CHƯƠNG I: TÔNG QUAN TÀI LIỆU Tiêu chảy ở trẻ em là một trong những vẩn đề sức khoẻ cộng đồng cần được quan tâm hàng đẩu bởi vỉ bệnh có tỷ lệ mắc và tử vong cao, là nguyên nhân hàng đầu gây suy dinh dưỡng, chậm phát triển ở trẻ nhỏ về tinh thần, thể chất tạo điều kiện thuận lợi cho sự xâm nhập của các bệnh nhiễm trùng khác. Bệnh tiêu chảy gây hậu quả rất nặng nề cho toàn xã hội đặc biệt là với các nước nghèo kém phát triển. Với tầm quan trọng như vậy năm 1978, Tổ chức y tế thế giới (WHO) đã phát động Chương trình phòng chống tiêu chảy (CDD) với mục tiêu là giảm tỷ lệ mắc và tử vong do tiêu chảy gây ra ở trẻ em dưới 5 tuổi. Trọng tâm của chương trình dựa trên nền tảng bù dịch sớm bằng đường uổng [5], [7], [9], [10], [1 ]].
Qua kinh nghiệm của WHO đã khởi xướng chương trình phòng chống bệnh tiêu chảy từ 1978 đến nay đã có 104 nước triển khai chương trinh, hoạt động của chương trình bao gồm: Chương trình đào tạo, tuyên truyền giáo dục, sản xuất ORS [11], [12]. Chương trình triển khai đã góp phần làm giảm đáng kể tỳ lệ mẳc và tử vong do bệnh tiêu chảy. Tại Việt Nam, được sự giúp đỡ của WHO từ năm 1982 chương trình quốc gia Phòng chống tiêu chảy ở trẻ em được triển khai hoạt động và đã có nhiều kết quả khoa học đóng góp tốt trong việc làm giảm tỷ lệ mắc, tử vong do tiêu chảy ở trẻ em dưới 5 tuổi. Đen năm 1997 chương trình đã bao phủ trên 95% số trẻ trong diện đối tượng được bào vệ [4], [5].
Cùng với hoạt động của chương trình đã có nhiều nghiên cứu được triển khai với nội dung quan tâm về thực trạng các yểu tố liên quan đển bệnh tiêu chảy trên nhiều vùng khác nhau. Nghiên cứu cho thấy nhiều trường hợp tử vong vì bệnh tiêu chày là do sự thiếu kiến thức của bà mẹ trong việc phòng cũng như xừ lý, đặc biệt là xử trí tại nhà. Trong trường hợp trẻ bị tiêu chày có kèm theo mất nước và điện giải người mẹ phải biết pha chế các dung dịch bù nước cho trẻ (ORS, cháo muối ). Nếu có kiến thức tốt 6 thì nhiều khà năng bà mẹ sẽ thực hành tốt và có tính chất quyết định đổi với sức khoẻ của trẻ.
Qua nhiều nghiên cứu của Nguyễn Thành Quang và cộng sự tại Thanh Hoá năm 1998 thì có 68% các bà mẹ có KT đúng về chăm sóc con khi bị TC, có 59% các bà mẹ thực hành đúng trong việc chăm sóc con khi bị TC, theo NC của Bùi Thị Thuý Ái tại Thanh Xuân Hà Nội năm 2000 có 76,1% các bà mẹ có KT đúng và 72,3% cảc bà mẹ TH đúng về chăm sóc khi trẻ bị TC. Hay NC của tác giả Phạm Thọ Dược tại huyện M Drăk tỉnh Đăk Lăk năm 2004 cho kết quả 85% bà mẹ hiểu biết đúng về dấu hiệu mất nước của bệnh TC; 64,5% hiểu biết đúng về nguyên nhân gây bệnh và 68,9% hiểu biết về cách phòng bệnh tiêu chảy. Tuy nhiên qua kết quả mà nhóm thực tập tại thị trấn Nam Giang huyện Nam Trực tỉnh Nam Định tiến hành điều tra tại thị trấn (tháng 12 năm 2006) cho thấy có tới 92,2% bà mẹ không biết cách xử trí khi trẻ bị tiêu chảy và 93,5% bà mẹ thực hành xử trí khi con mình bị TC chưa đúng. Do đó công tác truyền thông giáo dục để cung cấp kiến thức và kỹ năng thực hành xử trí khi con bị tiêu chảy là rất cần thiết.
