Tổng quan luận án
Tình trạng thiếu dinh dưỡng, đặc biệt là suy dinh dưỡng protein - năng lượng, là bệnh lý mang tính cộng đồng phổ biến tại các quốc gia đang phát triển và là một trong những mục tiêu trọng tâm trong Kế hoạch hành động quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 1995 - 2000 của Việt Nam. Tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, Ủy ban Bảo vệ và Chăm sóc trẻ em đã triển khai hoạt động phục hồi dinh dưỡng từ tháng 11/1997 đến tháng 02/1998 tại ba xã Liên Sơn, Tân Vinh và Yên Bình, song chưa có nghiên cứu khoa học nào đánh giá hiệu quả thực tế. Khảo sát tháng 4/1998 cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi tại địa bàn tuy giảm từ 46,1% xuống 44,9% nhưng vẫn bộc lộ nhiều khoảng trống nghiêm trọng trong hành vi chăm sóc của bà mẹ:
- Có 91,7% bà mẹ chưa sử dụng các nguồn thực phẩm giàu protid rẻ tiền, dễ kiếm tại địa phương để chế biến bữa ăn hàng ngày cho trẻ; dẫn đến 87,5% trẻ suy dinh dưỡng không được ăn nhóm thực phẩm này tối thiểu 1 lần/ngày.
- Tỷ lệ trẻ mắc viêm đường hô hấp trong vòng nửa tháng lên tới 73,8%.
- Có 51,7% bà mẹ cho trẻ ăn bổ sung không đúng thời điểm, kèm theo tập quán kiêng khem khi trẻ mắc bệnh tiêu chảy.
Xuất phát từ thực trạng trên, luận án tập trung nghiên cứu sự cải thiện tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi thông qua việc cải tiến phương pháp giáo dục dinh dưỡng cho bà mẹ tại xã Liên Sơn, tập trung vào việc nâng cao chất lượng khẩu phần ăn bằng thực phẩm sẵn có và phòng chống các bệnh nhiễm trùng phổ biến.
Mục tiêu chung của nghiên cứu là đánh giá sự cải thiện tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi qua việc cải tiến cách giáo dục dinh dưỡng cho bà mẹ ở xã Liên Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.
Các mục tiêu cụ thể được xác định gồm:
- Đánh giá sự thay đổi hành vi nuôi con đúng cách của bà mẹ có con dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng tại xã Liên Sơn.
- Xác định vai trò của một số yếu tố ảnh hưởng đến sự cải thiện tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em.
- Xác định sự vượt kênh dinh dưỡng trẻ em sau 5 tháng can thiệp.
- Đánh giá sai số nhớ lại của bà mẹ về thực hành nuôi con so với trước lúc can thiệp.
Đối tượng nghiên cứu gồm 130 cặp bà mẹ và trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng (sinh từ ngày 01/4/1993 đến hết ngày 31/3/1998, tương đương 0 đến 59 tháng tuổi), được chia thành hai nhóm:
- Nhóm can thiệp (NCT): 65 bà mẹ và 65 trẻ suy dinh dưỡng tại xã Liên Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.
- Nhóm chứng (NC): 65 bà mẹ và 65 trẻ suy dinh dưỡng tại xã Tân Vinh và xã Yên Bình, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình (được ghép cặp theo kênh dinh dưỡng, nhóm tuổi và giới tính).
Thời gian nghiên cứu can thiệp được thực hiện trong 5 tháng, bắt đầu từ tháng 4/1998 và kết thúc đánh giá vào tháng 9/1998.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa các dữ liệu dịch tễ học dinh dưỡng quốc tế và trong nước. Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), có khoảng 500 triệu trẻ em suy dinh dưỡng với hơn 20 triệu thể nặng. Thống kê từ 79 quốc gia đang phát triển giai đoạn 1980 - 1992 ghi nhận tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi trung bình là 35,8%, cao nhất tại châu Á (42,5%). Năm 1990, tỷ lệ này tại Bangladesh là 65,8%, Ấn Độ 63,9%, Việt Nam 45,0%, Lào 36,7% và Philippines 32,9%. Số liệu cập nhật thời điểm nghiên cứu cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng tại Trung Quốc là 15,8%, Thái Lan 22,2%, Indonesia 38,7%. Tại Việt Nam, tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em giảm dần từ 51,3% (1980 - 1985), 45,0% (1985 - 1990), 44,9% (1990 - 1994), 43,9% (1995) xuống 40,3% (1997). Nghiên cứu của Đặng Phương Kiệt (1985) tại Tây Nguyên ghi nhận tỷ lệ 62,4%; điều tra của Viện Dinh dưỡng (1981 - 1985) chỉ ra tỷ lệ tại trung du là 58,7%, đồng bằng Bắc Bộ 56,5%, đồng bằng Nam Bộ 46,9%; Lê Thị Hợp và cộng sự (1991) ghi nhận 45,5% ở nông thôn miền Bắc; Từ Ngữ và cộng sự (1993) ghi nhận 59,4% ở 30 xã nông thôn; khảo sát của Tổ chức Cứu trợ Nhi đồng Mỹ tại Quảng Xương, Thanh Hóa (1991) lên tới 68,5%.
