phần mở đầu và kết luận, khóa luận gồm 3 chương. Cụ thể như sau: Chƣơng 1: Lý luận chung về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp. Chƣơng 2: Thực trạng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty TNHH Dũng Thắng. Chƣơng 3: Một số giải pháp góp phần hoàn thiện kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty TNHH Dũng Thắng.
NỘI DUNG CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 1. Chi phí sản xuất và phân loại chi phí sản xuất. Chi phí sản xuất. Bất kỳ một doanh nghiệp nào khi tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh cũng cần phải có sự kết hợp hài hòa giữa ba yếu tố cơ bản là: tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động.TS Ngô Thế Chi) Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp là quá trình lao động sử dụng tư liệu lao động tác động vào đối tượng lao động để sản xuất ra sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Quá trình sử dụng các yếu tố sản xuất để tạo ra sản phẩm cũng là quá trình phát sinh những hao phí nhất định về tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động (hay hao phí về lao động sống và lao động vật hóa).TS Ngô Thế Chi) Hao phí về lao động vật hóa là các chi phí về toàn bộ các tư liệu đã tiêu hao trong quá trình sản xuất để tạo nên sản phẩm như chi phí về nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, chi phí về khấu hao tài sản cố định… (Theo GS.TS Ngô Thế Chi) Hao phí về lao động sống là các chi phí về tiền lương, tiền công phải trả cho người lao động tham gia vào quá trình tạo nên sản phẩm. Để đo lường các hao phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong một thời kỳ nhất định nhằm tổng hợp, xác định kết quả kinh doanh, phục vụ cho yêu cầu quản lý thì mọi hao phí biểu hiện dưới hình thái giá trị gọi là chi phí sản xuất.TS Ngô Thế Chi) Chi phí sản xuất là toàn bộ các hao phí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp chi 10 ra trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh, biểu hiện bằng tiền và được tính cho một thời kỳ nhất định. Đối với hoạt động xây dựng cơ bản, thì chi phí sản xuất của doanh nghiệp xây lắp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp phải bỏ ra để tiến hành hoạt động thi công xây lắp trong một thời kỳ nhất định. Chi phí sản xuất của doanh nghiệp phải được đo lường và tính toán bằng tiền trong một khoảng thời gian xác định.
Độ lớn của chi phí sản xuất là một đại lượng xác định và phụ thuộc vào 2 nhân tố chủ yếu: Nhân tố thứ nhất là khối lượng lao động và tư liệu sản xuất đã tiêu hao vào quá trình sản xuất trong một thời kỳ nhất định. Nhân tố thứ hai là giá cả của một đơn vị tư liệu sản xuất đã hao phí và tiền công của một đơn vị lao động đã hao phí. Khi nghiên cứu về chi phí, chúng ta cũng cần phải xem xét và phân biệt được sự khác nhau giữa chi phí và chi tiêu của doanh nghiệp. Muốn vậy cần phải nắm được bản chất của chi phí trong hoạt động của doanh nghiệp.
Đó là những hao phí về tài nguyên, vật chất, về lao động và phải gắn liền với mục đích kinh doanh. Còn chi tiêu của doanh nghiệp là sự chi ra, sự giảm đi thuần túy của tài sản doanh nghiệp không kể các khoản đã dùng vào việc gì và dùng như thế nào. Phân loại chi phí sản xuất. Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm nhiều loại khác nhau.
Để thuận tiện cho công tác quản lý, hạch toán, kiểm tra chi phí cũng như phục vụ cho việc ra các quyết định kinh doanh, chi phí sản xuất kinh doanh cần phải được phân loại theo những tiêu tiêu thức phù hợp. * Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo hoạt động và công dụng kinh tế. Căn cứ vào mục đích của từng loại hoạt động trong doanh nghiệp, căn cứ vào công dụng kinh tế của chi phí thì chi phí sản xuất kinh doanh được chia thành: Chi phí hoạt động kinh doanh thông thường. Căn cứ vào chức năng, công dụng của chi phí thì chi phí này được chia thành chi phí sản xuất kinh doanh và chi phí hoạt động tài chính.
Chi phí sản xuất kinh doanh: gồm chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất.TS Ngô Thế Chi thì: Chi phí sản xuất: Là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp bỏ ra có liên quan đến việc chế tạo sản phẩm, lao vụ dịch vụ trong một thời kỳ nhất định. Chi phí sản xuất của doanh nghiệp bao gồm: - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là toàn bộ chi phí nguyên vật liệu được sử dụng trực tiếp cho quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm, lao vụ dịch vụ. - Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm tiền lương và các khoản phải trả trực tiếp cho công nhân sản xuất, các khoản trích theo lương của công nhân sản xuất như kinh phí công đoàn, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. - Chi phí sản xuất chung: Là các khoản chi phí sản xuất liên quan đến việc phục vụ và quản lý sản xuất trong phạm vi các phân xưởng, đội sản xuất.
