CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN Suy đinh dưỡng protein-năng lượng (Protein-Energy Malnutrition: PEM) là thể loại thiếu dinh dưỡng quan trọng có ý nghĩa sức khoẻ cộng đổng đối với trẻ dưới 5 tuổi ờ các nước đang phát triển Lrong đó có Việt nam [46]. Thuật từ SĐD Protein - Năng lượng ở trẻ em do Jolliffe đưa ra lần dầu vào năm 1959. Theo ông các thể SDD Protein - Năng lượng đều có liẻn quan tới khẩu phần ăn thiếu protein và thiếu năng lượng ở các mức độ khác nhau, Mặc dù gọi là SDD Protein - Năng lượng nhưng đây không chi là tình trạng tình trạng thiếu hụt protein và năng lượng mà (hường thiếu kết hợp nhiều chất dinh dưỡng khác, đặc biệt là các vĩ chất dinh dưỡng. Bệnh phổ biến ở trẻ nhò.
nhưng cũng có thể thấy ờ trẻ lớn hơn như tuổi vị thành niên và cả người lớn. nhất là ở phụ nữ tuổi sinh đè [46][24J. Tinh hình suy dinh dương ử trỂ em hiện nay: Theo ước tính của TCYTTG hiện nay có khoáng 800 triệu người bị đói nghèo kéo dài và 150 - 160 triệu trẻ em dưéri 5 tuổi bị SDD thể nhẹ cản, 182 triệu trẻ bị còi cọc[52]. SDD tập trung chủ yếu ở các nước đang phát triển nhất là các nước Châu Á vù Cĩiâu Phí.
Theo kết quà điều tra quốc gia từ nâm 1980-1992 của 72 nước đang phát triển cho thấy tỳ lệ tre dưới 5 tuổi bị SDD là 35,8% trong đó tỳ lệ trê còi cọc 42,7% và tỳ lệ trẻ gầy còm là 9,2%. Châu Á có tỳ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi cao nhất (thể nhẹ càn 42% thể còi cọc 47,1 % và 10,8% thè’ gầy còm. Chau úc có các tỷ lệ tưong ứng là 29, ỉ % ,41. Châu Phi có 27,4% ưẻ SDD nhẹ cân.
38,6% trẻ còi cọc và 7,2% trẻ gầy còm. Mỷ La tinh có 11,9% trẻ SDD nhẹ cân. 22,2% trê còi cọc và 2,7% trẻ gầy còm [58]. Nhiều năm gần đáy SDD trê em dưới 5 tuổi có xu hướng giảm ưẽn phạm vi toàn thê giới.
Theo số liệu điều tra của 61 quốc gia năm 1998 thấy tỳ lệ SDD trong 15 nám qua giám 0,54%/năm (thể còi), ưong đó các nước Đỏng Nam Á có tỷ lệ giảm nhanh nhất khoảng 0,9%[69]. Xu hướng tiên triển dinh dưỡng cùa trẻ em ở các khu vực là hoàn toàn khác nhau, ớ các nước đang phát triển tỳ lệ thấp còi đã giâm từ 47% năm 1980 xuống 33% năm 2000. Tháp còi tảng lên ớ Chủu Hu nhưng lại giùm xuống ở Đỏng Nam Á, Nam Á và Nam Mỹ; liến triển ứ Bác Pill và vùng Canbe là chạm nhất, ờ Tày Phi và Trung Mỹ hầu 5 như không đổi {56]. Tại khu vực Đông nam Á, theo thống kê của UNICEF năm 1998 cho thấy tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi còn cao ở một số nưóc như sau: Lào 40%, Indonesia 34%.
TCYTTG dã phàn múc dộ theo tỷ lệ SDD trè em ở công đổng như sau [50]. Mức độ CN/T(%) CC/T(%) CN/CC(%) Thấp < 10 <20 <5 Trung bình 10- 19,9 20 - 29,9 5-9,9 Cao 20 - 29,9 30 - 39,9 10- 14,9 Rất cao >30 >40 > 15 Trong những nám qua nền kinh tế- xã hội nước ta đà có những thay đổi lởn, đời sống người dản đang lừng bước được cải thiện. Các chương trình châm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em đã đạt được những kết quả nhất định, các bẹnh nhiễm trùng, suy dinh dưỡng trẻ em dã giám hẳn cho thây chúng ta đà mít dần các dấu ấn cùa các nước chậm phát triển về kinh tế. Tỷ lệ SDD trẻ em Việt Nam và tính Lào Cai qua các năm (1999-2004) CN/T(%) CC/T(%) Nãm Toàn quốc Lào Cai Toàn quốc Lào Cai 1999 36,7 45,5 38,7 50,2 2000 33,8 42,3 36,5 49,2 2001 31,9 39,8 34,8 49,4 2002 30,1 37,5 33 46,6 2003 28.4 35,8 32 45,6 2004 26,6 34,6 30,7 45 Nguồn Viện Dinh Dưỡng Mặc dù tỳ lệ SDD trẻ em giám nhiều trong nhửng nám gần đây nhưng theo phân loại của TCYTTG Việt Nam vẫn là một trong những Quôc gia có tỷ lệ SDD tré em dưới 5 tuổi ớ mức cao.