Về các yếu tố ảnh hưởng, luận án trích dẫn kết quả của Hoàng Văn Tiến (1998) ghi nhận tỷ lệ sơ sinh nhẹ cân tại Sóc Sơn là 18,8%; Nguyễn Thị Thanh Thủy (1997) ghi nhận 16,9% và 19,2%; các nghiên cứu của Hà Huy Khôi (1992), Nguyễn Thị Kim Hưng (1996), Trần Thị Ngọc Hà (1996) khẳng định nhóm trẻ có thể trạng tốt có cân nặng sơ sinh cao hơn nhóm suy dinh dưỡng. Về thực hành nuôi con, Lambert và Barford tại Papua New Guinea chứng minh trẻ nuôi nhân tạo có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao gấp 2,5 lần trẻ bú mẹ; Quan Lệ Nga và Cao Thu Hương (1993) cho thấy tỷ lệ bú sớm sau sinh chỉ đạt 8,4%; tỷ lệ bú mẹ hoàn toàn 4 - 6 tháng đầu theo Margaret F. (1983) tại Bolivia là 57,6%, Lê Thị Hợp và Phạm Thúy Hòa (1992) tại Việt Nam là 22,6%, Cao Thu Hương (1994) tại Thanh Hóa là 12,8%, Randa (1993) tại Sri Lanka là 13%, WHO tại Pakistan (1993) là 12%, Nguyễn Thị Kim Hưng (1996) tại TP. Hồ Chí Minh chỉ đạt 2,5%. Nghiên cứu của Jane Prayer (1977) tại Thái Lan chỉ ra việc cho ăn bổ sung sớm làm tăng nguy cơ bệnh tật; trong khi Trương Bút (1992) ghi nhận 97%, Cao Thị Hậu (1993) ghi nhận 97,9%, Nguyễn Ngọc Tràm và Phạm Mai Chi (1987 - 1989) ghi nhận 72% bà mẹ cho trẻ ăn bổ sung quá sớm. Khảo sát của Nguyễn Đình Quang và Phạm Duy Tường (1992), Cao Thị Hậu (1991) chỉ ra bữa ăn bổ sung của trẻ em miền núi và nông thôn thiếu hụt nghiêm trọng protid động vật. Đào Ngọc Diễn, Lê Giáng Hương và Lê Xuân Ngọc (1993) khẳng định 60 - 70% trường hợp suy dinh dưỡng bắt nguồn từ sai lầm trong kiến thức và thực hành nuôi dưỡng.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ rõ: Các chương trình can thiệp trước đó tại Lương Sơn khi tổ chức trình diễn phục hồi dinh dưỡng chỉ sử dụng thực phẩm giàu đạm đắt tiền (thịt lợn, thịt bò, xương hầm, cá lớn, trứng), khiến bà mẹ nghèo không thể duy trì khi về nhà. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách xây dựng mô hình giáo dục dinh dưỡng cải tiến, chuyển trọng tâm sang việc tận dụng nguồn thực phẩm giàu protid rẻ tiền, sẵn có tại địa phương (cua đồng, ốc, hến, tôm tép, trai, cá nhỏ, các loại đỗ) dựa vào phương pháp "Cùng tham gia" và mô hình các "bà mẹ nghèo nuôi con khỏe".
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu vận dụng lý thuyết phát triển cộng đồng dựa trên phương pháp "Cùng tham gia" (Participatory approach) và mô hình "Chệch hướng tích cực" (Positive Deviance) từng được Tổ chức Cứu trợ Nhi đồng Mỹ áp dụng thành công từ năm 1990 tại 13 tỉnh thành Việt Nam. Nguyên lý cốt lõi là giải pháp phải do chính người dân địa phương tìm ra dựa trên nguồn tài nguyên sẵn có, học tập từ các hộ nghèo nhưng biết cách nuôi con khỏe mạnh thông qua bữa ăn không kiêng khem và sử dụng thực phẩm tự kiếm. Luận án áp dụng tiêu chuẩn phân loại thể trạng của WHO (1981) và bảng phân loại Waterlow dựa trên các độ lệch chuẩn (SD) so với quần thể tham chiếu NCHS: Kênh A (bình thường, trên -2SD), Kênh B (suy dinh dưỡng vừa, từ -2SD đến -3SD), Kênh C (suy dinh dưỡng nặng, từ <-3SD đến -4SD), Kênh D (suy dinh dưỡng rất nặng, <-4SD).