Phát triển, sản xuất và sử dụng các tài liệu truyền thông giáo dục sức khoè trở thành một vẩn đề quan trọng hàng đầu trong chiến lược của chương trình phòng chống bệnh tiêu chảy. Đã có rất nhiều loại hình sàn phẩm truyền thông phòng chổng tiêu chảy đã được phát triển và thử nghiêm ở nhiều quốc gia khác nhau và trên các đối tượng khác nhau. Một loại hình sản phẩm truyền thông đại chúng là ti vi đã được chương trình kể hoạch quốc gia phòng chống tiêu chảy tại Ai Cập phát triển năm 1977 với mục tiêu cung cấp thông tin về xử trí hợp lý khi trẻ bị tiêu chảy - tăng cường sử dụng ORS nhàm chống mất nước và tử vong do mất nước ở trẻ bị tiêu chảy (theo Trung tâm phát triển toàn cầu, công bố tháng 11 năm 2004 tại Mỹ - Nghiên cứu dự phòng tử vong do bệnh tiêu chảy ở Ai Cập). Theo báo cáo cùa Ruth Levine và đồng sự cùa bà, chiến dịch tiếp thị xã hội và truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng là trọng tâm tạo nên 7 thành công của chương trình này.
Năm 1984 chiến dịch truyền thông đầu tiên được phát động, tập chung chủ yếu vào sự nguy hiểm của bệnh tiêu chảy, giải thích nguyên nhân tiêu chảy, giảm ảnh hưởng và sự nghiêm trọng của bệnh. Chiến dịch đã được phát động rất nhanh, những người sử dụng ti vi tăng lên từ 38% năm 1980 lên 90% năm 1984). Ti vi trở thành phương tiện truyền thông cỏ tác động mạnh nhất để truyền đạt thông điệp cùa chương trình và thậm chí đến được cả những người mù chữ không hiểu được các tài liệu truyền thông in ấn. Hơn 63 đoạn phim quảng cáo được cung cấp từ 1984 đến 1990, bảng dán, tạp chí, và những bức tranh quảng cáo với ngôn ngữ đơn giản, biểu lộ sắc thái tình cảm gần gũi với các bà mẹ được sử dụng để hồ trợ cho các thông điệp trên TV [13], Đài phái thanh cũng là một loại hình sản phẩm truyền thông đại chúng được phát triển và thử nghiệm tại Honduras và Gambia (2 quốc gia vùng Nam Mỹ) và được coi là một phương tiện đặc biệt hữu hiệu để truyền tải thông điệp ờ cả hai nước này vì thông tin dược truyền đến nhiều đối tượng trong một thời gian ngắn.
Phương tiện truyền thông này giúp đáp ứng được 4 mục tiêu, cụ thể là: + Thuyết phục người dân ờ nông thôn nhận biết về sự nguy hiểm cùa bệnh tiêu chày. + Hướng dẫn họ cách pha chế dung dịch ORS. + Trả lời những câu hỏi thường gặp của người dân. + Chỉ dẫn mọi người khi cần thêm sự giúp đỡ.
Song song với việc tiếp cận người dân qua đài phát thanh, chương trình phòng chống tiêu chảy ở trẻ em tại Honduras và Gambia cũng tiếp cận người dân qua các tài liệu in ẩn như áp phích quảng cáo, tờ rơi, và tranh ảnh hướng dẫn và các tài liệu in ấn cũng được đánh giá là sản phẩm truyền thông có hiệu quả ở hai quốc gia này đặc biệt là khi phổi hợp với các hình thức truyền thông trực tiếp (hướng dẫn của cán bộ 8 y 9 tể). Tại Việt Nam cũng có rất nhiều loại hình sản phẩm truyền thông (sách hướng dẫn thực hành chăm sóc trẻ bị tiêu chảy cho các bà mẹ, áp phích, băng đĩa, tờ rơi) đã được phát hành nhằm hướng dẫn các bà mẹ có con dưới 5 tuổi chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tốt hơn đặc biệt là khi trẻ bị bệnh (tiêu chảy, ốm). Trung tâm truyền thông giáo dục sức khỏe Trung ương đã phát triển và thừ nghiêm các loại hình sản phẩm truyền thông phòng chổng tiêu chảy cho trẻ em dưới 5 tuổi (xử trí khi trẻ bị tiêu chảy) như tờ rơi, tranh lật, ápphích, băng đĩa. Hiện tại Trung tâm đang thử nghiệm tranh lật hướng dẫn chăm sóc khi trẻ bị tiêu chảy nhằm hiệu chỉnh sản phẩm cho phù hợp với đối tượng đích của chương trình.
