Chương 1: Một số vấn đề lý luận về suy dinh dưỡng trẻ em. Chương 2: Thực trạng suy dinh dưỡng trẻ em Việt Nam giai đoạn 1985 – 2005. Chương 3: Một số giải pháp kinh tế nhằm cải thiện tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em Việt Nam đến năm 2015. CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SUY DINH DƢỠNG TRẺ EM 1.
SUY DINH DƢỠNG TRẺ EM. Suy dinh dưỡng do thiếu protein – năng lượng (thường gọi là suy dinh dưỡng) là tình trạng thiếu dinh dưỡng quan trọng và phổ biến ở trẻ em. Biểu hiện của suy dinh dưỡng là trẻ chậm lớn và thường hay mắc bệnh nhiễm khuẩn như tiêu chảy và viêm đường hô hấp, trẻ bị giảm khả năng học tập, năng suất lao động kém khi trưởng thành. Người ta dùng thuật từ “ Suy dinh dưỡng protein – năng lượng ” (Protein – energy malnutrition – PEM) để chỉ các thể lâm sàng điển hình từ suy dinh dưỡng thể phù (Kwashiorkor) đến thể teo đét (Marasmus).
Phƣơng pháp đánh giá tình trạng dinh dƣỡng trẻ em. Tình trạng dinh dưỡng là tập hợp các đặc điểm chức phận cấu trúc và hoá sinh phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể. Tình trạng dinh dưỡng của các cá thể là kết quả của ăn uống và sử dụng các chất dinh dưỡng của cơ thể. Số lượng và chủng loại thực phẩm cần để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của con người khác nhau tuỳ theo lứa tuổi, giới, tình trạng sinh lý và mức độ hoạt động thể lực và trí lực.
Cơ thể sử dụng các chất dinh dưỡng có trong thực phẩm không những phải trải qua quá trình tiêu hoá, hấp thu mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như sinh hoá, sinh lý trong quá trình chuyển hoá. Việc sử dụng thực phẩm chủ yếu phụ thuộc vào tình trạng sức khoẻ của cá thể. Tình trạng dinh dưỡng tốt phản ánh sự cân bằng giữa thức ăn ăn vào và tình trạng sức khoẻ, khi cơ thể có tình trạng dinh dưỡng không tốt (thiếu hoặc thừa dinh dưỡng) là thể hiện có vấn đề về sức khoẻ hoặc dinh dưỡng hoặc cả hai. Tình trạng dinh dưỡng của một quần thể dân cư được thể hiện bằng tỷ lệ của các cá thể bị tác động bởi các vấn đề dinh dưỡng.
Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em từ 0 đến 5 tuổi thường được coi là đại diện cho tình hình dinh dưỡng và thực phẩm của toàn bộ cộng đồng. Để đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em người ta sử dụng phương pháp nhân trắc học với các chỉ tiêu nhân trắc theo khuyến nghị của Tổ chức Y tế thế giới là cân nặng theo tuổi, chiều cao theo tuổi và cân nặng theo chiều cao. Thiếu dinh dưỡng được ghi nhận khi các chỉ tiêu trên thấp hơn 2 độ lệch chuẩn (<-2 SD) so với quần thể tham khảo NCHS (Trung tâm thống kê sức khoẻ quốc gia Mỹ) theo tuổi và giới tính. Phân loại và thể loại suy dinh dƣỡng trẻ em.
Thể nhẹ cân hay cân nặng thấp theo tuổi (underweight): Phản ánh sự tăng trưởng chậm nói chung, không phân biệt xảy ra đã lâu hay gần đây. Chỉ tiêu này được sử dụng phổ biến nhất và được ứng dụng để theo dõi tăng trưởng thông qua biểu đồ. So với trị số tương ứng của quần thể tham khảo người ta chia ra các mức độ suy dinh dưỡng khác nhau: Suy dinh dưỡng vừa (độ 1): từ -2 đến -3 độ lệch chuẩn (SD) Suy dinh dưỡng nặng (độ 2): từ -3 đến -4 độ lệch chuẩn (SD) Suy dinh dưỡng rất nặng (độ 3): dưới -4 độ lệch chuẩn (SD) 1. Thể thấp còi (stunting): Chiều cao theo tuổi thấp phản ánh sự chậm tăng trưởng do điều kiện dinh dưỡng và sức khoẻ không hợp lý.
