Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Dương Văn Hiếu thuộc chuyên ngành Thú y, Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên (khóa học 2012 – 2016, bảo vệ năm 2017), dưới sự hướng dẫn của ThS. Phạm Thị Trang. Đề tài được thực hiện xuất phát từ yêu cầu đào tạo thực hành lâm sàng và chăn nuôi thực địa theo phương châm “Học đi đôi với hành”, “Lý thuyết gắn liền với thực tiễn”. Mục đích là củng cố kiến thức chuyên môn, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp và tiếp cận các mô hình chăn nuôi gia công công nghiệp liên kết với doanh nghiệp lớn (Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam).

Mục tiêu cụ thể của chuyên đề được xác định rõ:

  1. Đánh giá tình hình chăn nuôi tại cơ sở thực tập.
  2. Thực hiện quy trình phòng, trị bệnh và nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn thịt thương phẩm tại cơ sở.
  3. Thực hiện quy trình phòng, trị bệnh và nuôi dưỡng, chăm sóc đàn gà thịt tại cơ sở.

Tương ứng với mục tiêu là các nhiệm vụ và yêu cầu nghiên cứu:

  1. Đánh giá được tình hình chăn nuôi thực tế tại cơ sở.
  2. Thực hiện được quy trình phòng, trị bệnh và nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn thịt thương phẩm tại cơ sở đạt hiệu quả tốt.
  3. Thực hiện được quy trình phòng, trị bệnh và nuôi dưỡng, chăm sóc đàn gà thịt tại cơ sở đạt hiệu quả tốt.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài gồm đàn gà thịt thương phẩm (giống gà Ai Cập) và đàn lợn thịt thương phẩm nuôi theo hình thức gia công công nghiệp cho Công ty Cổ phần C.P. Việt Nam tại trang trại tư nhân Nguyễn Hồng Phong.

Phạm vi nghiên cứu được phân chia tại hai cơ sở thuộc địa bàn huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên:

  • Trại gà thịt: Đặt tại xã Sơn Cẩm, huyện Phú Lương (khu vực giáp sông Cầu, diện tích chuồng nuôi 1.000 m², quy mô 18.000 con/lứa). Thời gian thực hiện từ ngày 17/12/2016 đến ngày 07/01/2017.
  • Trại lợn thịt: Đặt tại xã Cổ Lũng, huyện Phú Lương (diện tích khuôn viên gần 2 ha, quy mô nuôi 1.150 con lợn thịt/lứa). Thời gian thực hiện từ ngày 08/01/2017 đến ngày 18/05/2017.

Hai cơ sở chịu ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng trung du miền núi phía Bắc, với nhiệt độ trung bình năm 23,4°C, biên độ nhiệt mùa hè và mùa đông chênh lệch lớn (thấp nhất 2,7°C, cao nhất 41°C), lượng mưa trung bình 2.500 mm và độ ẩm không khí trung bình 86,1%. Điều kiện khí hậu này là yếu tố ngoại cảnh tác động trực tiếp đến sức đề kháng và áp lực dịch bệnh trên đàn vật nuôi.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết, tác giả tổng quan hệ thống kiến thức sinh lý học gia súc, quy luật sinh trưởng và bệnh lý truyền nhiễm chuyên khoa:

  • Quy luật sinh trưởng và tích lũy mô cơ: Dẫn luận khái niệm của Johansson L. (1972) về quá trình tổng hợp protein tế bào, quan điểm của Trần Đình Miên và Vũ Kính Trực (1975) về sự tăng trưởng các chiều kích thước (dài thân, vòng ngực, cao vây, vòng ống). Hệ thống hóa quy luật ưu tiên dinh dưỡng qua các giai đoạn phát triển: hệ thần kinh → tuyến nội tiết, tiêu hóa → bộ xương → hệ cơ bắp → mô mỡ. Khi khẩu phần giảm 20% dinh dưỡng, tích lũy mỡ ngưng trệ; giảm 40% dinh dưỡng thì quá trình tích lũy nạc và mỡ dừng lại hoàn toàn.
  • Yếu tố ngoại cảnh và di truyền: Phân tích ảnh hưởng của mật độ nuôi, nhiệt độ môi trường thích hợp cho lợn nuôi béo (15 – 18°C), độ ẩm thích hợp (70%), cùng sự khác biệt về tiềm năng tăng trọng giữa lợn Móng Cái (300 – 350 g/ngày), lợn lai F1 (550 – 600 g/ngày) và lợn ngoại (700 – 800 g/ngày) theo Trần Văn Phùng và cs. (2004), Nguyễn Thiện và cs. (2005).
  • Bệnh học chuyên khoa:
    • Bệnh viêm đường hô hấp mạn tính (CRD) ở gà do vi khuẩn Mycoplasma gallisepticum.
    • Bệnh suyễn lợn (viêm phổi địa phương) do Mycoplasma hyopneumoniae, phân tích qua 3 thể bệnh: thể mãn tính, thể mang trùng và thể viêm phổi phức hợp.
    • Hội chứng tiêu chảy ở lợn do tổ hợp vi khuẩn đường ruột (Escherichia coli, Salmonella, Clostridium perfringens), virus (TGE, Rota-virus, Parvovirus) và ký sinh trùng đường ruột (giun đũa, sán lá ruột). Tác giả dẫn chứng cơ chế bám dính qua plasmid (K88, K89, Hly) theo Sokol và cs. (1981) và hai nhóm độc tố đường ruột Enterotoxin chịu nhiệt (ST) và không chịu nhiệt (LT) theo Smith và cs. (1967).

Phương pháp nghiên cứu được triển khai theo các kỹ thuật thực địa:

  • Phương pháp điều tra, khảo sát: Phỏng vấn cán bộ quản lý, kỹ sư giám sát kỹ thuật của công ty C.P., thu thập dữ liệu thứ cấp từ sổ sách theo dõi đàn của trang trại giai đoạn 2016 – 2017.
  • Kỹ thuật vệ sinh và an toàn sinh học: Áp dụng quy trình bảo hộ nghiêm ngặt (tắm khử trùng, thay quần áo, đi ủng bảo hộ), sát trùng chuồng trại bằng hóa chất chuyên dụng (Virkon pha tỷ lệ 10g/4 lít nước tại trại gà; Ommicide pha tỷ lệ 320ml/1000 lít nước tại trại lợn; rắc vôi bột lối đi và khuôn viên).
  • Quy trình phòng bệnh bằng vắc-xin: Thực hiện tiêm phòng định kỳ theo phác đồ kỹ thuật của C.P. Việt Nam (gà tiêm vắc-xin Cúm H5N1 sau 3 ngày nhập; lợn tiêm Dịch tả lúc 1 tuần tuổi, Tụ huyết trùng lúc 2 tuần tuổi, Lở mồm long móng kết hợp Mycoplasma lúc 3 tuần tuổi).
  • Phương pháp lâm sàng và điều trị: Giám sát triệu chứng lâm sàng hàng ngày tại các ô chuồng, phân loại cá thể nghi bệnh, cách ly và áp dụng phác đồ can thiệp bằng hóa dược, kháng sinh đặc hiệu kết hợp thuốc bổ trợ điện giải, vitamin, men vi sinh.
  • Phương pháp xử lý dữ liệu: Toàn bộ số liệu theo dõi lâm sàng và nhật ký chăn nuôi được tổng hợp, xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel 2007 để tính toán số lần, tỷ lệ phần trăm (%).

Nội dung chính theo từng phần của khóa luận

Phần 1: Mở đầu

Tác giả nêu rõ vị trí của ngành chăn nuôi trong nông nghiệp, tầm quan trọng của giai đoạn thực tập chuyên môn đối với sinh viên ngành Thú y, xác định 3 mục đích nghiên cứu và 3 yêu cầu cụ thể cần đạt được trong thời gian bám sát trang trại sản xuất.

Phần 2: Tổng quan nghiên cứu

Nội dung chương tập trung mô tả chi tiết điều kiện tự nhiên, cơ cấu tổ chức và hạ tầng của hai cơ sở thực tập:

  • Trại gà Nguyễn Hồng Phong (xã Sơn Cẩm): Thành lập năm 2014, gồm 4 nhân sự (1 quản lý, 3 công nhân). Cơ sở vật chất gồm 2 dãy chuồng lớn hai tầng, mỗi tầng chia 3 ô, trang bị giàn làm mát, quạt thông gió, máng uống tự động, máy phát điện dự phòng, kho cám và kho thuốc riêng biệt.
  • Trại lợn Nguyễn Hồng Phong (xã Cổ Lũng): Thành lập năm 2012, gồm 4 nhân sự (1 quản lý, 1 kỹ sư công ty C.P., 2 công nhân), diện tích gần 2 ha. Chương này cũng tổng hợp cơ sở lý luận về đặc điểm sinh trưởng vật nuôi, nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh, triệu chứng, bệnh tích và các nghiên cứu trong nước, ngoài nước về bệnh suyễn lợn (Mycoplasma hyopneumoniae) cùng hội chứng tiêu chảy gia súc.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày cụ thể đối tượng nghiên cứu (đàn gà thịt và lợn thịt thương phẩm), địa điểm và khung thời gian thực tập của từng trại. Liệt kê 7 chỉ tiêu theo dõi chính: cơ cấu đàn vật nuôi, khối lượng công việc vệ sinh sát trùng, số lượng tiêm phòng vắc-xin, số lượng vật nuôi được chẩn đoán và điều trị, khối lượng công việc nuôi dưỡng chăm sóc tại trại gà và trại lợn. Trình bày chi tiết bảng lịch trình sát trùng hàng tuần tại trại lợn và phương pháp xử lý số liệu trên Microsoft Excel 2007.

Phần 4: Kết quả và thảo luận

Đây là chương nội dung trọng tâm của khóa luận, phản ánh toàn bộ dữ liệu thực tế thu thập được qua 8 bảng số liệu:

  • Đánh giá quy mô đàn: Duy trì ổn định qua các năm 2016 – 2017 ở mức 18.000 con gà Ai Cập (nuôi 5,5 – 6 lứa/năm) và 1.150 lợn thịt thương phẩm/lứa.
  • Công tác chăn nuôi và thú y tại trại gà: Thực hiện 44/44 lần vệ sinh chuồng, 22/22 lần đảo trấu, 2/2 lần phun sát trùng định kỳ, 44/44 lần cho ăn và quét sân chuồng, tham gia 1 đợt xuất bán gà thương phẩm. Ghi nhận tốc độ tăng trọng của gà đạt bình quân 1,2 kg/con ở tuần thứ 3 và đạt 2,8 kg/con khi xuất chuồng (sau 45 ngày nuôi), tỷ lệ sống đạt 98,2%. Về dịch bệnh, ghi nhận 2.017 con gà mắc bệnh viêm đường hô hấp mạn tính (CRD), chiếm 11,2% tổng đàn; can thiệp điều trị bằng Doxycline 150 kết hợp thuốc bổ trợ giúp chữa khỏi 1.705 con (tỷ lệ khỏi 84,5%).
  • Công tác chăn nuôi và thú y tại trại lợn: Thực hiện 159/159 lần vệ sinh chuồng hàng ngày, 194/194 lần cho ăn, gạt phân nền chuồng và máng nước, 97/97 lần dũi máng ăn, tham gia 1 đợt xuất bán lợn sau chu kỳ nuôi 5 tháng. Tuy nhiên, công tác phun sát trùng định kỳ quanh trại chỉ đạt 12/65 lần (18,46%) và rắc vôi đường đi đạt 20/150 lần (13,30%). Về tiêm phòng vắc-xin, tác giả tham gia tiêm đạt tỷ lệ trên 90% toàn đàn (Tụ huyết trùng đạt 91,30%, Lở mồm long móng đạt 97,83%, Dịch tả đạt 98,26%, Mycoplasma đạt 99,57%). Về điều trị bệnh, ghi nhận 402 lợn mắc hội chứng tiêu chảy (34,9% tổng đàn), điều trị khỏi 390 con (97,01%) bằng Nor 100; ghi nhận 91 lợn mắc bệnh viêm phổi (7,9% tổng đàn), điều trị khỏi 83 con (91,21%) bằng Dynamutilin 10%.

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Đưa ra kết luận tổng hợp về tỷ lệ mắc bệnh thực tế trên đàn gà (CRD chiếm 11,2%) và đàn lợn (tiêu chảy chiếm 34,9%, viêm phổi chiếm 7,9%). Đưa ra đề nghị trang trại cần siết chặt hơn nữa quy trình vệ sinh phòng bệnh và kiến nghị Nhà trường tiếp tục duy trì các đợt thực tập tại cơ sở chăn nuôi thực tế cho sinh viên các khóa sau.

Kết quả và đóng góp thực tiễn

Các kết quả định lượng chính trong văn bản

Bảng 1: Quy mô đàn và năng suất chăn nuôi gà thịt tại trang trại

Chỉ tiêu theo dõi Giá trị ghi nhận
Quy mô đàn gà nuôi thường xuyên 18.000 con/lứa (giống gà Ai Cập)
Chu kỳ nuôi xuất bán 45 ngày
Số lứa nuôi trong năm 5,5 – 6 lứa/năm
Khối lượng trung bình tuần thứ 3 1,2 kg/con
Khối lượng trung bình khi xuất bán 2,8 kg/con
Tỷ lệ nuôi sống toàn đàn 98,2%

Bảng 2: Kết quả thực hiện công tác vệ sinh, chăm sóc đàn gà (22 ngày thực tập)

STT Hạng mục công việc Yêu cầu (lần) Thực hiện (lần) Tỷ lệ hoàn thành (%)
1 Cho gà ăn hàng ngày 44 44 100
2 Vệ sinh chuồng trại hàng ngày 44 44 100
3 Đảo trấu nền chuồng 22 22 100
4 Quét máng nước 22 22 100
5 Vệ sinh máng ăn 22 22 100
6 Quét dọn sân chuồng 44 44 100
7 Phun sát trùng định kỳ 2 2 100
8 Tham gia xuất bán gà 1 1 100

Bảng 3: Kết quả tiêm phòng vắc-xin trên đàn lợn thịt thương phẩm (quy mô 1.150 con)

Loại vắc-xin tiêm phòng Thời điểm tiêm theo quy trình Số lượng thực hiện (con) Tỷ lệ đạt (%)
Vắc-xin Tụ huyết trùng Lợn nhập chuồng được 2 tuần 1.050 91,30
Vắc-xin Lở mồm long móng Lợn nhập chuồng được 3 tuần 1.125 97,83
Vắc-xin Dịch tả lợn Lợn nhập chuồng được 1 tuần 1.130 98,26
Vắc-xin Mycoplasma Lợn nhập chuồng được 3 tuần 1.145 99,57

Bảng 4: Tình hình dịch bệnh và hiệu quả can thiệp điều trị tại hai trại

Đối tượng Bệnh mắc phải Số mắc (con) Tỷ lệ mắc/tổng đàn (%) Thuốc điều trị chính Số chữa khỏi (con) Tỷ lệ khỏi (%)
Đàn gà Viêm đường hô hấp (hen, CRD) 2.017 11,20 Doxycline 150 1.705 84,50
Đàn lợn Hội chứng tiêu chảy 402 34,90 Nor 100 390 97,01
Đàn lợn Viêm phổi 91 7,90 Dynamutilin 10% 83 91,21

Phác đồ can thiệp và giải pháp kỹ thuật tác giả đã áp dụng

  • Phác đồ điều trị bệnh CRD ở gà:
    • Vệ sinh, khử trùng không khí chuồng trại trực tiếp bằng dung dịch Ioguard-300 hoặc Bestaquam-S (liều 2 – 4 ml/lít nước).
    • Dùng kháng sinh Doxycline 150 liều 10 mg/kg thể trọng, cho uống liên tục trong 5 ngày.
    • Bổ trợ: Bổ sung chất điện giải và vitamin chống xuất huyết (Amilyte, Unisol 500 hoặc Vitrolyte liều 1 – 2 g/lít nước, bắt buộc có Vitamin K); giải độc và hỗ trợ chức năng gan thận (Soramin hoặc Livercin liều 1 – 2 ml/lít nước); bổ sung men vi sinh sống hỗ trợ tiêu hóa (Zymepro liều 1 g/lít nước uống hoặc Perfectzyme liều 100 g/50 kg thức ăn).
  • Phác đồ điều trị bệnh trên đàn lợn:
    • Hội chứng tiêu chảy: Sử dụng Nor 100, tiêm bắp ngày 1 lần trong 3 ngày liên tục, liều lượng 1 ml/10 – 15 kg thể trọng.
    • Bệnh viêm phổi: Sử dụng Dynamutilin 10%, tiêm bắp ngày 1 lần trong 3 ngày liên tục, liều lượng 2 ml/10 – 15 kg thể trọng.

Đóng góp thực tiễn của khóa luận

Khóa luận cung cấp tập số liệu thực nghiệm đầy đủ về tỷ lệ mắc bệnh thường gặp trong mô hình chăn nuôi gia công công nghiệp tại địa phương. Công trình kiểm chứng hiệu quả thực tế của quy trình phòng bệnh nghiêm ngặt theo tiêu chuẩn doanh nghiệp (vắc-xin và an toàn sinh học), đồng thời xác nhận hiệu lực điều trị của các phác đồ hóa dược lâm sàng đối với các bệnh phổ biến đường tiêu hóa và hô hấp trên gia súc, gia cầm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số điểm hạn chế được xác định dựa trên nội dung và phạm vi nghiên cứu:

  • Thời gian theo dõi tại trại gà còn ngắn (chỉ kéo dài 22 ngày, từ 17/12/2016 đến 07/01/2017), do đó tác giả chỉ theo dõi được một đợt xuất bán và can thiệp điều trị trong một giai đoạn sinh trưởng ngắn của gà.
  • Việc thực hiện chỉ tiêu sát trùng và an toàn sinh học tại trại lợn chưa triệt để so với kế hoạch đề ra: tỷ lệ phun sát trùng định kỳ ngoài khu vực chuồng chỉ đạt 18,46% (12/65 lần) và quét rắc vôi bột lối đi chỉ đạt 13,30% (20/150 lần).
  • Phương pháp chẩn đoán dịch bệnh chủ yếu dựa vào quan sát triệu chứng lâm sàng và dịch tễ học thực địa; đề tài chưa có điều kiện mổ khám bệnh tích vi thể, phân lập mầm bệnh hoặc làm kháng sinh đồ trong phòng thí nghiệm để kiểm tra mức độ kháng thuốc của vi khuẩn.
  • Đề tài tập trung vào việc mô tả kỹ thuật chăm sóc và điều trị lâm sàng, chưa hạch toán chi tiết các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật như hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) hay chi phí thuốc thú y trên từng đơn vị sản phẩm.

Hướng mở rộng từ phạm vi nghiên cứu bao gồm: kéo dài thời gian theo dõi trên nhiều lứa vật nuôi liên tiếp qua các mùa khác nhau trong năm để đánh giá chính xác biến động dịch bệnh theo mùa; lấy mẫu bệnh phẩm để phân lập vi khuẩn và thực hiện kháng sinh đồ nhằm tối ưu hóa phác đồ điều trị; khảo sát toàn diện các chỉ số kinh tế kỹ thuật để đánh giá đầy đủ hiệu quả tài chính của mô hình chăn nuôi gia công.

Giá trị tham khảo

Khóa luận tốt nghiệp này có giá trị tham khảo hữu ích đối với:

  • Sinh viên chuyên ngành Chăn nuôi, Thú y, Bác sĩ thú y chuẩn bị đi thực tập tốt nghiệp: Cung cấp khung nhật ký công việc thực tế, cách bố trí các bảng biểu theo dõi định lượng công tác chăm sóc, sát trùng và tiêm phòng.
  • Kỹ thuật viên, cán bộ quản lý trang trại chăn nuôi lợn và gia cầm quy mô bán công nghiệp, công nghiệp: Cung cấp thông tin tham khảo về phác đồ phối hợp thuốc (kháng sinh đặc hiệu, men vi sinh, chất điện giải, giải độc gan thận) trong điều trị bệnh CRD ở gà, tiêu chảy và viêm phổi ở lợn thịt.
  • Người nghiên cứu về an toàn sinh học và mô hình gia công nông nghiệp: Cung cấp dữ liệu thực tế về các điểm tồn tại trong quy trình an toàn sinh học tại các trại gia công tư nhân (như việc rắc vôi bột và phun sát trùng ngoại cảnh chưa đạt định mức), từ đó tìm giải pháp giám sát quy trình hiệu quả hơn.

Câu hỏi thường gặp

1. Quy mô đàn và tỷ lệ nuôi sống của đàn gà thịt Ai Cập tại cơ sở thực tập đạt mức bao nhiêu?
Trang trại nuôi gà thịt duy trì quy mô ổn định 18.000 con/lứa, xuất bán 5,5 – 6 lứa/năm. Tỷ lệ sống của đàn gà ghi nhận đạt 98,2% so với số lượng gà con nhập ban đầu; trọng lượng trung bình ở tuần thứ 3 đạt 1,2 kg/con và khi xuất bán sau 45 ngày đạt 2,8 kg/con.

2. Công tác tiêm phòng vắc-xin trên đàn lợn thịt thương phẩm đạt kết quả cụ thể như thế nào?
Tác giả đã trực tiếp tham gia tiêm phòng cho đàn lợn 1.150 con với tỷ lệ hoàn thành đều đạt trên 90%: vắc-xin Tụ huyết trùng đạt 91,30% (1.050 con); vắc-xin Lở mồm long móng đạt 97,83% (1.125 con); vắc-xin Dịch tả lợn đạt 98,26% (1.130 con); và vắc-xin Mycoplasma đạt 99,57% (1.145 con).

3. Phác đồ và hiệu quả điều trị bệnh viêm đường hô hấp (CRD) ở đàn gà được ghi nhận ra sao?
Có 2.017 con gà mắc bệnh CRD (chiếm 11,2% tổng đàn). Tác giả đã phun sát trùng chuồng bằng Ioguard-300 hoặc Bestaquam-S (2 – 4 ml/lít), dùng kháng sinh Doxycline 150 liều 10 mg/kg thể trọng trong 5 ngày, kết hợp thuốc bổ trợ điện giải, Vitamin K, giải độc gan thận (Soramin/Livercin) và men tiêu hóa (Zymepro/Perfectzyme). Kết quả chữa khỏi 1.705 con, đạt tỷ lệ 84,5%.

4. Tỷ lệ mắc và kết quả điều trị hội chứng tiêu chảy và bệnh viêm phổi trên đàn lợn đạt bao nhiêu?
Hội chứng tiêu chảy xuất hiện trên 402 con lợn (34,9% tổng đàn), điều trị bằng tiêm Nor 100 liên tục 3 ngày (1 ml/10 – 15 kg thể trọng) chữa khỏi 390 con (đạt 97,01%). Bệnh viêm phổi xuất hiện trên 91 con lợn (7,9% tổng đàn), điều trị bằng tiêm Dynamutilin 10% liên tục 3 ngày (2 ml/10 – 15 kg thể trọng) chữa khỏi 83 con (đạt 91,21%).

5. Vì sao các chỉ tiêu phun sát trùng và rắc vôi tại trại lợn lại có tỷ lệ hoàn thành thấp?
Trong thời gian thực tập, việc phun sát trùng định kỳ ngoài khu vực chu lợn chỉ đạt 18,46% (12/65 lần) và quét rắc vôi đường đi chỉ đạt 13,30% (20/150 lần). Nguyên nhân do trại chỉ tập trung vào vệ sinh nền chuồng hàng ngày (đạt 100%), trong khi việc xử lý môi trường ngoài và rắc vôi chỉ được tăng cường khi có nguy cơ bùng phát dịch bệnh, dẫn đến sự thiếu hụt so với lịch trình định mức lý thuyết.

Kết luận

Khóa luận của sinh viên Dương Văn Hiếu đã tổng kết toàn diện quá trình thực tập kỹ thuật thú y và chăn nuôi thực địa trên quy mô 18.000 gà thịt Ai Cập và 1.150 lợn thịt thương phẩm tại trại Nguyễn Hồng Phong (huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên). Nghiên cứu ghi nhận đầy đủ tỷ lệ mắc thực tế của bệnh CRD trên gà (11,2%), hội chứng tiêu chảy (34,9%) và viêm phổi (7,9%) trên đàn lợn thịt. Đồng thời, công trình khẳng định hiệu quả cao của các phác đồ điều trị lâm sàng bằng Doxycline 150, Nor 100 và Dynamutilin 10% kết hợp các biện pháp chăm sóc, an toàn sinh học trong điều kiện chăn nuôi gia công công nghiệp.