Chương trình Phòng chống suy dinh dưỡng tỉnh Nam Định đã cung cấp tờ rơi hướng dẫn cách chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ cho các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại thị trấn Nam Giang huyện Nam Trực tình Nam Định. Tuy nhiên những tờ rơi được phát về trạm chưa đề cập nhiều đến việc chăm sóc con nhỏ đặc biệt là khi trẻ bị bệnh (tiêu chảy, ho sốt). Qua tổng quan tài liệu và kết quả điểu tra tại thực địa, chúng tôi chọn loại hình sản phẩm là tờ rơi hướng dẫn sử dụng Oresol khi trẻ bị tiêu chảy cho các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại thị trấn Nam Giang huyện Nam Trực tỉnh Nam Định để phát triển và thử nghiệm. 10 CHƯƠNG n PHƯƠNG PHÁP 3.
Mô tả và giải thích ý tưởng thiết kế sản phẩm truyền thông (tờ rơi): Kết quả thử nghiệm thông điệp truyền thông của nhóm thực tập tại thị trấn Nam Giang huyện Nam Trực tinh Nam Định (1/2007) đã lựa chọn được thông điệp truyền thông chính được sử dụng để hướng dẫn các bà mẹ cách xử trí khi con bị tiêu chày đó là : '‘Khi trê bị tiêu chảy hãy cho trẻ uổng Oresol” và khi thử nghiệm thông điệp cũng nhận được ý tường thiết kế sản phẩm truyền thông (tờ rơi) của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại thị trấn như sau: Bảng 1: Bảng xây dựng makét tài liệu truyền thông Xác định vấn đề và Thể hiện Đưa ra tên đối tượng Phần minh họa Phần lời trên thông điệp đích makét Các bà mẹ và Khi trẻ bị ■ Những dấu hiệu nhận biết một +Dấu hiệu nhận biết ưẻ Tờ rơi những người tiêu chảy trẻ bị mất nước do tiêu chảy. bị tiêu chảy và mất nước chăm sóc trẻ hãy cho trẻ ■ Một trẻ bị tiêu chảy và bà mẹ do tiêu chày. chính trong uổng đang bế đứa trẻ, bên cạnh là một +Khi trẻ bị tiêu chảy gia đình Oresol. bình nước, một gói Oresol, bà mẹ hãy bù nước và điện giải muốn đang pha Oresol cho trẻ uống.
cho trẻ bằng dung dịch ■ Các bước pha Oresol (bà Oresol. 11 biết cần làm mẹ đang thực hiện thao tác pha +Cảch pha Oresol đúng. gì khi trẻ bị Oresol). +Cách nấu cháo muổi tiêu chảy? ■ Cách nấu cháo muối thay thế thay thế khi không có khi không có gói Oresol.
+Thơ cổ động. ■ Hình ảnh một em bé khoẻ mạnh không bị tiêu chảy. Tờ rơi: Gồm tên thông điệp chính, hình ảnh và 7 phần chính: +Phần 1: Định nghĩa bệnh tiêu chảy +Phàn 2: Những dẩu hiệu mất nước ở trẻ do tiêu chảy và hình ảnh. +Phần 3: Bù nước và điện giải cho trẻ khi trẻ bị tiêu chảy và hình ảnh.
+Phần 4: Giới thiệu về gói Oresol đính kèm gói Oresol. +Phần 5: Hướng dẫn cách pha chế và cách cho trẻ uống dung dịch Oresol kèm theo hình ảnh. +Phần 6: Hướng dẫn cách nấu cháo muối và hình ảnh. +Phần 7: Thơ cổ động kèm theo hình ảnh.
Tờ rơi thiết kể trên phàn mềm Microsoft Publisher. Thiết kế trên khổ A4, theo chiều ngang và gập ba (gồm 6 trang nhỏ trên hai mặt của khổ A4). Mỗi mặt của khổ A4 chia thành 3 trang nhỏ kích thước đêu nhau.