mở đầu là cơn co tử cung, kết thúc là thai nhi và rau được đưa ra khỏi buồng tử cung qua đường âm đạo. Một cuộc chuyển dạ bình thường xảy ra từ tuần lễ thứ 38 – cuối tuần 41 (trung bình là 40 tuần) gọi là đẻ đủ tháng. Khi đó thai nhi đã trưởng thành và có khả năng sống độc lập ngoài tử cung. Đẻ non là tình trạng gián đoạn thai ngén khi thai có thể sống được.
Chuyển dạ đẻ non xảy ra khi tuổi thai từ tuần lễ thứ 22 – 37. Đẻ già tháng ( quá ngày sinh) là hiện tượng chuyển dạ đẻ xảy ra sau 1 tuần lễ trở lên so với ngày dự kiến đẻ. Gọi là thai già tháng khi tuổi thai > 41 tuần.Thời gian chuyển dạ và các giai đoạn của chuyển dạ - Thời gian chuyển dạ: ở người con so chuyển dạ lâu hơn con rạ. + Con so: thời gian chuyển dạ trung bình từ 16- 22 giờ (18 giờ).
+ Con rạ: thời gian chuyển dạ trung bình từ 8 – 14 giờ. (12 giờ) Gọi là chuyển dạ kéo dài khi thời gian chuyển dạ trên 24 giờ. - Các giai đoạn của chuyển dạ: + Giai đoạn I: xoá mở cổ tử cung. Được tính từ khi bắt đầu chuyển dạ thực sự đến khi cổ tử cung mở hết.
Giai đoạn này được chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn Ia (pha tiềm tàng): Tính từ khi bắt đầu chuyển dạ thực sự đến khi cổ tử cung mở 4cm. Giai đoạn này cho phép kéo dài 8 – 10 giờ. Giai đoạn Ib (pha tích cực hoặc pha hành động): Tính từ khi cổ tử cung mở > 4cm đến khi mở hết. Giai đoạn này cho phép kéo dài 10 giờ.
1 + Giai đoạn II: sổ thai. Tính từ khi cổ tử cung mở hết đến khi sổ thai. Giai đoạn này cho phép tối đa là 1 giờ. + Giai đoạn III: sổ rau.
Tính từ khi thai sổ đến khi rau sổ ra ngoài. Giai đoạn này cho phép tối đa là 1 giờ. Tiêu chuẩn chẩn đoán chuyển dạ: Chẩn đoán là chuyển dạ khi có ít nhất 3 trong 5 dấu hiệu sau: - Đau bụng từng cơn, tăng dần. - Ra dịch nhầy hồng ở âm đạo.
- Có sự thay đổi ở cổ tử cung (cổ tử cung xoá và mở; xóa hết ở người con so, mở 2cm ở người con dạ). - Đầu ối được thành lập. -Có sự tiến triển của ngôi thai sau mỗi cơn co tử cung. Động lực của cuộc chuyển dạ: Động lực của cuộc chuyển dạ là cơn co tử cung.
Dưới tác dụng của cơn co tử cung thì cả người mẹ, thai nhi và phần phụ đều có sự thay đổi: - Người mẹ: cổ tử cung xoá và mở, đoạn dưới thành lập, thay đổi ở đáy chậu. - Thai nhi được đẩy ra ngoài qua các giai đoạn lọt, xuống, quay, sổ. - Phần phụ: thành lập đầu ối, rau bong và sổ. Nguyên nhân gây chuyển dạ Cho đến nay, nguyên nhân thật sự của sự phát sinh ra cuộc chuyển dạ đẻ còn chưa được rõ và đầy đủ.
Tuy nhiên, có một số giả thuyết sau được đa số chấp nhận. Do thay đổi prostaglandin ( PG) Các prostagladin là những chất có thể làm thay đổi hoạt tính co bóp của cơ tử cung. Sự sản xuất PGF2 và PGE2 tăng dần trong quá trình thai nghén và đạt tới giá trị cao trong nước ối, màng rụng và trong cơ tử cung vào lúc bắt đầu chuyển dạ. Người ta có thể gây chuyển dạ bằng cách tiêm prostaglandin dù thai ở bất kỳ tuổi nào.Sử dụng các chất kháng prostaglandin có thể làm ngừng cuộc chuyển dạ.