Các nghiên cứu cũng chi ra các vùng sinh thái khác nhau thì tý lệ SDD cũng không giống nhau. Miển núi cao hơn đổng bàng, nông thôn cao hơn thành thị. 6 những vùng hay bị hạn hán, Iu lụt tỷ lẹ cao hơn các vùng khác. Bàng ẫ, Tỷ tệ SDD cùa tre em dưới 5 tuổi cún Việt Nam phán bố theo khu vực - Năm 2004 [5] Tén vùng CN/T(%) CC/T (%) CN/CC Toàn quốc 26,6 30,7 7,7 Đổng bang sủng Hồng 22,8 25,6 7,0 Tây Bắc 32 36,9 8,4 Đông Bắc 29,8 34,9 9,0 Bác Miền Trung 31,7 36,4 8,4 Nam Trung bộ 27,7 30,5 6,8 Tây Nguyên 35,8 42,4 9,2 Đông Nam Bộ 19,9 23,1 6,3 Đổng Bằng sóng Cửu long 25,1 29,2 7,9 Nhir vậy [ý lẹ SDD trẻ em miền núi ở cà 3 thể luôn cao nhất.
Trong một số nghiên cứu lình trạng dinh dưỡng trẻ CỈĨ1 dưới 5 tuổi ở khu vực mién núi cho thấy; SDD thế nhẹ can ở mức (50,7 - 66,5%), the tháp còi (50,6 - 75. So với người Kinh tre em các dãn lộc thiểu số SDD nhiêu hơn; Jurat (50,4%), Banar (58,6%), Xèđãng (55,2%), H Mông (57,3%) [9j,[l 1], Bàng 4, Tỷ lệ SDĐ trẻ em dưới 5 tuổi ở một so tinh miền Đóng Bác năm 2004ỆÕ] Tên địa phương CN /T(%) CC/T(%) CN/CC Hà Giang 33,4 44,3 7,3 Cao Bằng 30,2 37,8 7,2 Lào Cai 34,6 45,0 9,0 Bác Cạn 35,6 39,2 10,2 Lạng Sơn 29,8 36,9 ỉ 1,2 TuyỄn Quang 31,3 36,5 7,9 Lào Cai là lính có mức giám lý lệ SDO trẻ em trong giai đoạn 1999 - 2004 tương đời cao so với toàn quốc (Bủng 2: Lào Cai 2,08%/ nàm, toàn quốc 2,02%/ 7 nãm) nhưng vãn là một trong các tỉnh vùng Đông Bẳc có tỳ lệ SDĐ trẻ em ở 2 thể nhẹ cân và thấp còi nàm ở mức rất cao theo phân loại của TCYTTG. Nguyên nhãn suy dinh dưỡng ở trẻ em: Nguyên nhàn của SDD trẻ em rát phức tạp, nó bát nguồn từ các yêu tố cơ bản như chính trị không ổn định và chậm tâng trưởng kính tê' đến các yếu tò' đặc thù như các bệnh truyền nhiễm [56]. Hội nghị Quốc tế về dinh dưỡng tại Roma (12/1992) thì khảng định nguyên nhân SDD là nghèo đói và thiếu kiến thức.
Nghiên cứu tại Việt Nam. theo Từ Giấy, Hà Huy Khôi và cộng sự của Viện dinh dưỡng cho thấy nguyên nhân gây SDD của trẻ em dưới 5 tuổi là 3 nguyên nhàn tác động riẻng rẽ hoậc phối hợp: 1/3 do thiếu ăn, 1/3 do bệnh tật còn 1/3 đo bà mẹ thiếu hiểu biết cần thiéì để chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ [23]. Trong quá trình sớng cơ thế con người luôn phải thay cũ đổi mới. Các phàn ứng sính tổng hợp các tế bào và các tổ chức mới đòi hòi cung cấp náng lượng, năng lượng cần thiết cho các hoạt động chức phận bên trong cơ thể gọi chuyến hoá cơ sớ, Chuyến hoá cơ sở là năng lượng cơ thể tiêu hao trong điêu kiên nghi ngơi, nhịn đói và ở nhiệt độ mõ ĩ E rường thích hợp.
