Chương 1. TỔNG QUAN VỀ KHỞI NGHIỆP 1. Khái quát về khởi nghiệp 1. Khái niệm khởi nghiệp Khởi nghiệp theo từ điển tiếng Việt đƣợc giải nghĩa là bắt đầu sự nghiệp.
Định nghĩa khởi nghiệp cũng thay đổi qua thời gian với các nhà nghiên cứu khác nhau. Đến đầu thế kỷ 20, định nghĩa khởi nghiệp đã đƣợc hoàn thiện và đƣợc diễn đạt là quá trình thành lập, tổ chức, quản lý một doanh nghiệp mới, tạo ra sản phẩm cung cấp cho thị trƣờng và ngƣời khởi nghiệp là ngƣời sáng lập nên doanh nghiệp đó. Theo Schumpeter (1934,1942), hiểu theo cách truyền thống và phổ biến thì “Khởi nghiệp” là tác nhân của sự thay đổi. Schumpeter phân tích: khởi nghiệp trong điều kiện kinh tế khó khăn thì nó đặc trƣng bởi sự không ngừng thay đổi để đạt tới trạng thái cân bằng mới.
Chức năng của khởi nghiệp là thực hiện đổi mới bằng cách thoát khỏi những thứ quen thuộc, đề xuất kết hợp mới, phá vỡ cái cũ và mang đến cho nền kinh tế trạng thái cân bằng mới. Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo không chỉ hạn chế trong đổi mới công nghệ. Khởi nghiệp gồm ba loại: một là, ngƣời đƣợc thuê để sáng tạo ra các phát minh thƣơng mại – chúng tôi không cho là khởi nghiệp; thứ hai, là những công ty đang hoạt động kinh doanh và họ mở thêm doanh nghiệp mới; thứ ba, là ngƣời khởi nghiệp theo quan điểm của Schumpeter, họ là động lực của đổi mới và sáng tạo (Manus Henrekason and Tino Sanandaji, 2020). Theo Eric Ries (2019) thì Khởi nghiệp là một thể chế con ngƣời đƣợc thiết lập để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ mới dƣới những điều kiện thiếu chắc chắn.
Hoặc theo Eric Ries, tác giả cuốn sách “The Lean Startup: How Constant Innovation Creates Radically Successful Businesses”, Startup là một định chế hoặc tổ chức con ngƣời đƣợc thiết kế nhằm mục đích tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mới trong các điều kiện cực kỳ không chắc chắn. Hiện nay, một quan điểm về khởi nghiệp được sử dụng phổ biến là theo Steve Blank - Giáo sư Đại học Stanford Mỹ, Startup là một tổ chức tạm thời được dùng để tìm kiếm một mô hình kinh doanh có khả năng lặp lại và mở rộng ra được 1 Hiện nay, ở Việt Nam sự biến động của môi trƣờng kinh doanh đang diễn ra mạnh mẽ và phức tạp làm cho sự đổi mới sáng tạo trở thành một điều cần thiết mang tính chiến lƣợc và cấp bách. Đây là đòn bẩy cạnh tranh quan trọng còn lại để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển bền vững của tổ chức. Vì vậy, trong hoạt động khởi nghiệp, xu hƣớng khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đang phát triển rất mạnh mẽ.
Những doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo (Startup) đang là đối tƣợng nhận đƣợc rất nhiều sự hỗ trợ từ Nhà nƣớc. Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025” (Đề án 844) - ISEV đƣợc Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định 844/QĐ-TTg ngày 18/5/2016 đánh dấu động thái cụ thể của Chính phủ để phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Theo đề án 844, “Doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo là loại hình doanh nghiệp có khả năng tăng trưởng nhanh dựa trên khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới, và có thời gian hoạt động không quá 5 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu". Nhƣ vậy, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo sẽ đi từ đổi mới sáng tạo đến khởi nghiệp.