Các chất Prostaglandin tham gia làm chín muồi cổ tử cung do tác dụng lên chất collagen của cổ tử cung. Estrogen và progesteron Trong quá trình thai nghén, các chất estrogen tăng lên rất nhiều làm tăng kích thích các sợi cơ tử cung và tốc độ lan truyền của hoạt động điện cơ. Cơ tử cung 2 trở nên mẫn cảm hơn với oxytocin. Estrogen làm tăng sự phát triển của lớp cơ tử cung và làm thuận lợi cho việc tổng hợp các prostaglandin.
Progesteron có tác dụng ức chế với co bóp của cơ tử cung. Nồng độ progesteron giảm ở cuối thời kỳ thai nghén làm thay đổi tỷ lệ estrogen/ progesteron là tác nhân gây chuyển dạ. Vai trò của oxytocin Người ta đã xác định được có sự tăng giải phóng oxytocin ở thuỳ sau tuyến yên của người mẹ trong chuyển dạ đẻ. Các đỉnh liên tiếp nhau của oxytocin có tần số tăng lên trong quá trình chuyển dạ đẻ và đạt mức tối đa khi rặn đẻ.
Tuy vậy oxytocin có lẽ không đóng một vai trò quan trọng để gây khởi phát chuyển dạ đẻ mà chủ yếu làm thúc đẩy quá trình chuyển dạ đẻ đang diễn ra. Các yếu tố khác - Sự căng giãn từ từ và quá mức của cơ tử cung và sự tăng đáp ứng với các kích thích phát sinh trong chuyển dạ đẻ. Đa ối, phá thai to bằng phương pháp đặt túi nước là ví dụ để chứng minh - Yếu tố thai nhi: thai vô sọ hoặc thiểu năng tuyến thượng thận thì thai nghén thường kéo dài. Ngược lại, nếu thai bị cường tuyến thượng thận thì sẽ dễ gây đẻ non.
Động lực của cuộc chuyển dạ Gồm cơn co tử cung và cơn co thành bụng. Cơn co tử cung Những nghiên cứu về sinh lý và bệnh lý cơn co tử cung đã được nhiều tác giả quan tâm. Thực ra khi chưa chuyển dạ tử cung đã có những cơn co bóp nhẹ nhàng gọi là cơn co Hicks. Đặc điểm của cơn co Hicks là không đau và có áp lực từ 13 – 15 mmHg.
Khi chuyển dạ cơn co tử cung tăng dần về cường độ và tần số làm cho sản phụ có cảm giác đau. Các chỉ số về cơn co tử cung - Áp lực cơn co tử cung được tính bằng mmHg hoặc bằng kilo Pascal (1mmHg = 0,133kPa). Ngoài ra hiện nay cơn co tử cung được đo bởi đơn vị Montevideo. 3 - Cường độ cơn co tử cung là áp lực buồng tử cung ở thời điểm cao nhất.
- Trương lực cơ bản: là áp lực của buồng tử cung ngoài cơn co. Bình thường trương lực cơ bản của tử cung là 8 – 10 mmHg. - Hiệu lực cơn co tử cung là hiệu số của cường độ và trương lực cơ bản. Hiệu lực giảm khi cường độ cơn co tử cung giảm hoặc trương lực cơ bản tăng.
-Độ dài của cơn co tử cung được tính bằng giây. - Khoảng cách giữa hai cơn co tử cung được tính bằng phút. - Tần số cơn co tử cung là số cơn co tử cung trong 10 phút. Các phương pháp nghiên cứu cơn co tử cung - Bằng tay: đặt lòng bàn tay lên thành bụng nơi tương ứng với đáy tử cung và theo dõi độ dài của mỗi cơn co, khoảng cách giữa hai cơn co tử cung.
