CHƯƠNG 1. NHỮNG HIỂU BIẾT CƠ SỞ VỀ ĐÁNH GIÁ CẢM QUAN thành điều không thể thay thế 1. Một vấn đề được đặt ra tiếp theo (không chỉ đối với các em sinh viên mà cả với những người đã từng tổ chức các thí nghiệm đánh giá cảm quan) đó là số lượng thành viên trong một hội đồng. Sẽ là không chính xác khi đưa ra một con số cụ thể mặc dù điều đó thỏa mãn tốt hơn câu hỏi trên đây, nhưng trong đánh giá cảm quan, để xác định số lượng người tham gia hội đồng, trước hết cần phải xác định rõ mục đích thí nghiệm.
Nếu như bạn muốn xác định những tính chất cảm quan của một sản phẩm thực phẩm thì cần phải tập hợp một nhóm gồm 8-12 người đã qua lựa chọn và huấn luyện. Ngược lại, nếu mục đích thí nghiệm chỉ đơn giản là tìm hiểu nhận biết của người thử về sự giống, khác nhau giữa hai hoặc vài nhóm sản phẩm thì số lượng người thử cần kiểm tra lúc này phải nhiều hơn 50 người. Những thành viên này cũng cần được lựa chọn và huấn luyện nhưng về mặt thời gian và khối lượng thì "nhẹ nhàng" hơn nhóm "phân tích" bởi mục đích yêu cầu cũng đơn giản hơn: họ chỉ cần trả lời là những sản phẩm này giống hay khác nhau. Chú ý rằng điều này hoàn toàn không có nghĩa là các phép thử thuộc loại này là đơn giản.
Xin mời độc giả quan tâm tìm đến bài viết gần đây của O’Mahony[16]. Nếu như mục đích thí nghiệm là đánh giá sự ưa thích của người tiêu dùng đối với một sản phẩm thì cần phải vượt qua con số 100 người thử để kết quả thu được có giá trị. Để tính toán số lượng người thử cần cho loại phép thử này, có rất nhiều công thức được đề nghị tuy nhiên những điều kiện để áp dụng chúng còn là một cuộc tranh cãi lớn; và trong hầu hết các trường hợp, con số 100 xuất hiện với tần số nhiều nhất.2 Sản phẩm-Mẫu thử Quy tắc "vàng" thứ nhất của các phương pháp phân tích đòi hỏi các mẫu kiểm tra (What) phải "đại diện" cho tập hợp mẫu. Ngoài ra, các phương pháp lấy mẫu cần phải được chuẩn hóa để đảm bảo kết quả đo đạc có thể khái quát cho cả tập hợp.
Phương pháp lấy mẫu, số lượng mẫu và những vấn đề liên quan bạn đọc có thể tìm thấy trong tài liệu Kỹ thuật phân tích thực phẩm (Hà Duyên Tư[3]). Cùng với yêu cầu "đại diện", mẫu thử phải được chuẩn bị theo một cách thống nhất. Một lời khuyên: mọi khâu chuẩn bị phải được văn bản hóa nhằm tránh mọi sai sót không đáng có. Việc văn bản hóa này còn là một cơ sở tốt để người tổ chức phép thử có thể đi tìm giải đáp cho kết quả thực nghiệm.
Quy tắc "vàng" thứ hai đó là các mẫu phải được trình bày dưới dạng vô danh (nude-trần trụi). Trong mọi trường hợp mẫu đem đi thử không được có bất kỳ một mối liên hệ nào với tên thương mại, nhãn hiệu, nguồn gốc,. nhằm loại trừ được ảnh hưởng của hình ảnh cảm giác về sản phẩm có trước của người thử đến kết quả đánh giá cuối cùng. Thông thường, các mẫu thử được mã hóa bởi một số gồm 3 chữ số ngẫu nhiên (Phụ lục 8).3 Lựa chọn phép thử Lựa chọn phép thử (How) là khâu rất quan trọng của một thí nghiệm đánh giá cảm quan.