trong đó, “Đổi mới sáng tạo (innovation) là việc tạo ra, ứng dụng thành tựu, giải pháp kỹ thuật, công nghệ, giải pháp quản lý để nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao năng suất, chất lƣợng, giá trị gia tăng của sản phẩm, hàng hóa” (Điều 3, Luật Khoa học công nghệ năm 2013). Vì vậy, để có thể khởi nghiệp đổi mới sáng tạo thành công, nhà khởi nghiệp cần có hệ thống tƣ duy phát triển và tƣ duy sáng tạo. Startup cũng diễn ra mạnh mẽ ở khắp các quốc gia trên thế giới, bởi nó gắn với đổi mới sáng tạo (tạo ra sản phẩm, dịch vụ có thể giải quyết một nhu cầu cụ thể, chƣa từng có công ty nào trên thị trƣờng tạo ra), đồng thời kỳ vọng tạo ra sự tăng trƣởng vƣợt bậc trong tƣơng lai, từ đó tạo ra những công ty lớn mạnh cho quốc gia đó nhờ ứng dụng công nghệ mới hoặc mô hình kinh doanh mới. Tuy nhiên, các Startup cũng đối mặt với nhiều rủi ro và thất bại, vì vậy, hiện nay các startup đƣợc hỗ trợ cả trong và ngoài nƣớc để có thể phát triển thuận lợi.
Qua luận giải trên, cần khẳng định rằng “khởi nghiệp” đƣợc nghiên cứu trong quyển sách này là “khởi nghiệp đổi mới sáng tạo”, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo không chỉ đƣợc Chính phủ Việt Nam quan tâm mà còn có các tổ chức, quốc gia khác trên toàn thế giới quan tâm. Vì vậy, có cả một hệ sinh thái quốc tế cho hoạt động khởi nghiệp. 2 Đối với hoạt động khởi nghiệp của sinh viên có Quyết định số 1665/QĐ-TTg ngày 30/10/2017 của Thủ tƣớng Chính phủ về phê duyệt Đề án “Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp đến năm 2025”. Trong đề án này ghi rõ lộ trình các trƣờng đại học thực hiện hỗ trợ cho hoạt động khởi nghiệp của sinh viên và cách thức thực hiện nó.
Ý nghĩa của khởi nghiệp Đối với những nhà khởi nghiệp, hoạt động khởi nghiệp giúp họ tạo ra công việc, thu nhập cho chính mình mà không phải đi làm thuê. Họ đƣợc tự do trong công việc và thu nhập có thể cao hơn gấp nhiều lần so với đi làm thuê. Ngoài ra, khởi nghiệp không chỉ thuần túy là con đƣờng kiếm tiền, tạo dựng sự nghiệp mà còn là một triết lý sống, khẳng định mình, thử thách bản thân, kiểm tra giới hạn tiềm tàng của chúng ta. Đối với xã hội và nền kinh tế, khởi nghiệp cũng nghĩa là bạn tạo ra thành quả có lợi cho xã hội hay nhóm khởi nghiệp, cho các cổ đông của doanh nghiệp, cho ngƣời lao động, cho cộng đồng và xã hội.
Các công ty khởi nghiệp tạo ra thêm nhiều công ăn việc làm, giảm bớt tình trạng thất nghiệp. Khởi nghiệp cũng góp phần giảm áp lực lên nền kinh tế, trợ cấp xã hội, đƣa đất nƣớc ngày càng phát triển. Đặc điểm của khởi nghiệp Khởi nghiệp là hoạt động khá đặc thù, vì vậy có những đặc điểm nhƣ sau: Thứ nhất, Nhà khởi nghiệp. Khởi nghiệp thƣờng liên quan đến những cá nhân có các đặc điểm tính cách và năng lực riêng biệt.
Một số các đặc điểm này nhƣ sẵn sàng chấp nhận rủi ro, khả năng kiểm soát trong mọi tình huống, sự tự chủ, sự kiên trì, sự cam kết, có tầm nhìn xa và khả năng sáng tạo. Nhà khởi nghiệp là ngƣời có ý tƣởng tiềm năng có giá trị và sau đó quyết định khởi nghiệp để biến ý tƣởng đó thành sản phẩm hoặc dịch vụ cung cấp cho thị trƣờng. Họ là những con ngƣời tràn đầy nhiệt huyết, có đủ sự nhanh nhạy, khả năng nắm bắt những kiến thức và công nghệ mới, có lòng can đảm và khát khao khẳng định bản thân. Thứ hai, Sự sáng tạo và đổi mới.