Phương pháp nghiên cứu là can thiệp cộng đồng có đối chứng, đánh giá trước và sau can thiệp 5 tháng (4/1998 - 9/1998), kết hợp định lượng và định tính. Cỡ mẫu được tính toán theo công thức so sánh hai tỷ lệ:
$$N = \frac{z^2_{(\alpha, \beta)} \times [P_1(1 - P_1) + P_2(1 - P_2)]}{(P_1 - P_2)^2}$$
Với mức ý nghĩa $\alpha = 0,05$ (độ tin cậy 95%), lực mẫu $1 - \beta = 0,80$ ($z^2 = 7,9$), giả định tỷ lệ bà mẹ dùng thực phẩm giàu protid cho con ăn hàng ngày ở nhóm can thiệp $P_1 = 0,4$ và nhóm chứng $P_2 = 0,2$, cỡ mẫu tối đa là $N = 79$. Hiệu chỉnh theo quần thể hữu hạn với tổng số 262 bà mẹ ($Q = 262$):
$$n_f = \frac{N \times Q}{N + Q} = \frac{79 \times 262}{79 + 262} \approx 61$$
Tác giả chọn cỡ mẫu 65 cặp mẹ - con cho mỗi nhóm (tổng số 130 cặp). Nhóm can thiệp chọn ngẫu nhiên đơn từ 146 trẻ suy dinh dưỡng tại xã Liên Sơn; nhóm chứng chọn ngẫu nhiên từ 262 trẻ suy dinh dưỡng tại xã Tân Vinh và Yên Bình, ghép cặp tương đồng về kênh dinh dưỡng, độ tuổi và giới tính.
Quy trình cải tiến giáo dục dinh dưỡng gồm 7 biện pháp:
- Thảo luận nhóm bà mẹ "Cùng tham gia" tại 10 thôn của xã Liên Sơn.
- Tổ chức hai đợt hội thi kiến thức "Nuôi con theo khoa học" (tháng 5/1998 và tháng 8/1998) với bộ câu hỏi - đáp phát trước một tháng.
- Tổ chức hai đợt hội thi thực hành nấu ăn (hạn mức 8.000 đồng/4 trẻ, cấm dùng thực phẩm giàu protid đắt tiền).
- Kiểm tra, chấm điểm thực hành quản lý và ghi chép của tình nguyện viên dinh dưỡng qua 3 biểu mẫu theo dõi.
- Mời các bà mẹ nghèo nuôi con khỏe tại từng thôn tham gia chia sẻ kinh nghiệm trực tiếp.
- Thăm dò ý kiến bà mẹ và hướng dẫn sử dụng Bảng ghi chép hàng ngày các món ăn giàu đạm.
- Giám sát hàng tháng thông qua phỏng vấn sâu và hỗ trợ kỹ thuật tại chỗ.
Dữ liệu định lượng được thu thập bằng bảng câu hỏi cấu trúc, phiếu theo dõi sức khỏe trẻ em (cân trẻ bằng cân bàn Hải Phòng do tình nguyện viên dinh dưỡng thực hiện). Dữ liệu định tính thu thập qua thảo luận nhóm tập trung và phỏng vấn sâu. Số liệu được làm sạch và xử lý trên phần mềm Epi info version 6, áp dụng phép kiểm định Chi bình phương ($\chi^2$), kiểm định Mantel - Haenszel, xác định giá trị $p$ và tỷ suất chênh OR (Odds Ratio). Về đạo đức nghiên cứu, tác giả tuân thủ tính tự nguyện, tư vấn kỹ thuật dinh dưỡng miễn phí và áp dụng nguyên tắc mù kép khi thu thập dữ liệu sau can thiệp.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan
Chương 1 phân tích tính cấp thiết của công tác phòng chống suy dinh dưỡng protein - năng lượng, nêu rõ suy dinh dưỡng là nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp dẫn đến 54% ca tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi tại các nước đang phát triển. Phân tích kinh tế chỉ ra đầu tư 1 đồng cho dinh dưỡng mang lại 8 đồng lợi ích kinh tế xã hội, và 1 đồng cho phòng chống suy dinh dưỡng protein - năng lượng mang lại 8,6 đồng. Chương này tổng kết 5 nhóm yếu tố nguy cơ: cân nặng sơ sinh thấp, thực hành nuôi con bằng sữa mẹ chưa đúng, ăn bổ sung sai thời điểm và thiếu protid, chăm sóc trẻ khi ốm kém, và vòng xoắn bệnh lý giữa nhiễm trùng với suy dinh dưỡng. Đồng thời, tác giả tổng kết các mô hình can thiệp tại Việt Nam như chương trình của Trương Bút (1981 - 1990), các dự án PAM 2651 và PAM 3844, Tuần lễ Dinh dưỡng và Phát triển, mô hình của Tổ chức Cứu trợ Nhi đồng Mỹ.