Đó là năng lượng cần thiết để duy trì các chức phận song của cơ thê’ như tuần hoàn, hô hấp, bài tiết, tiêu hoá, duy trì tính ổn dinh các dịch thể bẽn trong và bèn ngoài tế bào. Chuyển hoá cơ sờ ớ trẻ cm cao hơn ở người lớn tuổi càng nhò chuyên hoá cơ sờ càng cao [22]. Vì vậy đối với trẻ em dể có thê’ tăng cân thì năng lượng ăn vào của trê phải lớn hơn năng lượng cho trẻ hoạt động và và nâng lượng cho sự phát triển [64] một khi trẻ khỏng táng hay, tụt càn có nghĩa là nủng lượng ãn vào cùa trê so với nhu cầu của cơ thể còn thiếu hoặc vì lý do bệnh lật mà làm nhu cầu dó cao hơn hay làm hạn chê' việc tiêu hoá, hấp thu cùa trẻ. Suy dinh dưỡng và nhíiỉm trùng luồn là vòng luẩn quẩn.
Nhiẻm trùng làm rùng nguy cơ SDD đồng thời SDD làm giùm miễn dịch của cơ thể qua đó làm giảm khả niìng chống lại vi khuẩn vì vủy làm táng quá trình nhiểm trùng [60]. Những trẻ được nuôi dưởng kém sẽ có nguy cư viêm phổi cao hơn rõ rệt so với những trẻ được nuôi dưỡng tốt. nếu những trẻ đó mắc viêm phổi thì nguy cơ từ vong cũng rất cao. Nghiên cứu cùa Kaushik PV tại Meerut, Ấn Độ [62] dã đưa ra mối liên quan giữa NKHHCT và SDD: 42.25% trê mác NKHHCT trong 2 tuần trước khi điểu tra hầu hét là ho và 8 cảm lạnh, viêm phổi chỉ có 19,5%.
Trong những trường hựp viêm phổi nặng và rất nặng có 57,5% trè thiêu Protein năng iượng. Trẻ SDD mắc NKHHCT nhiểu hưn trẻ không SDD (52,2% và 28,8%, p <0,001). Các nghiên cứu cùa Levison 1978, Chen 1979, Martorell 1984, Prahlad Rao 1988 chỉ ra mối liên quan giữa bệnh ỉa chảy và phát triển của trẻ. Trê em bị ỉa chảy, dặc biệt là ỉa chảy kéo dài và số lần ỉa chảy nhiều sẽ kém phát triển hơn so vói trẻ em không bị ỉa chảy.
Một sô' nghiên cứu khác của Berg 1973, Lathan 1975, Blumenthal và Schultz 1976, Stephenson 1980 đểu cho ràng trẻ em SDD độ 3 (SDD nặng) nếu bị ỉa chày rất de tử vong. Khi nghiên cứu về tử vong ở trẻ SDD của các nước đang phát triển, tác gíã Amy L. Rice, Lisa Sacco và cộng sự nhạn thấy có mõi ỉìẽn quan giữa SDD và bệnh tật nhất là với bệnh tiêu chây và NKHHCT. Tre bị SDD khi bị tiêu chảy, tình trạng bệnh sẽ nặng hơn, nguy cơ tử vong cao hơn.
Trẻ bị SDD khi mac NKHHCT nguy cơ lử vong tàng gấp 2 - 3 lần [51]. Nhiễm KST đường ruột cũng là một nguyên nhân quan trọng gây ra SDD, thiếu mấu ở trẻ em. Đã có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước về mối liên quan giữa SDD và bẹnh KST dường ruột. Nghiên cứu của Hadju và cộng sự ớ vùng dận nghèo thành phố của Indonesia cho thấy rang có mối liên quan giữa nhiêm ký sinh trùng với sự phát triển chiều cao cùa trẻ (61 ].
Nghiên cứu cùa Nguyễn Cõng Khanh và cộng sự ớ một sô trường tiểu học ở Hà Nội và Hà Tây (1995) cho thấy ràng có mói liên quan chặt chè giữa thiếu máu và nhiễm KST dường ruột cùa học sinh [20].