Chương I Luật BHXH 2014 - Luật số 58/2014/QH13 Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội. Quỹ bảo hiểm xã hội là quỹ tài chính độc lập với ngân sách Nhà nước, được hình thành từ đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và có sự hỗ trợ của Nhà nước. - Bảo hiểm y tế (BHYT): Theo Khoản 3 Điều 12 Luật BHXH 2014- Luật số 46/2014/QH13 Bảo hiểm y tế là một chính sách xã hội được áp dụng trong lĩnh vực sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận. Do nhà nước tổ chức thực hiện và các đối 10 tượng tham gia theo quy định của Luật này.
Quỹ bảo hiểm y tế là quỹ tài chính độc lập với ngân sách Nhà nước được hình thành từ nguồn đóng bảo hiểm y tế và các nguồn thu nhập hợp pháp khác. - Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN): Theo Khoản 1 Điều 43 Luật BHXH 2014- Luật số 46/2014/QH13 là khoản hỗ trợ tài chính tạm thời dành cho những người bị mất việc mà đáp ứng đủ yêu cầu theo Luật quy định. Đối tượng được nhận bảo hiểm thất nghiệp là những người bị mất việc không do lỗi của cá nhân họ. Người lao động vẫn đang cố gắng tìm kiếm việc làm, sẵn sàng nhận công việc mới và luôn nổ lực nhằm chấm dứt tình trạng thất nghiệp.
Những người lao động này sẽ được hỗ trợ một khoản tiền theo tỉ lệ nhất định. Ngoài ra, chính sách bảo hiểm thất nghiệp còn hỗ trợ học nghề và tìm kiếm việc làm đối với người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp. - Kinh phí công đoàn (KPCĐ): Theo Khoản 2 Điều 26 Luật BHXH 2014- Luật số 46/2014/QH13 Là khoản tiền dung để duy trì hoạt động tổ chức công đoàn đơn vị và công đoàn cấp trên. Tổ chức này hoạt động nhằm bảo vệ quyền lợi và nâng cao đời sống của người lao động.1: Nguyên tắc bảo hiểm xã hội: - Mức hưởng BHXH được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng bảo hiểm xã hội và có chia sẻ giữa những người tham gia bảo hiểm xã hội.
- Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp được tính trên cơ sở tiền lương, tiền công của người lao động. Mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được tính trên cơ sở mức thu nhập do người lao động lựa chọn nhưng mức thu nhập này không thấp hơn mức lương tối thiểu chung. - Người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất trên cơ sở thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội. 11 - Quỹ bảo hiểm xã hội được quản lý thống nhất, dân chủ, công khai, minh bạch, được sử dụng đúng mục đích, được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần của bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp.
- Việc thực hiện bảo hiểm xã hội phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội.2: Nguyên tắc bảo hiểm y tế: - Bảo đảm chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia bảo hiểm y tế. - Mức đóng bảo hiểm y tế được xác định theo tỷ lệ phần trăm của tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp hoặc mức lương tối thiểu của khu vực hành chính (sau đây gọi chung là mức lương tối thiểu). - Mức hưởng bảo hiểm y tế theo mức độ bệnh tật, nhóm đối tượng trong phạm vi quyền lợi của người tham gia bảo hiểm y tế. - Chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế do quỹ bảo hiểm y tế và người tham gia bảo hiểm y tế cùng chi trả.
- Quỹ bảo hiểm y tế được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch, bảo đảm cân đối thu, chi và được Nhà nước bảo hộ.3: Ý nghĩa của tiền lương và các khoản trích theo lương: Tiền lương là một đòn bẩy kinh tế quan trọng để kích thích các nhân tố tích cực trong mỗi người lao động, thúc đẩy tăng năng suất lao động, phát huy tài năng, sáng kiến, tinh thần trách nhiệm và nhiệt tình của người lao động tạo thành động lực quan trọng của sự phát triển kinh tế. - Tiền lương được xem xét ở hai góc độ: + Với chủ doanh nghiệp: tiền lương là yếu tố sản xuất mà mục đích của các chủ doanh nghiệp là lợi nhuận. + Với người cung ứng lao động: Tiền lương là nguồn thu nhập mà mục đích của họ là tiền lương. 12 Tóm lại, tiền lương không chỉ mang tính chất là chi phí mà nó còn trở thành phương tiện tạo ra giá trị mới hay nói đúng hơn nó là nguồn cung ứng sự sáng tạo sức sản xuất, năng suất lao động trong quá trình sản sinh ra các giá trị gia tăng.
- Thêm một góc độ nào đó, tiền lương thể hiện giá trị, địa vị, uy tín của người lao động đối với gia đình, với doanh nghiệp và với xã hội. - Việc sử dụng có hiệu quả Quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ được xem là một phương tiện hữu hiệu để kích thích người lao động gắn bó với hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần đảm bảo vật chất, ổn định đời sống cho người lao động và cho gia đình họ trong trường hợp người lao động ốm đau, thai sản, tử tuất,… 1.4: Phân loại tiền lương và các nguyên tắc cơ bản trong tiền lương - Phân loại tiền lương ( gồm 03 loại): + Phân loại theo hình thức trả lương: - Trả lương theo thời gian: Tiền lương theo thời gian được trả cho người lao động căn cứ vào thời gian làm việc thực tế theo tháng, tuần, ngày, giờ. - Trả lương theo sản phẩm: Tiền lương theo sản phẩm được căn cứ vào mức độ hoàn thành số lượng, chất lượng sản phẩm theo định mức lao động và đơn giá sản phẩm được giao. - Trả lương khoán: Tiền lương khoán được căn cứ vào khối lượng, chất lượng công việc và thời gian phải hoàn thành.
+ Phân loại theo thời gian lao động: - Lương thường xuyên: Là toàn bộ tiền lương trả cho những lao động thường xuyên có trong danh sách lương công ty. - Lương thời vụ: Là loại tiền lương trả cho người lao động tạm thời mang tính thời vụ. + Phân loại theo quan hệ với quá trình sản xuất: 13 - Lương trực tiếp: Là phần tiền lương trả cho người lao động trực tiếp sản xuất chính là bộ phận nhân công trực tiếp sản xuất hay trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất sản phẩm và thực hiện các lao vụ dịch vụ. - Lương gián tiếp: Là phần tiền lương trả cho người lao động gián tiếp sản xuất, hay là bộ phận lao động tham gia một cách gián tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, như bộ phận: quản lý, hành chính, kế toán,….
+ Các nguyên tắc cơ bản trong tiền lương: - Nguyên tắc thứ nhất: Trả lương ngang nhau cho lao động như nhau trong doanh nghiệp. Đây là nguyên tắc đảm bảo sự công bằng, tránh sự bất bình đẳng trong công tác trả lương. Nguyên tắc này phải được thể hiện trong các thang lương, bảng lương và các hình thức trả lương trong doanh nghiệp. - Nguyên tắc thứ hai: Đảm bảo năng suất lao động tăng nhanh hơn nhiều tiền lương bình quân.
Trong doanh nghiệp tiền lương là yếu tố chi phí sản xuất kinh doanh. Nguyên tắc này đảm bảo cho doanh nghiệp có hiệu quả trong công tác sử dụng tiền lương làm đòn bẩy, thể hiện lên hiệu quả trong sử dụng chi phí của doanh nghiệp. - Nguyên tắc thứ 3: Phân phối theo số lượng và chất lượng lao động: Nguyên tắc này đòi hỏi doanh nghiệp tránh tình trạng xây dựng các hình thức lương phân phối bình quân, vì như thế sẽ tạo ra sự ỷ lại và sự ỳ lại của người lao động trong doanh nghiệp. - Nguyên tắc thứ 4: Đảm bảo mối quan hệ hợp lý về tiền lương giữa những người lao động trong các điều kiện khác nhau.
Nguyên tắc này làm căn cứ cho doanh nghiệp xây dựng tổ chức thực hiện công tác tiền lương công bằng hợp lý trong doanh nghiệp. Nhằm đảm bảo cho công nhân yên tâm trong sản xuất, trong những điều kiện làm việc khó khăn, môi trường độc hại,… 1.3: Nhiệm vụ của kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương Tiền lương và các khoản liên quan đến người lao động, không chỉ là vấn đề quan tâm riêng của công nhân viên mà còn là vấn đề doanh nghiệp đặc biệt chú ý, vì liên quan tới chi phí hoạt động của doanh nghiệp nói chung và giá thành sản phẩm 14 của doanh nghiệp nói riêng. Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương ở doanh nghiệp phải thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau đây: - Ghi chép, phản ánh đầy đủ, chính xác thời gian và kết quả của công nhân viên: tính đúng và thanh toán đầy đủ tiền lương và các khoản trích theo lương cho công nhân viên. Quản lý chặt chẽ việc sử dụng, chi tiêu quỹ lương.
- Tính toán, phân bổ hợp lý, chính xác chi phí tiền lương ( tiền công) và các khoản trích bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), kinh phí công đoàn ( KPCĐ) cho các đối tượng sử dụng liên quan. - Định kỳ, lập báo cáo tiền hành phân tích tình hình lao động, tình hình quản lý và chi tiêu quỹ lương. Cung cấp các thông tin kinh tế cần thiết cho bộ phận liên quan.4: Các hình thức trả lương trong doanh nghiệp (Căn cứ theo quy định tại Điều 94 Bộ luật Lao động 2012, Điều 22 Nghị định 05/2015/NĐ-CP, Điều 4 Thông tư 23/2015/TT-BLĐTBXH) thì hiện nay có 2 hình thức trả lương là hình thức trả lương theo thời gian và trả lương theo sản phẩm cụ thể như sau: 1.1: Hình thức trả lương theo thời gian Tiền lương theo thời gian được trả cho người lao động hưởng theo thời gian, căn cứ vào thời gian làm việc theo tháng, tuần, ngày, giờ theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động, cụ thể: - Tiền lương tháng: Là tiền lương được trả cho một tháng làm việc của người lao động được tính trên cơ sở hợp đồng lao động.