Chi phí sản xuất chung bao gồm các yếu tố chi phí sản xuất sau: + Chi phí nhân viên phân xưởng: bao gồm chi phí tiền lương, các khoản phải trả, các khoản trích theo lương của nhân viên phân xưởng, đội sản xuất. + Chi phí vật liệu: bao gồm chi phí vật liệu dùng chung cho phân xưởng sản xuất với mục đích là phục vụ và quản lý sản xuất. + Chi phí dụng cụ: bao gồm chi phí về công cụ, dụng cụ dùng ở phân xưởng để phục vụ sản xuất và quản lý sản xuất. + Chi phí khấu hao tài sản cố định: bao gồm toàn bộ chi phí khấu hao của tài sản cố định thuộc các phân xưởng sản xuất quản lý và sử dụng.
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: bao gồm các chi phí dịch vụ mua ngoài dùng cho hoạt động phục vụ và quản lý sản xuất của phân xưởng, đội sản xuất. + Chi phí bằng tiền khác: là các khoản trực tiếp bằng tiền dùng cho việc phục vụ và quản lý sản xuất ở phân xưởng sản xuất. Chi phí ngoài sản xuất: bao gồm: 12 - Chi phí bán hàng: là chi phí lưu thông và chi phí tiếp thị phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, lao vụ, dịch vụ. Loại chi phí này có: chi phí quảng cáo, giao hàng, giao dịch, hoa hồng bán hàng, chi phí nhân viên bán hàng và các chi phí khác gắn liền đến bảo quản và tiêu thụ hàng hóa.
- Chi phí quản lý doanh nghiệp: là các khoản chi phí liên quan đến việc phục vụ và quản lý sản xuất kinh doanh có tính chất chung toàn doanh nghiệp. Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm: Chi phí nhân viên quản lý, chi phí vật liệu quản lý, chi phí đồ dùng văn phòng, khấu hao tài sản cố định dùng chung toàn doanh nghiệp, các loại thuế, phí có tính chất chi phí, chi phí khánh tiết, hội nghị. Chi phí hoạt động tài chính.TS Ngô Thế Chi) Chi phí hoạt động tài chính là những chi phí và các khoản lỗ liên quan đến các hoạt động về vốn như: chi phí liên doanh, chi phí đầu tư tài chính, chi phí liên quan đến cho vay vốn, lỗ liên doanh… Chi phí khác.TS Ngô Thế Chi) Chi phí khác là các chi phí và các khoản lỗ do các sự kiện hay các nghiệp vụ bất thường mà doanh nghiệp không thể dự kiến trước được, như: chi phí thanh lý, nhượng bán tài sản cố định, tiền phạt do vi phạm hợp đồng, các khoản phạt, truy thu thuế… Phân loại chi phí theo cách này sẽ cung cấp được thông tin về tài sản đã tiêu dùng trong quá trình sản xuất kinh doanh và có cơ sở xác thực cho việc định giá từng loại sản phẩm, hàng hóa, đồng thời làm cơ sở cho việc tổng hợp thông tin phục vụ cho việc lập báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Giá thành sản phẩm và phân loại giá thành sản phẩm.
Giá thành sản phẩm.TS Ngô Thế Chi) Giá thành sản phẩm là chi phí sản xuất tính cho một khối lượng sản phẩm hoặc đơn vị sản phẩm, lao vụ, dịch vụ hoàn thành.TS Ngô Thế Chi) Giá thành sản phẩm xây lắp là chi phí sản xuất tính cho khối lượng sản phẩm xây lắp hoàn thành theo quy định. Trong xây dựng cơ bản, khi tiến hành thi công các công trình, do quá trình thi công thường 13 kéo dài, trải qua nhiều giai đoạn phức tạp nên việc nghiệm thu, bàn giao cũng được tiến hành dàn trải theo từng giai đoạn, từng công trình, hạng mục công trình hay khối lượng xây lắp hoàn thành. Như vậy, có thể hiểu giá thành sản phẩm xây lắp là toàn bộ chi phí sản xuất từng công trình, hạng mục công trình hay khối lượng xây lắp hoàn thành được nghiệm thu bàn giao và chấp nhận thanh toán. Giá thành sản phẩm của doanh nghiệp thể hiện chi phí cá biệt của doanh nghiệp để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Một loại sản phẩm có thể có nhiều doanh nghiệp cùng sản xuất, nhưng do trình độ quản lý khác nhau, giá thành sản phẩm đó sẽ khác nhau. Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh kết quả sử dụng tài sản, vật tư, lao động và tiền vốn trong quá trình sản xuất, cũng như tính đúng đắn của các giải pháp tổ chức, kinh tế, kỹ thuật và công ngệ mà doanh nghiệp đã sử dụng nhằm nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, hạ thấp chi phí và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Giá thành còn là căn cứ quan trọng để xác định giá bán và xác định hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh.