CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU 1.Đặc điểm hoạt động các ĐVSNCT công lập. Khái niệm, đặc điểm của các ĐVSNCT công lập 1. Khái niệm, đặc điểm của các ĐVSNCT Đơn vị sự nghiệp công lập (dưới đây gọi là ĐVSN) là đơn vị do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, có con dấu và TK riêng, thực hiện chức năng phục vụ quản lý nhà nước hoặc cung cấp dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực theo quy định của pháp luật như y tế, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, môi trường, dịch vụ việc làm,…Các ĐVSN công lập hoạt động theo nguyên tắc phục vụ xã hội, không vì mục đích lợi nhuận, phục vụ cho các nhu cầu, lợi ích chung thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức cá nhân, đảm bảo công bằng trong phân phối và khả năng tiếp cận bình đẳng giữa mọi công dân nhất là các dịch vụ cơ bản. Căn cứ vào nguồn thu sự nghiệp, ĐVSN chia thành: - ĐVSNCT là một loại ĐVSN công lập có nguồn thu sự nghiệp, do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thành lập, là đơn vị dự toán độc lập, có tư cách pháp nhân, có TK, có con dấu riêng, tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của Luật kế toán.
- ĐVSN không có thu là đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp, ĐVSN không có nguồn thu, kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do NSNN bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động (gọi là ĐVSN do NSNN bảo đảm chi thường xuyên) hoặc ĐVSN có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên từ 10% trở xuống. Cùng với tiến trình phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, sự tồn tại của các đơn vị sự nghiệp là một tất yếu khách quan. Qua các đơn vị sự nghiệp, Nhà nước cung ứng những sản phẩm, dịch vụ đặc thù mang tính định hướng, chiến lược quốc gia, đảm bảo cho việc tổ chứ, thực hiện các chính sách phúc lợi công cộng, hỗ trợ cho các ngành, lĩnh vực kinh doanh hoạt động bình thường, nâng cao dân trí, bồi 7 dưỡng nhân tài, đảm bảo nguồn nhân lực, thúc đẩy phát triển kinh tế, đảm bảo không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, văn hóa, sức khỏe của nhân dân. ĐVSN công lập có bốn đặc trưng cơ bản: - Các ĐVSN hoạt động theo nguyên tắc phục vụ xã hội, không vì mục tiêu lợi nhuận; - Sản phẩm của các ĐVSN là sản phẩm mang lại lợi ích chung, có tính bền vững và gắn bó hữu cơ với quá trình tạo ra của cải vật chất, giá trị tinh thần, xã hội và có thể sử dụng chung cho nhiều người, nhiều đối tượng trên phạm vi rộng; - Hoạt động của các ĐVSN luôn gắn liền và bị chi phối bởi các chương trình phát triển kinh tế- xã hội của Nhà nước; - Các ĐVSN dù hoạt động trong lĩnh vực nào, có nguồn thu hay không đều giữ vai trong rất quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế quốc dân và thực thi các chính sách xã hội của Nhà nước.
Mỗi hoạt động trong ĐVSN được trang trải bằng một nguồn kinh phí khác nhau và số lượng các hoạt động không giống nhau ở tất cả các đơn vị, sự khác nhau này tạo nên đặc trưng của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh và đặc điểm của các đối tượng gắn với các nghiệp vụ đó. Đặc điểm này ảnh hưởng tới hệ thống chứng từ, hệ thống tài khoản, sổ kế toán và BCTC cần sử dụng để phản ánh thông tin về các đối tượng kế toán gắn với các đơn vị có các đặc điểm hoạt động khác nhau. Chính sự khác nhau đó dẫn đến sự khác nhau trong khối lượng công việc kế toán, do đó ảnh hưởng lớn tới việc xác định khối lượng và phân công công việc, bố trí nhân sự và xây dựng quy chế hoạt động trong bộ máy kế toán nhằm thực hiện tốt công việc quản lý tài chính tại đơn vị. ĐVSN là một bộ phận trong hệ thống các đơn vị của bộ máy quản lý nhà nước nên luôn chịu sự chi phối của Nhà nước thông qua các công cụ quản lý đặc biệt là quản lý tài chính.