Bạn đọc có thể tìm thấy sơ đồ lựa chọn các phép thử được trình bày chi tiết trong SSHA[14]. Một cách tóm tắt, chúng ta cần phải tuân theo trình tự: Phép thử Phân biệt→ Phép thử Mô tả→ Phép thử Thị hiếu. Trong tài liệu này, chúng tôi sẽ trình bày nguyên tắc của một số phép thử thông dụng mà các bạn có thể sử dụng tùy theo vấn đề cụ thể mà bạn gặp phải. R Bạn có hai sản phẩm và bạn muốn kiểm tra xem chúng có khác nhau hay không: Phép thử tam giác R Bạn một sản phẩm và bạn muốn kiểm tra xem sản phẩm này giống hay khác sản phẩm mẫu: Phép thử phù hợp Bạn có nhiều sản phẩm; những sản phẩm này khác nhau ở một tính chất, bạn muốn sắp xếp các sản phẩm này theo tính chất khác nhau đó: 1 Độc giả quan tâm đến việc nên sử dụng chuyên gia hay không chuyên gia trong đánh giá cảm quan xin tham khảo các tài liệu của Lawless & Heymann[5]; Nguyễn et al.
PHÒNG ĐÁNH GIÁ CẢM QUAN 5 R Phép thử so hàng Bạn có nhiều sản phẩm khác nhau ở nhiều tính chất, bạn muốn xếp chúng vào trong các nhóm đã được định nghĩa trước: R Phép thử phân nhóm Bạn có nhiều sản phẩm khác nhau ở nhiều tính chất, bạn muốn ước lượng sự khác nhau đó: R Phép thử cho điểm 1.4 Phòng đánh giá cảm quan So với các phương pháp phân tích thiết bị, đánh giá cảm quan đòi hỏi một số điều kiện tương đối khắt khe về cơ sở vật chất (Where). Phòng thí nghiệm (PTN) phải được đặt ở nơi yên tĩnh, nhiệt độ dễ chịu (khoảng 20 − 25◦ C). Điều kiện này giúp cho người thử có thể dễ dàng tập trung làm việc. Bên cạnh đó, PTN phải đảm bảo người thử không bị làm phiền bởi các mùi lạ, cũng như bị làm phiền bởi những người xung quanh.
Việc xây dựng các vách ngăn giữa người thử là cần thiết để thu được câu trả lời độc lập. Độc giả có thể tìm thấy một trong những thiết kế của PTN cảm quan hiện đại trong tài liệu của Meilgaard [6], Lawless & Heymann [5], các tiêu chuẩn của ISO và ASTM và Nguyễn et al.5 Thời điểm đánh giá cảm quan Thời điểm đánh giá cảm quan (When) cũng là một vấn đề làm cho nhiều người băn khoăn. Theo thông lệ, người ta chấp nhận rằng một thí nghiệm cảm quan tốt nhất nên được tổ chức vào khoảng 10h-11h30 và 15h-17h, tuy nhiên các khoảng thời gian trên đây còn thiếu những cơ sở thực nghiệm. Trong một nghiên cứu gần đây, dưới sức ép về thời gian và người thử, chúng tôi đã tổ chức thực hiện các thí nghiệm ở ngoài khoảng thời gian nói trên nhưng không quan sát thấy bất kỳ kết quả bất thường nào.
Ngược lại, khi cần so sánh kết quả của một người thử qua nhiều buổi thí nghiệm thì những kết quả này phải được thu thập vào cùng một thời điểm trong ngày (Sauvageot & Catherine[12]). Hoạt động của người thử trong PTN còn phụ thuộc vào thực nghiệm viên (tnv). Nhiệm vụ của tnv không chỉ là giải thích các hướng dẫn, cách thức tiến hành thực nghiệm, mà còn giúp cho người thử ở trong trạng thái thoải mái nhất, lắng nghe những góp ý của họ, tổ chức các buổi thảo luận và duy trì mức độ chủ động cao của người thử trong suốt thời gian thí nghiệm. Đóng vai trò tnv có thể là nhân viên của phòng thí nghiệm cảm quan hoặc là người tổ chức thí nghiệm.