Chương 1 cũng mô tả chi tiết địa bàn nghiên cứu tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, nơi núi đá vôi chiếm 2/3 diện tích, người Mường chiếm 68,3% và người Kinh chiếm 31,4%. Bảng đối chiếu thực trạng 3 xã nghiên cứu năm 1998 cho thấy tính tương đồng cao về điều kiện kinh tế - xã hội:
| Đặc điểm |
Xã Liên Sơn (Can thiệp) |
Xã Tân Vinh (Chứng) |
Xã Yên Bình (Chứng) |
| Diện tích (ha) |
1.740 |
1.871,7 |
1.778 |
| Dân số (người) |
3.602 |
3.822 |
5.098 |
| Số hộ gia đình |
716 |
779 |
1.060 |
| Tỷ lệ hộ nghèo (%) |
25,0 |
30,0 |
30,0 |
| Thu nhập bình quân (triệu đồng/người/năm) |
1,4 |
1,5 |
1,6 |
| Cơ cấu dân tộc: Kinh / Mường (%) |
30,0 / 70,0 |
17,0 / 83,0 |
40,0 / 60,0 |
| Khoảng cách đến trung tâm huyện (km) |
15 - 20 |
3 - 10 |
35 - 40 |
| Biên chế cán bộ Trạm Y tế (người) |
5 |
5 |
3 |
| Xếp loại hoạt động Trạm Y tế năm 1997 |
Khá |
Khá |
Khá |
Chương 2: Mục tiêu, đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 trình bày chi tiết thiết kế can thiệp có nhóm chứng, quy trình chọn mẫu ngẫu nhiên ghép cặp và các định nghĩa biến số chuẩn hóa:
- Trẻ bú sớm sau sinh: bú trong vòng 1 giờ đầu sau sinh.
- Bú mẹ hoàn toàn: chỉ bú sữa mẹ, không ăn uống thêm bất kỳ chất nào khác ngoại trừ dung dịch vitamin, khoáng chất hoặc thuốc.
- Thời gian cho bú: bú kéo dài từ 12 tháng trở lên.
- Ăn bổ sung đúng thời điểm: bắt đầu từ tháng thứ 5 hoặc thứ 6.
- Ăn bổ sung hợp vệ sinh: dùng thìa hoặc đũa, không nhai cơm mớm, không bú bình.
- Dùng thực phẩm giàu protid hàng ngày: trẻ ăn thực phẩm giàu đạm từ 25 ngày trở lên trong tháng, tối thiểu 1 lần/ngày.
- Xử trí tiêu chảy đúng: dùng kháng sinh theo chỉ định y tế, không dùng lá chát cầm tiêu chảy, biết pha và sử dụng dung dịch ORS hoặc nước cháo muối, duy trì ăn và bú mẹ.
- Gia đình đủ ăn: sản xuất đủ gạo ăn cả năm hoặc kiếm đủ tiền mua gạo từ các nghề phi lâm nghiệp (không tính bán củi, tre, nứa).
