả các tế bào của gia súc không ngừng sản sinh nhiệt năng (nhiều n h ất là bắp thịt, gan, thận, các tuyến) do quá trình oxy hoá của sự sống, n h ất là khi bắp th ịt vận động nhiều. Sự điều tiết thể nhiệt là một cơ cấu hoàn thiện và chịu sự chi phối của hệ thần kinh (trung khu điều tiết thể nhiệt trong mỏm dưới của hành não). Các tuyến nội tiết cũng tham gia điểu tiết thể nhiệt, do các nội tiết tô' kích thích trao đổi vật' chất (tuyến giáp trạng, tuyến lá lách, tuyến sinh dục, tuyến thượng thận). Nhiệt độ bên ngoài quá thấp hay quá cao đều ảnh hưỏng đến sự điều tiết thể nhiệt của gia súc.
* S ự toả nhiệt + Truyền nhiệt: V ật có nhiệt độ cao tiếp xúc vói vật có nhiệt độ thấp, nhiệt sẽ truyền từ vật có nhiệt độ cao đến vật có nhiệt độ thấp. Động vật có thể toả nhiệt từ khắp diện cơ thể ra không khí.