NHỮNG HIỂU BIẾT CƠ SỞ VỀ ĐÁNH GIÁ CẢM QUAN Chương 2 Một số phép thử "đơn giản" 2.1 Phép thử Tam giác 2.1 Mục đích Phép thử tam giác được sử dụng nhằm xác định sự khác nhau giữa hai sản phẩm mà không cần biết bản chất của sự khác nhau đó. Phép thử này được sử dụng trong trường hợp sự khác nhau giữa hai sản phẩm là tương đối nhỏ.2 Nguyên tắc Có ba mẫu thử được giới thiệu, hai mẫu là giống nhau (được chuẩn bị từ một loại sản phẩm), mẫu thứ ba được giả định là khác hai mẫu còn lại và được chuẩn bị từ một loại sản phẩm khác. Người thử được yêu cầu phải xác định mẫu không lặp lại trong số 3 mẫu thử. Giả sử A và B là hai sản phẩm cần phân biệt; 6 tổ hợp trình bày mẫu xuất phát từ các tổ hợp của A&B bao gồm: AAB/ABA/BAA/BBA/BAB /ABB.
Để đảm bảo kết quả thu được có độ tin cậy cao, trong kế hoạch trình bày mẫu, số lần xuất hiện của một trong số sáu tổ hợp trên phải giống nhau.2 Phép thử phù hợp - AnotA 2.1 Mục đích Phép thử phù hợp còn được gọi là phép thử AnotA cho phép xác định liệu một sản phẩm có giống với một mẫu chuẩn hay không. Phép thử này rất thích hợp trong tình huống bạn muốn kiểm tra xem sản phẩm làm ra có giống với một sản phẩm đang bán trên thị trường hay không.2 Nguyên tắc Giả sử A là mẫu chuẩn và "not"A là sản phẩm của bạn. Trong giai đoạn đầu tiên người thử phải được "học" cách nhận biết mẫu A. Tiếp theo, người thử sẽ phải thử một dãy các mẫu được mã hóa bao gồm cả mẫu A và mẫu notA.
Người thử phải xác định mẫu nào là A và mẫu nào là notA.3 Phép thử ABX 2.1 Mục đích Khi bạn cần đối chiếu một mẫu với mẫu chuẩn(matching-to-sample), ngoài phép thử AnotA, chúng ta còn có thể sử dụng phép thử ABX. Ngược với phép thử duo-trio(hai-ba)[5], trong phép thử này có 7 8 CHƯƠNG 2. MỘT SỐ PHÉP THỬ "ĐƠN GIẢN" hai mẫu chuẩn được giới thiệu. Tuy nhiên theo O’Mahony [17] khi sự khác nhau về cảm giác đã được giới thiệu một cách tường minh, người thử có khả năng tập trung sự chú ý vào một hoặc nhiều tính chất cảm giác khác biệt và đó là cơ sở để có thể tiến hành các so sánh đối chiếu chính xác.
Hơn thế nữa, do chỉ có một mẫu chuẩn được giới thiệu nên có thể giảm bớt sự mệt mỏi cảm giác, thích nghi,.2 Nguyên tắc Trong phép thử ABX người thử nhận được hai mẫu "A&B", trong đó có một mẫu chuẩn và một mẫu nghiên cứu (mẫu này có thể được hình thành do thay đổi công nghệ). Mẫu "X" có thể là một trong hai mẫu "A, B". Người thử cần phải chỉ ra cặp mẫu nào là giống nhau. Xác suất đưa ra câu trả lời ngẫu nhiên là 50% và phép thử này thuộc nhóm phép thử một chiều.4 Phép thử 3-AFC 2.1 Mục đích Khi chúng ta cần phải đánh giá sự khác nhau giữa hai sản phẩm về một tính chất cảm quan xác định, việc ứng dụng phương pháp tam giác không còn phù hợp nữa, trường hợp này chúng ta phải sử dụng phép thử 3-AFC (3-Alternative Forced Choice).2 Nguyên tắc Phương pháp 3-AFC tương tự như phương pháp tam giác có định hướng, trong phép thử này người thử nhận được một cách tuần tự 3 mẫu và phải xác định mẫu nào có cường độ cảm giác của một chỉ tiêu cụ thể lớn hơn hoặc bé hơn hai mẫu còn lại.
Khác với phương pháp tam giác, trong phương pháp 3-AFC, chỉ có một trong hai nhóm - mỗi nhóm gồm 3 tổ hợp của hai mẫu- được giới thiệu: hoặc AAB, ABA, BAA hoặc BBA, BAB, ABB. Khi giới thiệu mẫu, phải đảm bảo trật tự trình bày mẫu cân bằng đối với nhóm người thử.