Khởi nghiệp gắn liền với việc thực hiện một cái gì đó mới mẻ nhƣ một ý tƣởng, sản phẩm, dịch vụ, thị trƣờng hoặc công nghệ trong một tổ chức mới hoặc đã thành lập. 3 Thứ ba, Thành lập tổ chức. Khởi nghiệp gắn liền với các hành vi liên quan đến việc tạo lập, xây dựng tổ chức. Đặc điểm này mô tả việc tìm kiếm, tích hợp, sắp xếp các nguồn lực cần thiết để tạo ra đơn vị kinh doanh/doanh nghiệp mới.
Thứ tư, Tạo nên giá trị. Khởi nghiệp là để tạo ra giá trị. Giá trị đƣợc thể hiện thông qua tạo ra giá trị cho khách hàng, giá trị cho ngƣời lao động, và giá trị cho xã hội. Thứ năm, Lợi nhuận/Không lợi nhuận.
Khởi nghiệp thƣờng bao bồm những tổ chức tạo ra lợi nhuận. Tuy nhiên, xu hƣớng khởi nghiệp xã hội hiện nay vẫn có nhiều dự án khởi nghiệp không vì lợi nhuận mà tạo ra lợi ích cho cộng đồng rộng lớn. Thứ sáu, Sự phát triển. Sự tăng trƣởng là một đặc điểm quan trọng của khởi nghiệp kinh doanh.
Các dự án khởi nghiệp thƣờng chú trọng đến mức lợi nhuận, tốc độ tăng trƣởng và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Thứ bảy, Tính độc nhất/khác biệt. Một trong những đặc điểm quan trọng của khởi nghiệp là cách tƣ duy riêng biệt, cách thức triển khai độc đáo, xây dựng đƣợc một tầm nhìn/sứ mệnh hoàn chỉnh, năng lực phân tích tình huống và giải quyết vấn đề và khả năng tạo ra sự kết hợp độc đáo. Thứ tám, Chủ sở hữu – Nhà quản lý.
Đặc điểm này mô tả rằng khởi nghiệp liên quan đến các cá nhân vừa là chủ sở hữu đồng thời cũng là ngƣời quản lý doanh nghiệp của họ. Loại hình doanh nghiệp khởi nghiệp Trong khởi nghiệp, thƣờng có hai loại hình doanh nghiệp rất khác nhau, mỗi loại doanh nghiệp đều có những mục tiêu và nhu cầu rất khác nhau. Hình thức khởi nghiệp doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) thƣờng do một ngƣời sáng lập để phục vụ thị trƣờng địa phƣơng và sẽ trở thành một doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong phạm vi địa phƣơng đó. Doanh nghiệp thƣờng đƣợc tổ chức trong một nhóm nhỏ, có quan hệ mật thiết với nhau, có thể là một doanh nghiệp gia đình, nơi việc kiểm soát chặt chẽ doanh nghiệp là rất quan trọng.
Doanh nghiệp SME thƣờng là các doanh nghiệp dịch vụ hoặc nhà bán lẻ các sản phẩm của công ty khác. Yếu tố chính để phân biệt là họ tập trung vào các thị trƣờng địa phƣơng. 4 Hình thức khởi nghiệp doanh nghiệp đổi mới sáng tạo (IDE) có nhiều rủi ro hơn và cũng tham vọng hơn. Ngƣời khởi nghiệp với IDE khao khát vƣơn xa hơn thị trƣờng địa phƣơng tới thị trƣờng toàn cầu hoặc ít nhất là trong khu vực.
Những doanh nhân này thƣờng làm việc theo nhóm để xây dựng doanh nghiệp dựa trên công nghệ, quy trình, mô hình kinh doanh, hoặc sáng kiến mới tạo ra cho họ một lợi thế cạnh tranh đáng kể so với các công ty hiện có. Họ quan tâm đến việc tạo ra của cải và giá trị hơn là việc kiểm soát công ty và thƣờng bán cổ phần công ty để theo đuổi kế hoạch phát triển đầy tham vọng của mình. Mặc dù doanh nghiệp IDE phát triển trong giai đoạn đầu chậm hơn doanh nghiệp SME nhƣng họ sẽ đạt đƣợc tăng trƣởng theo cấp số nhân một khi họ thu hút đƣợc khách hàng.