Đây là một chỉ tiêu tốt để đánh giá sự cải thiện các điều kiện kinh tế - xã hội. Thể gầy còm (wasting): Được xác định khi cân nặng theo chiều cao thấp. Thể gầy còm phản ánh tình trạng thiếu dinh dưỡng ở thời kỳ hiện tại, gần đây làm cho trẻ hoặc ngừng lên cân hoặc tụt cân. Một vấn đề khi phân loại tình trạng dinh dưỡng là lựa chọn quần thể để tham khảo và so sánh.
Việc xây dựng một quần thể tham khảo mang tính quốc gia có ưu điểm là sát với điều kiện thực tế trong một giai đoạn nhất định, tuy vậy rất tốn kém và không dễ gì chọn ra những đối tượng được “dinh dưỡng tốt” trong điều kiện các nước còn nghèo. Mặt khác, ngày càng có nhiều bằng chứng chứng minh rằng trẻ em ít nhất đến 5 tuổi nếu được nuôi dưỡng tốt thì có thể đạt được các kích thước tăng trưởng gần như nhau không phụ thuộc vào nòi giống, chủng tộc (Hà Huy Khôi, 2006). Do đó Tổ chức Y tế thế giới đã khuyến nghị dùng quần thể tham khảo NCHS của Mỹ để nhận định tình trạng dinh dưỡng trẻ em. Điều này không có nghĩa là đây là quần thể chuẩn mà chỉ là một công cụ đối chiếu để lượng giá tình hình và so sánh trên phạm vi quốc tế.
Nhằm mục đích đó, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đưa ra bảng phân loại sau đây để nhận định ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng của thiếu dinh dưỡng.1 PHÂN LOẠI MỨC ĐỘ THIẾU DINH DƢỠNG TRẺ EM DƢỚI 5 TUỔI Mức độ thiếu dinh dƣỡng theo tỷ lệ % Chỉ tiêu Thấp Trung bình Cao Rất cao Thấp còi (Stunting) < 20 20 – 29 30 – 39 ≥ 40 Nhẹ cân (Underweight) < 10 10 – 19 20 – 29 ≥30 Gầy còm (Wasting) <5 5–9 10 – 14 ≥15 (Nguồn: Tổ chức Y tế thế giới, 1997) 1. Nguyên nhân của suy dinh dƣỡng trẻ em. Suy dinh dưỡng trẻ em là hậu quả tác động của nhiều yếu tố. Theo các chuyên gia của Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), nguyên nhân của suy dinh dưỡng được chia ra theo các nhóm như sau: 1.
Nguyên nhân trực tiếp (immediate cause): Khẩu phần thiếu hụt và bệnh tật là những nguyên nhân trực tiếp nổi trội nhất gây suy dinh dưỡng. Trẻ em là một cơ thể đang lớn nhanh. Vì vậy nhu cầu dinh dưỡng tính theo đơn vị cân nặng cao hơn người lớn mà sức ăn của trẻ em lại có hạn, thức ăn thường cồng kềnh, đậm độ năng lượng thấp. Tình trạng mắc bệnh, đặc biệt là nhiễm khuẩn, gây kém ăn, tăng nhu cầu và giảm khả năng hấp thu.
Chức năng miễn dịch của trẻ em chưa được đầy đủ nên các thiếu sót về vệ sinh trong thời kỳ ăn bổ sung, cai sữa đều có thể dẫn đến ỉa chảy. Trong hầu hết các trường hợp, suy dinh dưỡng là hậu quả của tác động kết hợp giữa thiếu ăn và nhiễm khuẩn. Nguyên nhân tiềm tàng (underlying cause): Sự thiếu hụt khẩu phần có thể xảy ra do thiếu nguồn thực phẩm hoặc do người mẹ có quá ít thời gian dành cho chế biến thức ăn hoặc cho trẻ ăn. Tương tự, nhiễm khuẩn là hậu quả của dịch vụ chăm sóc y tế kém, thiếu nước sạch và vệ sinh kém hoặc trẻ không được chăm sóc đầy đủ.
Những nguyên nhân này được xếp theo ba nhóm: - Thiếu an ninh thực phẩm hộ gia đình. - Chăm sóc bà mẹ trẻ em chưa tốt. - Thiếu dịch vụ chăm sóc y tế và vệ sinh môi trường kém. Nguyên nhân cơ bản (basic cause): Nguyên nhân cơ bản bao gồm những vấn đề liên quan đến cơ cấu kinh tế, các yếu tố chính trị - xã hội và văn hoá.
Đó là sự phân phối không công bằng các nguồn lực, thiếu những chính sách xã hội phù hợp, tập quán ăn uống sai lầm… Để có cái nhìn tổng thể và có hệ thống về các nguyên nhân dẫn đến suy dinh dưỡng trẻ em, chúng ta có thể quan sát mô hình nguyên nhân suy dinh dưỡng được mô tả dưới đây: Hình 1.1 MÔ HÌNH NGUYÊN NHÂN SUY DINH DƢỠNG VÀ TỬ VONG 1. TÁC ĐỘNG CỦA SUY DINH DƢỠNG TRẺ EM ĐẾN SỨC KHOẺ CỘNG ĐỒNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI. Suy dinh dƣỡng trẻ em ảnh hƣởng tới sức khoẻ cộng đồng. Hậu quả của suy dinh dưỡng thể nặng không còn là vấn đề bàn cãi nữa, nhưng đối với thể vừa và nhẹ các hậu quả cũng không kém phần quan trọng: Đối với tử vong: Theo tài liệu của Tổ chức Y tế thế giới, qua phân tích 11,6 triệu trường hợp tử vong trẻ em dưới 5 tuổi trong năm 1995 ở các nước đang phát triển cho thấy có đến 54% (6,3 triệu trường hợp) có liên quan tới thiếu dinh dưỡng chủ yếu do tác động tăng cường của suy dinh dưỡng thể vừa và nhẹ, nếu gộp lại cả các nguyên nhân khác như: sởi, ỉa chảy, viêm cấp đường hô hấp và sốt rét thì tỷ lệ này lên tới 74%.
Tỷ lệ mắc bệnh: Tuy vẫn còn tranh luận về mối liên quan giữa thiếu dinh dưỡng với tỷ lệ mới mắc bệnh tiêu chảy nhưng không mấy ai còn nghi ngờ về mối liên quan giữa chậm tăng trưởng của trẻ với mức độ nặng của tiêu chảy và cả viêm phổi. Thiếu dinh dưỡng với phát triển hành vi và trí tuệ: Có thể nhìn thấy các mối liên quan giữa thiếu dinh dưỡng và kém phát triển trí tuệ, hành vi ở những cơ chế sau đây: Thiếu dinh dưỡng thường là thiếu nhiều chất dinh dưỡng cùng lúc trong đó có các chất dinh dưỡng quan trọng cần thiết cho phát triển trí tuệ (vitamin A, iod, sắt…) Trẻ em thiếu dinh dưỡng thường lờ đờ chậm chạp, ít năng động nên ít tiếp thu được qua giao tiếp với cộng đồng và người chăm sóc. Các thực nghiệm về ăn bổ sung tỏ ra có hiệu quả đến các chỉ số phát triển trí tuệ. Với sự hiểu biết hiện nay người ta thấy suy dinh dưỡng trong bào thai và trong những năm đầu của cuộc đời có ảnh hưởng xấu đến phát triển trí tuệ ít nhất là suốt cả thời kỳ niên thiếu.
Suy dinh dưỡng và sức khoẻ khi trưởng thành: Những trẻ thấp bé sẽ trở thành những người trưởng thành có tầm vóc bé nhỏ, năng lực sản xuất kém. Hơn nữa tầm vóc của người mẹ có liên quan đến khả năng sinh sản. Những người mẹ thấp nhỏ có nguy cơ đẻ khó cao, mặt khác người ta đã nhận thấy có liên quan giữa cân nặng sơ sinh với chiều cao của người mẹ một cách độc lập với khối lượng cơ thể. Hậu quả này còn lâu dài đến thế hệ sau vì những trẻ sơ sinh thiếu cân có nhiều nguy cơ trở thành thấp bé về sau này.
Suy dinh dƣỡng trẻ em tác động đến phát triển kinh tế - xã hội.