Chương này cũng phân tích các khó khăn thực địa: đợt hạn hán kéo dài làm đồng ruộng khô nứt nẻ, ảnh hưởng việc khai thác thủy sản tự nhiên; hạn chế nguồn lực khiến nghiên cứu chưa thể định lượng khẩu phần ăn từng cá thể; các sai số tiềm ẩn từ kỹ thuật cân đo của tình nguyện viên dinh dưỡng và sai số nhớ lại của bà mẹ.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu thực nghiệm được tác giả lượng hóa qua hệ thống bảng thống kê chi tiết:
- Tình trạng dinh dưỡng và mức độ phục hồi:
Trước can thiệp (tháng 4/1998), cả hai nhóm có cơ cấu thể trạng tương đương. Sau 5 tháng (tháng 9/1998), sự chuyển dịch thể trạng diễn ra rõ nét ở nhóm can thiệp:
| Kênh dinh dưỡng |
Nhóm can thiệp (4/1998) |
Nhóm can thiệp (9/1998) |
Nhóm chứng (4/1998) |
Nhóm chứng (9/1998) |
| Kênh A (Bình thường) |
0 |
18 |
0 |
6 |
| Kênh B (Suy dinh dưỡng vừa) |
44 |
34 |
44 |
44 |
| Kênh C (Suy dinh dưỡng nặng) |
20 |
13 |
20 |
15 |
| Kênh D (Rất nặng) |
1 |
0 |
1 |
0 |
| Tổng số trẻ |
65 |
65 |
65 |
65 |
Tỷ lệ trẻ lên kênh dinh dưỡng tại nhóm can thiệp đạt 40,0% (26/65 trẻ), vượt trội so với nhóm chứng đạt 21,5% (14/65 trẻ). Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với $p < 0,05$ và $OR = 2,43$ (trẻ nhóm can thiệp có khả năng lên kênh gấp 2,43 lần nhóm chứng).
- Thay đổi kiến thức và hành vi của bà mẹ:
- Bắt đầu cho ăn bổ sung đúng thời điểm: Nhóm can thiệp tăng từ 13,8% lên 64,6% ($p < 0,001; OR = 11,3$); nhóm chứng giảm từ 56,9% xuống 32,3% ($p < 0,01; OR = 0,36$).
- Xử trí đúng khi trẻ tiêu chảy: Nhóm can thiệp tăng từ 6,2% lên 23,1% ($p < 0,01; OR = 4,57$); nhóm chứng biến thiên không đáng kể từ 6,2% lên 7,7% ($p > 0,05$).
- Cho trẻ ăn thực phẩm giàu protid hàng ngày: Nhóm can thiệp tăng từ 26,2% lên 76,9% ($p < 0,001; OR = 9,4$); nhóm chứng tăng từ 30,8% lên 43,1% ($p > 0,05$).
- Tỷ lệ mắc tiêu chảy trong vòng nửa tháng: Nhóm can thiệp giảm từ 24,6% xuống 6,2% ($p < 0,01; OR = 4,98$); nhóm chứng giảm từ 23,1% xuống 9,2% ($p < 0,05; OR = 2,95$).
- Tập tục nhai cơm mớm chưa có sự thay đổi mang ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm. Tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ tại nhóm can thiệp đạt 76,9%, thấp hơn nhóm chứng (95,4%) do đặc thù 2 thôn ở xa trung tâm trạm y tế (8 - 10 km) và trạm y tế xã thiếu hụt 2 biên chế (1 nghỉ sinh, 1 đi học).
- Phân tích các yếu tố liên quan đến sự lên kênh dinh dưỡng:
| Yếu tố phân tích |
Tỷ lệ lên kênh |
Tỷ lệ không lên kênh |
Giá trị $p$ |
Tỷ suất chênh OR |
Trẻ dùng thực phẩm giàu protid hàng ngày: - Có dùng (n=78) - Không dùng (n=52) |
41,0% (32 trẻ) 15,4% (8 trẻ) |
59,0% (46 trẻ) 84,6% (44 trẻ) |
$p < 0,01$ |
3,83 |
Mắc bệnh viêm đường hô hấp: - Không mắc (n=71) - Có mắc (n=59) |
39,4% (28 trẻ) 20,3% (12 trẻ) |
60,6% (43 trẻ) 79,7% (47 trẻ) |
$p < 0,05$ |
2,55 |
Được tình nguyện viên dinh dưỡng hướng dẫn: - Có hướng dẫn (n=70) - Không hướng dẫn (n=60) |
38,6% (27 trẻ) 21,7% (13 trẻ) |
61,4% (43 trẻ) 78,3% (47 trẻ) |
$p < 0,05$ |
2,27 |
Các yếu tố khác gồm người dưỡng trẻ ($OR = 1,12$), trình độ học vấn của mẹ ($OR = 3,5$), dân tộc ($OR = 0,46$), cân nặng sơ sinh ($OR = 1,15$), giới tính trẻ ($OR = 1,24$), kinh tế gia đình ($OR = 1,81$), hiểu biết KDD ($OR = 1,73$) đều có giá trị $p > 0,05$, chưa ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê đối với khả năng lên kênh.
-
Đánh giá sai số nhớ lại của bà mẹ:
Kiểm định so sánh lời khai của bà mẹ tại thời điểm tháng 4/1998 và tháng 9/1998 đối với 6 chỉ số thực hành: bú sữa non ($p > 0,05; OR = 1,35$), bú mẹ hoàn toàn ($p > 0,05; OR = 0,73$), thời gian cai sữa ($p > 0,05; OR = 1,0$), thời điểm ăn bổ sung ($p > 0,05; OR = 1,51$), thành phần bột ăn bổ sung ($p > 0,05; OR = 0,9$), thành phần cơm cháo ăn bổ sung ($p > 0,05; OR = 1,0$). Tất cả các phép kiểm định đều cho kết quả $p > 0,05$, khẳng định sai số nhớ lại không ảnh hưởng đến độ tin cậy của kết quả nghiên cứu.
-
Kết quả định tính:
- Qua thảo luận nhóm, 70% bà mẹ ban đầu không biết cách bảo quản thực phẩm tươi sống; sau đó đã tiếp thu kinh nghiệm dân gian: nuôi ốc sống trong nước vo gạo đến 5 ngày, để hến trên giàn bếp 3 ngày, làm chả nướng hoặc kho khô tôm, tép, cá nhỏ. Định kiến sợ trẻ dưới 2 tuổi hóc xương cá đã được giải tỏa hoàn toàn nhờ sự chia sẻ trực tiếp của các bà mẹ nghèo nuôi con khỏe.
- Hai vòng hội thi thực hành ghi nhận các bà mẹ chế biến được từ 4 đến 7 món ăn cân đối chỉ với 8.000 đồng cho 4 trẻ. 100% trẻ ăn hết khẩu phần. 8/10 thôn có tình nguyện viên dinh dưỡng ghi chép hồ sơ theo dõi chính xác; 2 thôn ghi chép yếu kém cũng chính là nơi có tỷ lệ trẻ lên kênh thấp nhất.
- Bảng ghi chép hàng ngày cho thấy 95% thực phẩm giàu protid được bà mẹ sử dụng là các nguồn rẻ tiền, tự kiếm. Mô hình "Góp vốn quay vòng: Mỗi bà mẹ đóng 1 kg gạo/tháng" tại chi hội phụ nữ thôn Đồi Mè được ghi nhận là giải pháp hiệu quả giúp duy trì sinh hoạt định kỳ và trao đổi kinh nghiệm nuôi con.
Chương 4: Bàn luận
Tác giả tập trung biện luận 4 nội dung trọng tâm:
- Hiệu quả cải thiện chất lượng bữa ăn: Tỷ lệ trẻ ăn thực phẩm giàu protid hàng ngày đạt 76,9% tại nhóm can thiệp phản ánh sự chuyển đổi từ nhận thức sang hành vi thực tế. Việc tận dụng nguồn đạm rẻ tiền sẵn có (ốc, cua, tôm, tép, cá nhỏ) giải quyết căn nguyên thiếu hụt protid trong bữa ăn truyền thống vốn chỉ có gạo và rau.
- Hiệu quả phục hồi thể trạng suy dinh dưỡng: Mức tăng tỷ lệ lên kênh đạt 40,0% ở nhóm can thiệp so với 21,5% ở nhóm chứng chứng minh can thiệp cải tiến giáo dục dinh dưỡng có tác động sinh học rõ rệt lên sự tăng trưởng thể chất của trẻ trong thời gian 5 tháng.
- Hiệu quả thay đổi hành vi chăm sóc và phòng bệnh: Kiến thức ăn bổ sung đúng thời điểm tăng gấp 11,3 lần và xử trí tiêu chảy đúng tăng gấp 4,57 lần đã trực tiếp kéo giảm tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy và viêm hô hấp, phá vỡ vòng xoắn bệnh lý giữa suy dinh dưỡng và nhiễm khuẩn.
- Giá trị của phương pháp giáo dục dinh dưỡng dựa vào cộng đồng: Mô hình huy động nguồn lực sẵn có, học tập các "chệch hướng tích cực" từ chính các bà mẹ nghèo địa phương tỏ ra vượt trội so với phương thức truyền thông áp đặt từ trên xuống hoặc các chương trình viện trợ thực phẩm thụ động.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đã nêu bật những đóng góp cụ thể về lý luận và thực tiễn:
- Đóng góp về thực tiễn: Nghiên cứu chứng minh rằng việc cải tiến phương pháp giáo dục dinh dưỡng giúp cải thiện rõ rệt tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em nông thôn, miền núi mà không đòi hỏi kinh phí lớn. Can thiệp giúp các bà mẹ nghèo tự duy trì thể trạng dinh dưỡng của trẻ thông qua việc khai thác các nguồn đạm động vật, thực vật sẵn có tại địa phương (cua đồng, ốc, hến, tép, cá nhỏ, các loại đỗ) và bảo quản, chế biến đúng cách.