Các đơn vị này phải chịu sự điều tiết theo một cơ chế tài chính nhất định và cơ chế tài chính này có thể không giống nhau với ĐVSN thuộc các ngành, các lĩnh vực khác nhau điều đó dẫn đến các thông tin cần thiết từ kế toán phục vụ cho quản lý tài chính cũng sẽ khác nhau, đặc điểm này đòi hỏi bộ máy kế 8 toán, hệ thống các chỉ tiêu trên chứng từ, sổ kế toán, báo cáo kế toán phải được xây dựng phù hợp đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin thích hợp cho quản lý. Phân loại ĐVSNCT Tùy thuộc quan điểm, cách tiếp cận hoặc do các yêu cầu của quản lý nhà nước và các tiêu thức khác nhau mà có thể phân loại các ĐVSNCT theo các cách khác nhau: Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động cụ thể, các ĐVSNCT bao gồm: + ĐVSN hoạt động trong lĩnh vực Giáo dục đào tạo ( Các cơ sở giáo dục mầm non; Các trường tiểu học, trung học phổ thông; Các trung tâm kỹ thuật hướng nghiệp, trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm giáo dục từ xa; các trường trung học chuyên nghiệp, trường dạy nghề; Các trường Đại học, Cao đẳng, Học viện) + ĐVSN hoạt động trong lĩnh vực Y tế, đảm bảo xã hội ( Các bệnh viện công đa khoa, chuyên khoa; Các trạm y tế quận, huyện, phường, xã; Các trung tâm y tế dự phòng; Các trung tâm tiêm chủng) + ĐVSN hoạt dộng trong lĩnh vực Văn hóa thông tin ( Viện nghiên cứu âm nhạc; Viện nghiên cứu sân khấu; Viện nghiên cứu lý luận và lịch sử nghệ thuật; Viện bảo tàng lịch sử; nhà bảo tàng Việt Bắc; Thư viện quốc gia; Khu triển lãm Trung ương; Các nhà hát và các đoàn nghệ thuật; Các trường cao đẳng và trung học văn hóa, nghệ thuật) + ĐVSN hoạt động trong lĩnh vực Khoa học công nghệ ( Ban Quản lý Khu công nghệ cao Hòa Lạc.; Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo; Báo Khoa học và Phát triển; Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam; Trung tâm Công nghệ thông tin ) + ĐVSN hoạt động trong lĩnh vực Thể dục thể thao ( Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam; Báo Văn hóa; Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật; Trung tâm Công nghệ thông tin; Trường Cán bộ quản lý văn hóa, thể thao và du lịch) + ĐVSN hoạt động trong lĩnh vực Nông lâm ngư nghiệp, Thủy lợi (Trung tâm Khuyến nông; Trung tâm Giống; Ban Quản lý Cảng cá Thừa Thiên Huế; Ban 9 Quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Phong Điền; Ban Quản lý Khu Bảo tồn Sao La; Ban Quản lý Rừng phòng hộ Sông Bồ; Ban Quản lý Rừng phòng hộ Sông Hương ) + ĐVSN hoạt động trong lĩnh vực sự nghiệp kinh tế khác. Căn cứ vào mức độ tự chủ nguồn kinh phí, các ĐVSNCT bao gồm: + Đơn vị có nguồn thu SN tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên ( gọi tắt là ĐVSN tự đảm bảo chi phí hoạt động); NSNN không phải cấp kinh phí bảo đảm hoạt động thường xuyên cho đơn vị; + Đơn vị có nguồn thu SN tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thường xuyên, phần còn lại được NSNN cấp (gọi tắt là ĐVSN tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động); + Đơn vị có nguồn thu SN thấp, ĐVSN không có nguồn thu, KPHĐ thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do NSNN bảo đảm toàn bộ KPHĐ (gọi tắt là ĐVSN do NSNN bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động); Căn cứ theo phân cấp quản lý ngân sách thì ĐVSNCT chia thành: + ĐVDT cấp I là ĐV trực tiếp nhận dự toán NS hàng năm do Thủ tướng Chính phủ hoặc Ủy ban nhân dân giao, thực hiện phân bổ, giao dự toán NS cho các ĐV cấp dưới trực thuộc; + ĐVDT cấp II là ĐV cấp dưới ĐVDT cấp I, được ĐVDT cấp I giao dự toán và phân bổ dự toán được giao cho ĐVDT cấp III (trường hợp được ủy quyền của ĐVDT cấp I); + ĐVDT cấp III là ĐV trực tiếp sử dụng NS (đơn vị sử dụng NSNN), được ĐVDT cấp I hoặc cấp II giao dự toán NS; + ĐV cấp dưới của ĐVDT cấp III được nhận kinh phí để thực hiện phần công việc cụ thể, khi chi tiêu phải thực hiện công tác kế toán và quyết toán theo quy định (đơn vị sử dụng NSNN). Mục đích của cách phân loại này nhằm sử dụng và quản lý nguồn kinh phí của Nhà nước một cách chặt chẽ, có hiệu quả.
Cơ chế quản lý đối với ĐVSNCT công lập 1. Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ Ngày 14/2/2015, Chính phủ đã ban hành NĐ 16/2015/NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ của ĐVSN công lập, kịp thời đáp ứng yêu cầu đổi mới, phát triển hoạt động đơn vị công lập trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; điều chỉnh cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng tăng cường trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm, khuyến khích các đơn vị có điều kiện vươn lên tự chủ ở mức cao. Cụ thể, cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ trong NĐ 16/2015/NĐ-CP như sau: Tự chủ trong xây dựng KH: KH thực hiện nhiệm vụ của ĐVSN công bao gồm phần KH do ĐV tự xác định phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, năng lực của ĐV theo quy định của pháp luật và phần KH theo chức năng, nhiệm vụ được giao. Đối với dịch vụ SN công không sử dụng kinh phí NSNN: ĐVSN công tự xây dựng KH thực hiện nhiệm vụ, báo cáo cơ quan quản lý cấp trên để theo dõi, kiểm tra và giám sát việc thực hiện; Đối với dịch vụ SN công sử dụng kinh phí NSNN: ĐVSN công xây dựng KH thực hiện nhiệm vụ báo cáo cơ quan quản lý cấp trên để phê duyệt và quyết định phương thức giao KH cho ĐV thực hiện.
Tự chủ về tổ chức thực hiện nhiệm vụ: Quyết định các biện pháp thực hiện nhiệm vụ theo KH của ĐV, KH của cơ quan quản lý cấp trên giao, đảm bảo chất lượng, tiến độ; Tham gia đấu thầu cung ứng các dịch vụ SN công phù hợp với lĩnh vực chuyên môn của ĐV được cấp có thẩm quyền giao; Liên doanh, liên kết với các tổ chức, cá nhân để hoạt động dịch vụ đáp ứng nhu cầu của XH theo quy định của pháp luật.