Phương pháp này không đánh giá được chính xác cường độ cơn co tử cung vì phụ thuộc vào chủ quan của người đo. Nhưng do đơn giản, dễ áp dụng nên phương pháp này có thể thực hiện ở các tuyến y tế. - Phương pháp ghi ngoài: đặt một trống Marey ở đáy tử cung và đo áp lực của cơn co tử cung, đơn vị tính bằng mmHg. Phương pháp này đo được tần số và độ dài các cơn co tử cung nhưng không đo được chính xác áp lực của cơn co tử cung ở từng phần và áp lực trong buồng ối.
Hiện nay phương pháp này được cải tiến và áp dụng vào các máy monotoring sản khoa và được triển khai rộng rãi ở các tuyến. - Phương pháp theo dõi tự động liên tục cơn co tử cung và nhịp tim thai bằng monitoring sản khoa: phương pháp này không những đánh giá chính xác cường độ, tần số cơn co tử cung mà còn biết được ảnh hưởng của cơn co tử cung đối với nhịp tim thai biểu hiện bằng các DIP được ghi trên giấy. - Phương pháp ghi trong: đặt một Catheter mảnh và mềm vào buồng ối qua cổ tử cung hoặc qua thành bụng của người mẹ để đo áp lực trong buồng ối. Phương pháp này đo được chính xác áp lực trong buồng ối, trương lực cơ bản của tử cung, tần số và cường độ cơn co tử cung.
Nhược điểm của phương pháp này là không xác định áp lực riêng của từng phần tử cung. - Phương pháp ghi áp lực cơn co ở từng phần của tử cung: đặt các vi bóng (microballons) vào trong cơ tử cung ở các vị trí: sừng tử cung, đáy, thân, đoạn dưới…) qua thành bụng để ghi áp lực cơn co ở các vùng khác nhau của tử cung, điểm xuất phát của cơn co tử cung và sự lan truyền của cơn co tử cung. Phương 4 pháp này khá phức tạp và đòi hỏi trang thiết bị nên thường chỉ áp dụng trong các nghiên cứu khoa học. Đặc điểm của cơn co tử cung trong chuyển dạ - Cơn co tử cung xuất hiện một cách tự nhiên ngoài ý muốn của thai phụ.
Do điểm xuất phát của cơn co tử cung nằm ở các hạch thần kinh trên cơ tử cung. - Cơn co tử cung gây đau, ngưỡng đau phụ thuộc vào từng thai phụ. Khi áp lực cơn co tử cung đạt tới 25 – 30 mmHg sản phụ bắt đầu cảm thấy đau. Cơn đau xuất hiện sau và mất trước cơn co tử cung.
Cơn co tử cung càng mạnh sản phụ càng đau, khi có tình trạng lo lắng, sợ sệt cảm giác đau sẽ tăng lên. - Cơn co tử cung có tính chất chu kỳ và đều đặn, sau một thời gian co bóp là một khoảng thời gian nghỉ rồi lại tiếp tục vào một chu kỳ mới. Cơn co tử cung mau dần lên, khoảng cách giữa các cơn co ngày càng ngắn lại. Khi mới chuyển dạ 15- 20 phút mới có một cơn co tử cung, sau đó khoảng thời gian này ngày càng ngắn lại, đến cuối giai đoạn I cứ 1- 2 phút có một cơn co tử cung.
- Cơn co tử cung dài dần ra, khi bắt đầu chuyển dạ mỗi cơn co tử cung chỉ kéo dài 15- 20 giây, sau đạt tới 30 – 40 giây ở cuối giai đoạn I. - Cường độ cơn co tử cung cũng tăng dần, khi mới bắt đầu chuyển dạ áp lực cơn co tử cung 30 – 35 mmHg (120UM), sau đó tăng dần lên đến 50 – 55 mmHg ở cuối giai đoạn I và trong giai đoạn sổ thai cường độ cơn co tử cung có thể lên đến 60 – 70 mmHg (250UM). - Cơn co tử cung có tính chất 3 giảm: áp lực cơn co tử cung cao nhất ở vùng đáy tử cung rồi giảm dần xuống dưới và đến lỗ ngoài cổ tử cung thì áp lực bằng không.