- Đóng góp về phương pháp luận can thiệp: Xác lập quy trình giáo dục dinh dưỡng "Cùng tham gia", kết hợp giữa truyền thông lý thuyết với hội thi thực hành chế biến thức ăn chi phí thấp, lồng ghép vai trò nêu gương của các "bà mẹ nghèo nuôi con khỏe" và mạng lưới tình nguyện viên dinh dưỡng tại thôn bản.
Các giải pháp và kiến nghị đề xuất gồm:
- Duy trì và nhân rộng hình thức giáo dục dinh dưỡng "Cùng tham gia" kết hợp hội thi kiến thức - thực hành tại tuyến xã, thôn.
- Củng cố mạng lưới tình nguyện viên dinh dưỡng thôn bản, chuẩn hóa công tác ghi chép các biểu mẫu theo dõi tăng trưởng và hành vi dinh dưỡng tại hộ gia đình.
- Lồng ghép hoạt động giáo dục dinh dưỡng vào sinh hoạt định kỳ của Chi hội Phụ nữ cơ sở, áp dụng các mô hình hỗ trợ kinh tế tự nguyện như hũ gạo tình thương hoặc góp vốn quay vòng.
- Tăng cường cán bộ y tế cho các trạm y tế xã miền núi và tổ chức các điểm tiêm chủng ngoài trạm nhằm đảm bảo tỷ lệ tiêm chủng mở rộng tại các thôn bản vùng sâu, cách xa trung tâm.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Văn bản luận án tự xác định các hạn chế kỹ thuật và khách quan:
- Hạn chế về nguồn lực nên nghiên cứu chưa tiến hành cân đong trực tiếp để định lượng chính xác giá trị dinh dưỡng khẩu phần ăn hàng ngày của trẻ (năng lượng Kcal và lượng gam protid thực tế).
- Số liệu nhân trắc cân nặng chịu ảnh hưởng nhất định từ sai số đo lường của mạng lưới tình nguyện viên dinh dưỡng tại các thôn.
- Việc tác giả trực tiếp tham gia thu thập dữ liệu sau can thiệp có thể tạo ra sai số quan sát, dù đã áp dụng nguyên tắc mù kép và không công bố mục tiêu đánh giá can thiệp khi phỏng vấn bà mẹ.
- Điều kiện tự nhiên bất lợi: Đợt hạn hán kéo dài trong năm 1998 làm khô nẻ đồng ruộng, gây khó khăn cho các hộ gia đình nghèo trong việc tự bắt cua, cá, ốc, tép.
- Về chỉ tiêu nhân trắc, nghiên cứu chỉ sử dụng chỉ số cân nặng theo tuổi, chưa triển khai đo chiều cao theo tuổi để đánh giá thể suy dinh dưỡng còi cọc trường diễn.
Hướng nghiên cứu tiếp theo cần tập trung: Đánh giá khẩu phần ăn bằng kỹ thuật cân đong định lượng chi tiết; kéo dài thời gian theo dõi sau can thiệp để đánh giá tính bền vững của hành vi; tích hợp đầy đủ các chỉ số nhân trắc chiều cao/tuổi và cân nặng/chiều cao để phân tích toàn diện các thể suy dinh dưỡng.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Y tế công cộng, Dinh dưỡng cộng đồng, Y học dự phòng: Cung cấp phương pháp thiết kế nghiên cứu can thiệp cộng đồng có đối chứng ghép cặp, công thức tính cỡ mẫu quần thể hữu hạn, và quy trình xử lý thống kê dịch tễ học bằng Epi Info.
- Cán bộ quản lý chương trình dinh dưỡng tuyến huyện, tỉnh: Cung cấp bằng chứng thực tiễn về việc tổ chức truyền thông giáo dục dinh dưỡng dựa vào nguồn thực phẩm địa phương rẻ tiền thay vì trông chờ viện trợ.
- Cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ và y tế cơ sở: Cung cấp bộ công cụ truyền thông trực quan, cách thức tổ chức hội thi nấu ăn chi phí thấp (8.000 đồng/4 trẻ) và kinh nghiệm tổ chức nhóm phụ nữ "Góp vốn quay vòng bằng gạo" để duy trì phong trào nuôi con khỏe.
Câu hỏi thường gặp
1. Mức độ cải thiện tỷ lệ lên kênh dinh dưỡng ở nhóm can thiệp so với nhóm chứng đạt được là bao nhiêu?
Sau 5 tháng can thiệp, tỷ lệ trẻ lên kênh dinh dưỡng ở nhóm can thiệp là 40,0% (26/65 trẻ), cao hơn rõ rệt so với nhóm chứng là 21,5% (14/65 trẻ). Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với $p < 0,05$ và tỷ suất chênh $OR = 2,43$, cho thấy trẻ thuộc nhóm can thiệp có cơ hội lên kênh cao gấp 2,43 lần so với trẻ nhóm chứng.
2. Hành vi cho trẻ ăn thực phẩm giàu protid hàng ngày của bà mẹ nhóm can thiệp thay đổi như thế nào sau nghiên cứu?
Tỷ lệ trẻ được ăn thực phẩm giàu protid hàng ngày ở nhóm can thiệp tăng từ 26,2% (tháng 4/1998) lên 76,9% (tháng 9/1998) với $p < 0,001$ và tỷ suất chênh $OR = 9,4$. Trong đó, 95% các loại thực phẩm giàu protid được các bà mẹ sử dụng là nguồn thực phẩm rẻ tiền, sẵn có tại địa phương như cua đồng, ốc, hến, tôm tép, cá nhỏ và các loại đỗ.
3. Nghiên cứu ghi nhận những yếu tố nào có mối liên quan nhân quả chặt chẽ đến sự phục hồi kênh dinh dưỡng của trẻ?
Ba yếu tố có liên quan có ý nghĩa thống kê đến sự lên kênh dinh dưỡng gồm:
- Trẻ được ăn thực phẩm giàu protid hàng ngày: Khả năng lên kênh cao gấp 3,83 lần so với trẻ không được ăn ($p < 0,01; OR = 3,83$).
- Trẻ không mắc bệnh viêm đường hô hấp: Khả năng lên kênh cao gấp 2,55 lần so với trẻ mắc bệnh ($p < 0,05; OR = 2,55$).
- Bà mẹ được tình nguyện viên dinh dưỡng hướng dẫn: Khả năng lên kênh của trẻ cao gấp 2,27 lần so với nhóm không được hướng dẫn ($p < 0,05; OR = 2,27$).
4. Vì sao tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ tại xã can thiệp (Liên Sơn) vào tháng 9/1998 chỉ đạt 76,9%, thấp hơn xã đối chứng (95,4%)?
Khảo sát thực địa chỉ ra nguyên nhân là do xã Liên Sơn có 2 thôn nằm cách xa trung tâm trạm y tế từ 8 đến 10 km, điều kiện đường sá hiểm trở khiến gia đình khó đưa trẻ đi tiêm chủng; đồng thời Trạm Y tế xã bị thiếu hụt nhân lực khi có 2 trong tổng số 5 cán bộ vắng mặt (1 cán bộ nghỉ thai sản và 1 cán bộ đi học).
5. Kết quả kiểm định sai số nhớ lại của bà mẹ về thực hành nuôi con cho thấy điều gì?
Khi đối chiếu lời khai của bà mẹ giữa thời điểm tháng 4/1998 và tháng 9/1998 về 6 chỉ số thực hành nuôi con (cho bú sữa non, bú mẹ hoàn toàn, thời gian cai sữa, thời điểm ăn bổ sung, thành phần bột ăn bổ sung, thành phần cơm cháo ăn bổ sung), tất cả các phép kiểm định đều cho kết quả $p > 0,05$. Điều này chứng minh không có sai số nhớ lại mang ý nghĩa thống kê, đảm bảo tính khách quan của dữ liệu thu thập.
Kết luận
Luận án đã chứng minh tính hiệu quả của mô hình cải tiến giáo dục dinh dưỡng dựa vào cộng đồng trong việc nâng cao tỷ lệ lên kênh dinh dưỡng ở trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi tại xã Liên Sơn từ 21,5% lên 40,0% ($OR = 2,43$). Can thiệp đã tạo ra chuyển biến căn bản trong nhận thức và thực hành của bà mẹ, đặc biệt là việc nâng tỷ lệ sử dụng thực phẩm giàu protid rẻ tiền, dễ kiếm hàng ngày cho trẻ lên 76,9% ($OR = 9,4$) và giảm thiểu nguy cơ mắc tiêu chảy, viêm đường hô hấp. Mô hình kết hợp thảo luận nhóm "Cùng tham gia", hội thi thực hành chi phí thấp và học tập các "bà mẹ nghèo nuôi con khỏe" là giải pháp can thiệp y tế công cộng phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội tại các địa bàn miền núi, nông thôn khó khăn.