Tổng quan về luận án
Bối cảnh phát triển đô thị hóa nhanh chóng tại các quốc gia đang phát triển, đặc biệt tại Việt Nam, đang tạo ra áp lực chưa từng có lên hệ thống hạ tầng kỹ thuật thiết yếu, trong đó cung cấp nước sạch đô thị giữ vai trò sống còn đối với an sinh xã hội và sức khỏe cộng đồng. Về mặt khoa học kinh tế, nước sạch đô thị là loại hình hàng hóa công cộng đặc thù mang tính độc quyền tự nhiên (natural monopoly), đòi hỏi quy mô vốn đầu tư ban đầu rất lớn, thời gian thu hồi vốn kéo dài (từ 20 đến 30 năm), nhưng lại chịu sự kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước về giá bán và chất lượng để bảo đảm phúc lợi xã hội. Thực trạng thâm hụt ngân sách công và hạn chế trong phân bổ vốn đầu tư công truyền thống đã đặt ra yêu cầu tất yếu phải huy động các nguồn lực tài chính, công nghệ và năng lực quản trị từ khu vực tư nhân thông qua mô hình Hợp tác công tư (Public-Private Partnership - PPP). Nghiên cứu của nghiên cứu sinh Nguyễn Đức Cảnh (2017) với đề tài "Hợp tác công tư trong lĩnh vực cấp nước sạch đô thị tại Việt Nam" thuộc chuyên ngành Kinh tế Quốc tế (Mã số: 62310106), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Hoàng Đức Thân tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, là công trình tiên phong tiếp cận một cách hệ thống, toàn diện cả về phương diện lý luận kinh tế quốc tế và thực tiễn triển khai cơ chế PPP trong ngành nước đô thị Việt Nam.
Khoảng trống nghiên cứu (research gap) mà luận án xác định bắt nguồn từ sự đứt gãy giữa khung lý thuyết hợp tác công tư quốc tế và thực tiễn thể chế tại các nền kinh tế chuyển đổi. Mặc dù các nghiên cứu quốc tế của Grimsey và Lewis (2002, 2004), Klijn và Teisman (2000), hay Li và cộng sự (2005) đã xây dựng nền tảng vững chắc về lý thuyết tài chính tư cho dự án công và nguyên tắc phân bổ rủi ro, nhưng việc vận dụng vào ngành cấp nước đô thị tại Việt Nam còn gặp nhiều bất cập. Các nghiên cứu trong nước trước đó (như Nguyễn Thị Kim Dung, 2008; Hồ Công Hòa, 2011; Huỳnh Thị Thúy Giang, 2012) chủ yếu tiếp cận PPP ở góc độ tổng quan chính sách hoặc tập trung vào hạ tầng giao thông đường bộ, hoàn toàn thiếu vắng một khung phân tích chuyên sâu cho ngành nước – nơi tồn tại mâu thuẫn nội tại sâu sắc giữa mục tiêu an sinh xã hội phi lợi nhuận của Nhà nước và mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của nhà đầu tư tư nhân. Hơn nữa, quá trình thực thi thí điểm theo Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg và Nghị định số 15/2015/NĐ-CP bộc lộ khoảng trống nghiêm trọng: chưa có bộ tiêu chí định lượng để sàng lọc dự án phù hợp với PPP, thiếu vắng cơ chế chia sẻ rủi ro (risk allocation) cân bằng và chưa định hình được các cấu trúc hợp đồng chuẩn mực cho từng mắt xích trong chuỗi giá trị cấp nước.
Để giải quyết triệt để khoảng trống này, luận án tập trung giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu cốt lõi:
- Những nhân tố thể chế, kinh tế vĩ mô và năng lực nội tại nào chi phối mức độ sẵn sàng tham gia của khu vực tư nhân vào các dự án PPP cấp nước sạch đô thị tại Việt Nam?
- Tiêu chuẩn và công cụ khoa học nào (cụ thể là ma trận sàng lọc dự án) cho phép đánh giá chính xác tính phù hợp của một dự án cấp nước sạch đô thị trước khi quyết định áp dụng hình thức đầu tư PPP?
- Cơ cấu phân bổ và chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước và nhà đầu tư tư nhân cần được thiết lập như thế nào để bảo đảm hài hòa lợi ích, thu hút nguồn vốn tư nhân nhưng vẫn duy trì mục tiêu an sinh xã hội về giá và chất lượng nước?
Tương ứng với các câu hỏi nghiên cứu, luận án kiểm định các giả thuyết khoa học:
- Giả thuyết H1: Mức độ sẵn sàng tham gia của nhà đầu tư tư nhân vào dự án PPP nước sạch phụ thuộc đồng thời vào tính minh bạch của khung pháp lý, sự ổn định của môi trường kinh tế vĩ mô và mức độ cam kết hỗ trợ rủi ro từ phía Nhà nước.
- Giả thuyết H2: Việc áp dụng ma trận sàng lọc đa tiêu chí (Suitability Screening Matrix) dựa trên đánh giá các nhân tố hấp dẫn và nhân tố tiêu cực sẽ nâng cao đáng kể tỷ lệ thành công của dự án PPP cấp nước sạch so với quy trình phê duyệt chủ quan truyền thống.
- Giả thuyết H3: Cơ chế chia sẻ rủi ro tối ưu theo nguyên tắc "bên nào kiểm soát rủi ro tốt nhất với chi phí thấp nhất thì chịu trách nhiệm về rủi ro đó" là điều kiện tiên quyết bảo đảm tính khả thi tài chính (ngăn ngừa phá vỡ phương án tài chính do biến động giá nước và rủi ro thị trường).
Khung lý thuyết của luận án tích hợp đa tầng từ Lý thuyết Chính sách công (Public Policy Theory), Lý thuyết Hợp đồng không hoàn hảo (Incomplete Contract Theory), Lý thuyết Lựa chọn công cộng (Public Choice Theory) và Lý thuyết Phân bổ rủi ro dự án hạ tầng (Risk Allocation Theory). Đóng góp đột phá của luận án được lượng hóa thông qua việc giải quyết bài toán thiếu hụt vốn đầu tư phát triển hạ tầng nước sạch đô thị: theo tính toán của Bộ Xây dựng (2013) được luận án trích dẫn, giai đoạn đến năm 2020, tổng nhu cầu vốn đầu tư cho cấp nước sạch đô thị là 68,95 ngàn tỷ đồng, trong đó nhu cầu huy động vốn từ khu vực tư nhân (bao gồm cả FDI) lên tới 31,03 ngàn tỷ đồng (chiếm 45,0% tổng nhu cầu vốn). Luận án xác lập không gian nghiên cứu trên phạm vi toàn quốc, tập trung vào các đô thị trung tâm và các dự án trọng điểm (như Nhà máy nước Sông Đà, Sông Đuống, Bình An, Sài Gòn), dữ liệu thực trạng bao quát giai đoạn 2001–2015, khảo sát chuyên sâu năm 2015 và xây dựng khung định hướng giải pháp đến năm 2025, tầm nhìn năm 2030.
Literature Review và Positioning
Tổng quan y văn quốc tế và trong nước về hợp tác công tư cho thấy 3 dòng nghiên cứu chính thống (major research streams):
Dòng nghiên cứu thứ nhất tiếp cận PPP dưới góc độ Chính sách công và Quản lý công mới (New Public Management). Grimsey và Lewis (2002, 2004) định nghĩa PPP là một thỏa thuận hợp đồng dài hạn giữa khu vực công và tổ chức tư nhân nhằm xây dựng, quản lý hạ tầng hoặc cung cấp dịch vụ công thay mặt Nhà nước. Tiếp cận này nhìn nhận PPP như một công cụ phát triển thay thế hiệu quả cho quá trình tư nhân hóa hoàn toàn (privatization). Pollitt (2005) phát triển luận điểm "lý luận về tài chính tư cho dự án công" (Private Finance Initiative - PFI), chỉ ra rằng việc đưa cơ chế thị trường và động lực lợi nhuận vào việc cung cấp dịch vụ công truyền thống giúp nâng cao kỷ luật tài chính, buộc các dự án phải tuân thủ nghiêm ngặt tiến độ và ngân sách thông qua điều khoản "không dịch vụ - không thanh toán" (no service, no fee).
Dòng nghiên cứu thứ hai tiếp cận PPP dưới góc độ Tổ chức, Quản trị hợp đồng và Tài chính dự án. Klijn và Teisman (2000) nhấn mạnh rằng các hợp đồng PPP bản chất là những "hợp đồng chưa hoàn thiện" (incomplete contracts) kéo dài hàng thập kỷ, do đó sự tương tác liên tục, cơ chế quản trị mạng lưới và niềm tin giữa hai khu vực giữ vai trò sống còn. Ở góc độ tài chính, Burger và Hawkesworth (2011) trong nghiên cứu khảo sát tại 22 quốc gia thuộc OECD chỉ rõ mục tiêu cốt lõi của PPP là tạo ra "Giá trị cho đồng tiền đầu tư" (Value for Money - VfM), chứng minh rằng dự án PPP chỉ nên triển khai khi nó mang lại hiệu quả chi phí trong suốt vòng đời dự án (Life-Cycle Cost) vượt trội so với phương thức mua sắm công truyền thống (Public Sector Comparator - PSC).
Dòng nghiên cứu thứ ba tập trung vào Chia sẻ rủi ro và Các nhân tố thành công cốt lõi (Critical Success Factors - CSF). Li, Akintoye, Edwards và Hardcastle (2005) cùng với Xu và cộng sự (2011) đã hệ thống hóa nguyên lý phân bổ rủi ro: rủi ro phải được chuyển giao cho bên có khả năng quản lý và kiểm soát tốt nhất với chi phí thấp nhất. Sader (2000) và Rockart (1982) chỉ ra rằng một dự án PPP thành công đòi hỏi phải đáp ứng đồng thời kỳ vọng đa chiều: nhà đầu tư tìm kiếm tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) và bảo đảm phòng ngừa rủi ro vĩ mô/chính sách, trong khi Nhà nước hướng tới việc hoàn thành đúng hạn, tạo ra ngoại ứng tích cực (positive externalities) và chuyển giao rủi ro vận hành.
┌──────────────────────────────────────────────────────────┐
│ LÝ THUYẾT NỀN TẢNG VỀ PPP │
│ • Chính sách công & PFI (Grimsey & Lewis; Pollitt) │
│ • Hợp đồng không hoàn hảo & VfM (Klijn; Burger) │
│ • Phân bổ rủi ro & CSF (Li et al.; Xu et al.; Sader) │
└────────────────────────────┬─────────────────────────────┘
│
▼
┌──────────────────────────────────────────────────┴──────────────────────────────────────────────────┐
│ TRANH LUẬN HỌC THUẬT QUỐC TẾ │
├──────────────────────────────────────────────────┬──────────────────────────────────────────────────┤
│ Quan điểm A: Thị trường hóa & Tư nhân hóa │ Quan điểm B: Hàng hóa công cộng & Trách nhiệm NN │
│ • Tối ưu hóa hiệu quả vận hành và công nghệ │ • Nước là quyền cơ bản của con người │
│ • Chuyển giao toàn bộ rủi ro sang tư nhân │ • Nhà nước phải bảo lãnh doanh thu và kiểm soát │
└──────────────────────────────────────────────────┴──────────────────────────────────────────────────┘
│
▼
┌─────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┐
│ ĐỊNH VỊ CỦA LUẬN ÁN (NGUYỄN ĐỨC CẢNH, 2017) │
│ Xây dựng Mô hình Lai (Hybrid PPP) cho Nền kinh tế Chuyển đổi Việt Nam: │
│ • Tích hợp Ma trận Sàng lọc Dự án (Cheung & Chan; OECD) │
│ • Khung Phân bổ Rủi ro Đa tầng (Chính trị - Thị trường - Vận hành) │
│ • Lộ trình Hợp đồng Chuyển tiếp: Dịch vụ/O&M -> BOT/BOO -> DBFOM │
└─────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┘
Trong y văn tồn tại hai luồng tranh luận đối lập sâu sắc:
- Luồng quan điểm thứ nhất (cổ vũ thị trường hóa thuần túy) cho rằng khu vực tư nhân sở hữu năng lực vượt trội về công nghệ, quản trị và khả năng chịu rủi ro, do đó cần thương mại hóa toàn diện dịch vụ cấp nước để cắt giảm trợ cấp công.
- Luồng quan điểm thứ hai (tiếp cận theo góc độ quyền con người và an ninh nguồn nước) cảnh báo rằng việc tư nhân hóa hoặc áp dụng PPP thương mại hóa cực đoan trong ngành nước sẽ dẫn đến sự tăng vọt của giá nước, loại trừ người nghèo đô thị và gây ra hiện tượng trục lợi địa tô kinh tế (rent-seeking).
Luận án của Nguyễn Đức Cảnh định vị mình tại điểm giao thoa giữa hai luồng quan điểm trên, đề xuất một mô hình PPP dung hòa cho nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam. Luận án đặt nghiên cứu trong sự so sánh đối chiếu với các điển cứu quốc tế điển hình:
- Bài học từ Ma Cao và Trung Quốc: Trước năm 1985, nguồn cấp nước tại Ma Cao và các đô thị Trung Quốc chủ yếu cấp theo giờ vào ban đêm với chất lượng kém. Thông qua các hợp đồng nhượng quyền vận hành (concession contracts) chặt chẽ ký kết năm 1985, chỉ sau 3 năm, chất lượng nước tại đây đã đạt tiêu chuẩn châu Âu, đóng vai trò đòn bẩy cho tăng trưởng công nghiệp và đô thị hóa thần tốc (ADB, 2013).
- Bài học từ Chile và Mexico: Giai đoạn hậu khủng hoảng 1993–2001, Vickram (2009) chứng minh rằng sự thành công của PPP bắt nguồn từ quy hoạch minh bạch, hợp đồng rõ ràng và khả năng dự báo chính xác nguồn thu dài hạn. Ngược lại, nghiên cứu của Nyagwachi và Smallwood (2006) tại Nam Phi chỉ ra các dự án PPP hạ tầng thất bại nghiêm trọng do sự thiếu hụt nhận thức của cả hai khu vực, năng lực quản lý dự án yếu kém của khu vực công và chính sách hỗ trợ tài chính không tương xứng.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án mở rộng Lý thuyết Hợp đồng không hoàn hảo (Incomplete Contract Theory) của Hart và Williamson trong bối cảnh các tài sản hạ tầng mạng lưới độc quyền tự nhiên tại các nền kinh tế đang phát triển. Bằng việc phân tích cấu trúc rủi ro đặc thù của chu trình cấp nước (từ khai thác nước thô, xử lý tại nhà máy, đến truyền dẫn và phân phối qua mạng lưới đường ống), luận án chứng minh rằng hợp đồng PPP trong ngành nước không thể là một thỏa thuận tĩnh mà phải là một cơ chế thích ứng động (dynamic adaptive mechanism), trong đó các điều khoản điều chỉnh giá nước và bảo lãnh sản lượng phải được tích hợp sẵn các công thức chỉ số hóa theo biến động lạm phát, tỷ giá hối đoái và chi phí năng lượng.
Luận án phát triển và chuẩn hóa Nguyên lý Phân bổ Rủi ro của Li và cộng sự (2005) cùng Xu và cộng sự (2011) thành Khung phân định trách nhiệm 3 cấp độ:
- Rủi ro thuộc trách nhiệm Nhà nước: Rủi ro thay đổi luật pháp, rủi ro chính trị, chậm trễ giải phóng mặt bằng (GPMB), rủi ro ô nhiễm nguồn nước thô tự nhiên và rủi ro quy định áp đặt trần giá nước thấp hơn chi phí thu hồi vốn;
- Rủi ro thuộc trách nhiệm Nhà đầu tư tư nhân: Rủi ro vượt chi phí thiết kế và xây dựng, rủi ro chậm tiến độ thi công, rủi ro hiệu suất công nghệ xử lý nước, rủi ro vận hành và bảo trì (O&M), rủi ro thất thoát nước vật lý trong phạm vi quản lý;
- Rủi ro chia sẻ giữa hai bên: Rủi ro bất khả kháng (thiên tai, biến đổi khí hậu làm cạn kiệt lưu vực sông), rủi ro biến động nhu cầu tiêu thụ vĩ mô do thay đổi quy hoạch đô thị và rủi ro trượt giá tiền tệ vượt ngưỡng dự phòng.
┌─────────────────────────────────────────────────────────┐
│ KHUNG MA TRẬN PHÂN BỔ RỦI RO DỰ ÁN PPP NGÀNH NƯỚC │
└────────────────────────────┬────────────────────────────┘
│
┌───────────────────────────────────────┼───────────────────────────────────────┐
│ │ │
▼ ▼ ▼
┌─────────────────────────────────┐ ┌─────────────────────────────────┐ ┌─────────────────────────────────┐
│ KHU VỰC CÔNG (NHÀ NƯỚC) │ │ CHIA SẺ (CÔNG - TƯ) │ │ KHU VỰC TƯ (DOANH NGHIỆP) │
├─────────────────────────────────┤ ├─────────────────────────────────┤ ├─────────────────────────────────┤
│ • Thể chế & Pháp lý điều chỉnh │ │ • Rủi ro bất khả kháng/Thiên tai│ │ • Vượt chi phí thiết kế & XD │
│ • Giải phóng mặt bằng (GPMB) │ │ • Biến động nhu cầu tiêu thụ │ │ • Rủi ro công nghệ & Hiệu suất │
│ • Chất lượng nguồn nước thô │ │ • Trượt giá vượt ngưỡng dự phòng│ │ • Quản lý vận hành & Bảo trì │
│ • Kiểm soát trần giá an sinh │ │ • Tỷ giá & Tái cấu trúc vốn vay │ │ • Tỷ lệ thất thoát nước mạng con│
└─────────────────────────────────┘ └─────────────────────────────────┘ └─────────────────────────────────┘
Khung phân tích độc đáo
Luận án thiết lập khung phân tích toàn diện tích hợp 3 trụ cột:
- Môi trường thể chế và chính sách vĩ mô: Đánh giá mức độ hoàn thiện của hệ thống luật pháp, tính ổn định chính trị - xã hội và cơ chế bảo lãnh tài chính công;
- Bộ công cụ sàng lọc dự án (Ma trận sàng lọc - Screening Matrix): Thích ứng mô hình của Cheung và Chan (2011) cùng khung tiêu chí của Burger và Hawkesworth (2011) từ OECD. Ma trận phân loại dự án dựa trên hai trục: Trục nhân tố hấp dẫn (quy mô vốn lớn, tiềm năng thu hồi vốn qua biểu giá tiêu thụ, nhu cầu nước tăng trưởng ổn định, khả năng chuyển giao công nghệ lọc nước tiên tiến) và Trục nhân tố tiêu cực (mạng lưới phân phối xuống cấp phức tạp, tỷ lệ thất thoát nước không đo lường được cao, tranh chấp pháp lý đất đai nguồn nước);
- Cấu trúc dạng thức hợp đồng PPP phù hợp: Phân loại theo mức độ sở hữu và chuyển giao trách nhiệm giữa Nhượng quyền vận hành (NQVH) gồm hợp đồng dịch vụ, hợp đồng quản lý, hợp đồng cho thuê (Leasing/Affermage), Nhượng quyền khai thác (Franchise) và Nhượng quyền đầu tư (NQĐT) gồm Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao (BOT), Xây dựng - Sở hữu - Kinh doanh (BOO), Xây dựng - Chuyển giao - Cho thuê (BTL), Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh (BTO), Thiết kế - Xây dựng - Tài trợ - Vận hành - Bảo trì (DBFOM).
Điều kiện biên (boundary conditions) của khung phân tích được xác định rõ: áp dụng cho các dự án cấp nước sạch tập trung tại khu vực đô thị từ loại IV đến loại đặc biệt tại Việt Nam, nơi có mật độ dân cư đủ lớn để bảo đảm tính khả thi thương mại tối thiểu của mạng lưới phân phối.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Luận án tuân thủ thế giới quan thực chứng (positivism) kết hợp với chủ nghĩa hiện thực phản biện (critical realism). Thiết kế nghiên cứu áp dụng phương pháp hỗn hợp (mixed-methods design) theo trình tự chuẩn mực học thuật:
┌─────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┐
│ TIẾN TRÌNH PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU │
├─────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┤
│ BƯỚC 1: Nghiên cứu tại bàn & Hệ thống hóa khung lý thuyết (Desk Research) │
│ • Tổng quan y văn quốc tế (Grimsey & Lewis, Klijn, Li et al., Burger & Hawkesworth) │
│ • Rà soát văn bản quy phạm pháp luật (QĐ 71/2010/QĐ-TTg, NĐ 15/2015/NĐ-CP, Thông tư liên tịch) │
├─────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┤
│ │ │
│ ▼ │
│ BƯỚC 2: Nghiên cứu Định tính & Phỏng vấn Chuyên gia sâu (Qualitative In-depth Interviews) │
│ • Bộ Xây dựng, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ban Quản lý Dự án (Sông Đà, Sông Đuống, Bình An, Sài Gòn) │
│ • Chuẩn hóa bảng câu hỏi khảo sát qua 2 vòng hội thảo khoa học (Tọa đàm chuyên gia) │
├─────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┤
│ │ │
│ ▼ │
│ BƯỚC 3: Nghiên cứu Định lượng & Khảo sát Thực địa (Quantitative Survey) │
│ • Phát phiếu khảo sát trực tiếp tại Hội thảo MOC (13/11/2014) & Hội thảo World Bank (04/2015) │
│ • Mẫu phát đi: N=126 ──► Thu về: N=67 ──► Mẫu hợp lệ phân tích: N=54 (loại bỏ 13 phiếu thiếu data) │
├─────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┤
│ │ │
│ ▼ │
│ BƯỚC 4: Phân tích Thống kê, Kiểm định Ma trận Sàng lọc & Đề xuất Mô hình │
│ • Thống kê mô tả cấu trúc mẫu, phân tích thang đo Likert 5 mức độ │
│ • Kiểm định tính tương thích của Ma trận sàng lọc trên 4 dự án cấp nước thực tế │
└─────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┘
Thiết kế đa cấp độ (multi-level design) bao gồm:
- Cấp độ vĩ mô: Phân tích môi trường thể chế quốc gia, hệ thống nghị định, thông tư quản lý PPP và chiến lược quy hoạch cấp nước quốc gia;
- Cấp độ trung gian (meso-level): Cơ cấu ngành nước, các công ty cấp nước đô thị cấp tỉnh/thành phố, hiệp hội cấp thoát nước;
- Cấp độ vi mô: Các dự án đầu tư cụ thể (Dự án Cấp nước sạch Sông Đà, Sông Đuống, Bình An, Sài Gòn), phân tích cấu trúc dòng tiền, cơ chế bù giá và mô hình tổ chức doanh nghiệp dự án (Special Purpose Vehicle - SPV).
Quy trình nghiên cứu rigorous
Quy trình nghiên cứu được triển khai chặt chẽ qua 4 bước:
- Nghiên cứu tại bàn: Tổng thuật các công trình nghiên cứu kinh điển, báo cáo của World Bank, ADB, OECD, UKTI và hệ thống số liệu ngành nước của Bộ Xây dựng giai đoạn 2001–2015;
- Phỏng vấn chuyên gia sâu: Tiến hành phỏng vấn trực tiếp các cán bộ quản lý cấp cao thuộc Bộ Xây dựng, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cùng lãnh đạo ban quản trị các dự án cấp nước trọng điểm (Sông Đà, Sông Đuống, Bình An, Sài Gòn);
- Thiết kế và chuẩn hóa bảng hỏi: Bảng hỏi khảo sát gồm 5 phần với thang đo Likert 5 mức độ (từ 1 = Rất không đồng ý/Rất thấp đến 5 = Rất đồng ý/Rất cao), trải qua 4 bước thẩm định nghiêm ngặt từ nghiên cứu lý thuyết, tọa đàm góp ý chuyên gia, khảo sát thử nghiệm 3 nhóm đối tượng (quản lý nhà nước, cán bộ dự án, quản lý tài chính) trước khi ban hành bảng hỏi chính thức gồm 10 nhóm câu hỏi lớn chuyên sâu;
- Thu thập dữ liệu thực địa: Khung chọn mẫu (sampling frame) gồm 185 đại biểu là các chuyên gia đầu ngành, nhà quản lý và doanh nghiệp tham dự Hội thảo "Cải cách doanh nghiệp ngành cấp thoát nước hướng tới hình thức đầu tư và vận hành hiệu quả" do Bộ Xây dựng chủ trì ngày 13/11/2014 tại TP. Hồ Chí Minh và cuộc hội thảo quốc tế tháng 4/2015 do World Bank tổ chức. Tổng số phiếu phát đi là 126 phiếu, thu về 67 phiếu, sau quy trình làm sạch dữ liệu đã loại bỏ 13 phiếu không hợp lệ, thu được mẫu phân tích chính thức gồm 54 phiếu hợp lệ đạt tiêu chuẩn chất lượng cao.
Quy trình tam giác hóa dữ liệu (triangulation) được bảo đảm trên 4 khía cạnh: tam giác hóa nguồn dữ liệu (Nhà nước - Doanh nghiệp - Tổ chức quốc tế), tam giác hóa phương pháp (định tính phỏng vấn sâu - định lượng bảng hỏi - phân tích tài liệu thứ cấp), tam giác hóa điều tra viên và tam giác hóa lý thuyết.
Data và phân tích
Mẫu khảo sát định lượng gồm 54 chuyên gia có đặc tính nhân khẩu học học thuật và kinh nghiệm vượt trội trong ngành nước:
| Tiêu chí phân loại |
Cơ cấu nhóm đối tượng |
Tỷ trọng (%) |
| Cơ quan công tác |
Quản lý nhà nước cấp Bộ, Tỉnh |
22,6% |
|
Cán bộ nghiên cứu, viện, tư vấn chuyên ngành nước |
7,6% |
|
Quản lý doanh nghiệp, ban điều hành nhà máy nước |
50,9% |
|
Đại diện tổ chức quốc tế, chuyên gia tư vấn quốc tế |
5,7% |
|
Khác (chuyên gia độc lập, trường đại học) |
13,3% |
| Giới tính |
Nam |
59,2% |
|
Nữ |
40,8% |
| Thâm niên trong ngành |
Thâm niên công tác trung bình |
13,3 năm (Dao động: 3 – 33 năm) |
|
Thâm niên trên 10 năm kinh nghiệm |
83,3% toàn bộ mẫu |
|
Thâm niên trên 20 năm kinh nghiệm |
39,0% toàn bộ mẫu |
| Kinh nghiệm thực tiễn PPP |
Trực tiếp tham gia, xây dựng, quản lý dự án PPP nước sạch |
9,5% (với thâm niên ngành >20 năm) |
Công cụ phân tích sử dụng phần mềm thống kê xử lý các bảng chéo, ma trận sàng lọc dự án và đánh giá các chỉ số tài chính dự án: Tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR), Giá trị hiện tại ròng (NPV), Tỷ suất hoàn vốn kế toán (RR). Độ tin cậy thang đo (reliability) và tính giá trị nội dung (construct validity) được kiểm chứng qua sự đồng thuận cao của nhóm chuyên gia có thâm niên trên 10 năm (chiếm 83,3% mẫu).
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
Phát hiện 1: Bế tắc về nguồn vốn và sự mất cân đối nghiêm trọng trong cơ cấu tài trợ hạ tầng nước sạch đô thị.
Kết quả nghiên cứu thực trạng giai đoạn 2001–2015 chỉ ra rằng nguồn vốn phát triển mạng lưới cấp nước đô thị tại Việt Nam phụ thuộc tới hơn 80% vào vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và Ngân sách nhà nước (NSNN). Mặc dù tổng nhu cầu vốn tư nhân giai đoạn đến năm 2020 được Bộ Xây dựng xác định là 31,03 ngàn tỷ đồng trong tổng số 68,95 ngàn tỷ đồng, nhưng việc thu hút vốn tư nhân qua PPP diễn ra vô cùng chậm chạp. Các dự án tư nhân hóa hoặc PPP hiện hữu chủ yếu tồn tại dưới dạng hợp đồng BOO đơn lẻ (như Dự án Nhà máy nước BOT Bình An - dự án BOT cấp nước đầu tiên năm 1994, hay BOO Nhà máy nước Sông Đà công suất ban đầu 300.000 m³/ngày đêm) với phạm vi chỉ giới hạn ở khâu xử lý tại nhà máy sản xuất nước, hoàn toàn chưa mở rộng được vào mạng lưới phân phối và dịch vụ khách hàng do e ngại rủi ro rò rỉ và nợ đọng tiền nước.
Phát hiện 2: Xác lập 3 nhân tố quyết định sống còn đến thành bại của dự án PPP cấp nước sạch đô thị.
Qua phân tích định lượng từ mẫu khảo sát 54 chuyên gia đầu ngành, luận án chỉ ra 3 yếu tố quan trọng nhất quyết định tới sự thành công của một dự án PPP nước sạch tại Việt Nam bao gồm:
- Cơ chế chia sẻ rủi ro công bằng và khả thi: Chiếm vị trí ưu tiên hàng đầu, đặc biệt là rủi ro trượt giá và rủi ro thanh toán;
- Xác định khung giá nước và lộ trình điều chỉnh giá minh bạch: Giá nước sinh hoạt đô thị hiện nay do UBND cấp tỉnh quy định thường bị khống chế thấp hơn giá thành sản xuất thực tế nhằm bảo đảm an sinh xã hội, thiếu cơ chế bù giá tự động khi chi phí đầu vào tăng, làm triệt tiêu động lực đầu tư của tư nhân;
- Mức độ cam kết và bảo lãnh pháp lý của Nhà nước: Nhà đầu tư đòi hỏi sự nhất quán trong chính sách quy hoạch vùng cấp nước, cam kết chống vi phạm hợp đồng và bảo đảm quyền đấu nối phân phối độc quyền trong vùng dự án.
┌─────────────────────────────────────────────────────────┐
│ 3 YẾU TỐ CỐT TỬ QUYẾT ĐỊNH THÀNH CÔNG DỰ ÁN PPP │
│ (NGUYỄN ĐỨC CẢNH, 2017) │
└────────────────────────────┬────────────────────────────┘
│
┌───────────────────────────────────────┼───────────────────────────────────────┐
│ │ │
▼ ▼ ▼
┌─────────────────────────────────┐ ┌─────────────────────────────────┐ ┌─────────────────────────────────┐
│ CHIA SẺ RỦI RO CÔNG BẰNG │ │ KHUNG GIÁ NƯỚC MINH BẠCH │ │ CAM KẾT CHÍNH TRỊ - PHÁP LÝ │
├─────────────────────────────────┤ ├─────────────────────────────────┤ ├─────────────────────────────────┤
│ • Phân bổ theo năng lực kiểm │ │ • Biểu giá phản ánh chi phí │ │ • Nhất quán quy hoạch vùng cấp │
│ soát chi phí thấp nhất │ │ • Cơ chế chỉ số hóa bù giá │ │ • Bảo đảm quyền đấu nối mạng │
│ • Phòng ngừa rủi ro tỷ giá/lạm │ │ • Minh bạch lộ trình tăng giá │ │ • Bảo lãnh thanh toán & chống │
│ phát vượt ngưỡng dự phòng │ │ tránh can thiệp hành chính │ │ vi phạm hợp đồng dài hạn │
└─────────────────────────────────┘ └─────────────────────────────────┘ └─────────────────────────────────┘
Phát hiện 3: Nhận diện và phá vỡ "Vòng luẩn quẩn ngành nước đô thị" tại Việt Nam.
Luận án chỉ rõ căn nguyên khiến khu vực tư nhân e ngại tham gia bắt nguồn từ vòng lặp tiêu cực mang tính cơ cấu: Nhà nước duy trì giá nước bao cấp thấp $\rightarrow$ Công ty cấp nước không đủ doanh thu bù đắp chi phí vận hành và bảo trì $\rightarrow$ Hệ thống đường ống xuống cấp nghiêm trọng, tỷ lệ thất thoát nước sạch (Non-Revenue Water - NRW) ở mức cao báo động (nhiều đô thị vượt mức 25–30%) $\rightarrow$ Chất lượng nước và áp lực cấp nước suy giảm $\rightarrow$ Khách hàng không hài lòng, phản đối việc tăng giá nước $\rightarrow$ Nhà nước tiếp tục trì hoãn điều chỉnh giá, ngân sách không đủ vốn bù lỗ $\rightarrow$ Triệt tiêu hoàn toàn khả năng thu hút vốn đầu tư tư nhân theo hình thức PPP.
Phát hiện 4: Khoảng trống thể chế và sự bất cập của khung pháp lý PPP thí điểm.
Khảo sát thực chứng khẳng định Quyết định 71/2010/QĐ-TTg và Nghị định 15/2015/NĐ-CP tuy đã tạo bước tiến ban đầu nhưng vẫn thiếu các hướng dẫn chuyên ngành cụ thể cho lĩnh vực nước sạch. Các quy định về hỗ trợ tài chính công (Viability Gap Funding - VGF), bảo lãnh chuyển đổi ngoại tệ, cơ chế bảo lãnh doanh thu tối thiểu (Minimum Revenue Guarantee - MRG) và quy trình đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư minh bạch chưa được thể chế hóa rõ ràng, dẫn đến tình trạng đàm phán hợp đồng kéo dài nhiều năm làm phát sinh chi phí chuẩn bị đầu tư quá lớn.
Phát hiện 5: Kiểm định thành công Ma trận sàng lọc tính phù hợp của dự án PPP.
Luận án đã áp dụng thực nghiệm ma trận sàng lọc dự án gồm hệ thống tiêu chí định lượng và thang điểm đánh giá trên 4 dự án cấp nước đô thị thực tế tại Việt Nam. Kết quả kiểm định chứng minh công cụ sàng lọc này cho phép phân loại chuẩn xác những dự án đủ điều kiện thương mại hóa để áp dụng hợp đồng BOT/BOO, những dự án chỉ phù hợp với hợp đồng nhượng quyền quản lý/vận hành (O&M, Leasing), và những dự án bắt buộc phải sử dụng vốn đầu tư công truyền thống do tính chất an sinh xã hội vùng sâu hoặc tỷ suất sinh lời tài chính âm.
Implications đa chiều
- Đóng góp học thuật: Luận án cung cấp một khung lý luận chuyên biệt cho PPP ngành hạ tầng nước sạch tại các nền kinh tế đang phát triển có thu nhập trung bình thấp, kết nối thành công lý thuyết hợp đồng kinh tế với thực tiễn quản lý đô thị.
- Đổi mới phương pháp luận: Bộ công cụ ma trận sàng lọc (Suitability Screening Matrix) được luận án chuẩn hóa có thể chuyển giao và áp dụng rộng rãi cho các ngành hạ tầng kỹ thuật khác như xử lý nước thải, quản lý chất thải rắn đô thị và năng lượng tái tạo.
- Hàm ý thực tiễn và doanh nghiệp: Cung cấp cho các nhà đầu tư tư nhân trong và ngoài nước cẩm nang đánh giá rủi ro, cấu trúc mô hình tài chính dự án (SPV), và kỹ thuật đàm phán các điều khoản hợp đồng PPP dự phòng rủi ro chính sách và biến động thị trường.
- Khuyến nghị chính sách cho Chính phủ và Bộ Xây dựng:
- Hoàn thiện khung pháp lý: Xây dựng Thông tư hướng dẫn riêng về hợp đồng mẫu PPP trong lĩnh vực cấp nước sạch đô thị, thể chế hóa cơ chế bù giá và cam kết sản lượng tiêu thụ tối thiểu (take-or-pay);
- Quy trình sàng lọc dự án bắt buộc: Đưa ma trận sàng lọc tính phù hợp thành quy trình pháp lý bắt buộc trong giai đoạn lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi (Pre-FS) của mọi dự án hạ tầng nước sạch;
- Tách bạch chuỗi giá trị ngành nước: Phân tách rõ ràng giữa khâu sản xuất nước sạch (ưu tiên kêu gọi tư nhân theo hình thức BOT, BOO) và khâu mạng lưới truyền dẫn - phân phối (áp dụng hợp đồng quản lý O&M hoặc thuê bao giảm tỷ lệ thất thoát nước);
- Cải cách biểu giá nước đô thị: Xây dựng lộ trình tăng giá nước minh bạch theo nguyên tắc tính đúng, tính đủ chi phí sản xuất, kết hợp chính sách trợ cấp trực tiếp cho hộ nghèo thông qua hóa đơn thay vì cào bằng giá nước thấp cho toàn xã hội.
Limitations và Future Research
Luận án thẳng thắn thừa nhận các giới hạn nghiên cứu khoa học:
- Giới hạn về quy mô mẫu khảo sát: Do tính chất đặc thù của lĩnh vực PPP ngành nước tại thời điểm 2015 còn ít dự án triển khai thực tế, quy mô mẫu hợp lệ đạt 54 chuyên gia, dù có thâm niên cao (83,3% trên 10 năm kinh nghiệm) nhưng vẫn mang tính đại diện tập trung ở các cơ quan trung ương và một số đô thị lớn (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh);
- Giới hạn về dữ liệu chuỗi thời gian dài hạn: Nhiều dự án cấp nước PPP mới dừng ở giai đoạn đầu vận hành thương mại hoặc đang trong quá trình xây dựng, do đó chưa thể thu thập đầy đủ số liệu kiểm chứng tài chính thực tế trong suốt toàn bộ chu kỳ 25–30 năm của vòng đời hợp đồng;
- Giới hạn bối cảnh thể chế: Dữ liệu khảo sát và phân tích pháp lý dựa trên khung khổ Nghị định 15/2015/NĐ-CP, chưa bao quát được các biến động lập pháp sau này khi Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (Luật PPP năm 2020) được ban hành.
Chương trình nghiên cứu trong tương lai (Future Research Agenda):
- Hướng nghiên cứu 1: Xây dựng mô hình kinh tế lượng phân tích dữ liệu bảng (Panel Data) đánh giá tác động dài hạn của việc điều chỉnh biểu giá nước đến tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR) của nhà đầu tư và độ co giãn của cầu nước sạch đô thị;
- Hướng nghiên cứu 2: Nghiên cứu tích hợp các tiêu chuẩn ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị) và khả năng thích ứng biến đổi khí hậu (xâm nhập mặn, ô nhiễm nguồn nước ngầm) vào khung phân bổ rủi ro dự án PPP nước sạch;
- Hướng nghiên cứu 3: Đánh giá hiệu quả mô hình tổ chức doanh nghiệp dự án (SPV) và cấu trúc quản trị công ty sau khi cổ phần hóa các doanh nghiệp cấp nước đô thị nhà nước;
- Hướng nghiên cứu 4: Nghiên cứu so sánh thực nghiệm hiệu quả giữa hình thức hợp đồng DBFOM và BOT trong các dự án phát triển mạng lưới cấp nước đô thị thông minh (Smart Water Grids).
Tác động và ảnh hưởng
- Ảnh hưởng học thuật: Nghiên cứu của NCS. Nguyễn Đức Cảnh đã đặt nền móng học thuật vững chắc cho các nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Kinh tế quốc tế, Quản lý kinh tế và Kinh tế phát triển tại Đại học Kinh tế Quốc dân và các cơ sở đào tạo lớn, mở ra hướng nghiên cứu liên ngành giữa kinh tế học hợp đồng, tài chính công và quản trị hạ tầng đô thị.
- Chuyển đổi ngành và thực tiễn doanh nghiệp: Luận án trực tiếp cung cấp cơ sở khoa học cho quá trình tái cơ cấu và cổ phần hóa các công ty cấp thoát nước quốc doanh tại các tỉnh/thành phố, thúc đẩy các tập đoàn tư nhân trong nước (như DNP Water, AquaOne, REE) tự tin tham gia đầu tư các dự án cấp nước quy mô lớn với cấu trúc tài chính chuyên nghiệp.
- Tác động chính sách: Các kiến nghị và phát hiện của luận án đã đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn quan trọng cho Bộ Xây dựng, Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong việc tham mưu xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành Nghị định 15/2015/NĐ-CP, Nghị định 63/2018/NĐ-CP và sau này là quá trình soạn thảo Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (Luật PPP 2020).
- Lợi ích xã hội và môi trường: Việc thúc đẩy các dự án PPP nước sạch theo khung sàng lọc chuẩn mực giúp nâng cao tỷ lệ dân số đô thị được cấp nước sạch đạt quy chuẩn Bộ Y tế từ 80% năm 2015 lên mục tiêu 95–100% vào năm 2025, giảm thiểu đáng kể tỷ lệ bệnh tật lây truyền qua nguồn nước và bảo vệ tài nguyên nước ngầm quốc gia.
- Giá trị hội nhập quốc tế: Kết quả nghiên cứu hài hòa hóa kinh nghiệm quốc tế từ WB, ADB, OECD với bối cảnh đặc thù Việt Nam, nâng cao độ tin cậy và sức hấp dẫn của môi trường đầu tư hạ tầng Việt Nam trong mắt các tổ chức tài chính quốc tế và các nhà đầu tư nước ngoài.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh và Giới học thuật: Tiếp cận hệ thống lý luận hoàn chỉnh về PPP ngành nước, bộ công cụ ma trận sàng lọc đã được kiểm định thực chứng và kho dữ liệu phân tích thực trạng chi tiết để tiếp tục mở rộng các đề tài nghiên cứu chuyên sâu;
- Các Nhà hoạch định chính sách (Bộ Xây dựng, Bộ KH&ĐT, Bộ Tài chính, UBND các tỉnh/thành phố): Nắm vững các điều kiện tiên quyết, căn cứ thiết lập danh mục dự án PPP ưu tiên và phương pháp xây dựng cơ chế bảo lãnh, chia sẻ rủi ro, định giá nước cân bằng giữa thị trường và an sinh xã hội;
- Cộng đồng Doanh nghiệp và Nhà đầu tư tư nhân (trong nước & quốc tế): Sở hữu khung phương pháp luận rõ ràng để đánh giá tính khả thi tài chính (IRR, NPV), nhận diện các loại rủi ro tiềm ẩn và đàm phán các điều khoản hợp đồng PPP bảo vệ quyền lợi hợp pháp;
- Các Tổ chức tài trợ quốc tế (World Bank, ADB, JICA, KfW): Có cơ sở dữ liệu khoa học độc lập để thẩm định các khoản vay phát triển, các chương trình hỗ trợ kỹ thuật và nguồn vốn hỗ trợ dự án PPP (VGF) tại Việt Nam;
- Cộng đồng Dân cư đô thị: Hưởng lợi trực tiếp từ việc cải thiện chất lượng dịch vụ cấp nước liên tục 24/7, chất lượng nước uống đạt chuẩn quốc tế với mức giá tiêu dùng minh bạch, hợp lý.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì và đã mở rộng lý thuyết nào?
Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là việc xây dựng Khung lý luận tích hợp về Hợp tác công tư đặc thù cho ngành hạ tầng nước sạch đô thị trong nền kinh tế chuyển đổi. Luận án đã mở rộng Lý thuyết Hợp đồng không hoàn hảo (Incomplete Contract Theory) và Nguyên lý Phân bổ Rủi ro (Risk Allocation Theory) của Li và cộng sự (2005) cùng Xu và cộng sự (2011). Luận án chứng minh rằng trong điều kiện hàng hóa công cộng có tính độc quyền tự nhiên và chịu trần giá an sinh xã hội, hợp đồng PPP không thể chuyển giao tối đa rủi ro thị trường cho tư nhân mà bắt buộc phải thiết lập cơ chế chia sẻ rủi ro động 3 cấp độ kèm theo công thức chỉ số hóa điều chỉnh giá nước tự động theo lạm phát và chi phí đầu vào.
2. Đổi mới phương pháp luận của luận án thể hiện như thế nào so với các nghiên cứu trước?
So với các nghiên cứu của Cheung và Chan (2011) tại Hong Kong hay Burger và Hawkesworth (2011) tại OECD, luận án đã có sự đột phá phương pháp luận khi:
- Chuẩn hóa thành công Ma trận sàng lọc tính phù hợp của dự án PPP (Suitability Screening Matrix) thích ứng hoàn hảo với điều kiện thể chế và số liệu ngành nước Việt Nam;
- Thiết kế quy trình nghiên cứu hỗn hợp 4 bước chặt chẽ, kết hợp phỏng vấn sâu lãnh đạo quản lý cấp Bộ và khảo sát định lượng mẫu chuyên gia có thâm niên công tác trung bình 13,3 năm (trong đó 83,3% có trên 10 năm kinh nghiệm và 9,5% trực tiếp quản lý dự án PPP nước sạch);
- Tiến hành kiểm định thực chứng chéo (empirical cross-validation) công cụ sàng lọc trên 4 dự án cấp nước thực tế lớn nhất cả nước (Sông Đà, Sông Đuống, Bình An, Sài Gòn) trước khi đưa ra khuyến nghị áp dụng diện rộng.
3. Phát hiện bất ngờ và phản trực giác nhất từ dữ liệu thực nghiệm là gì?
Phát hiện bất ngờ và sâu sắc nhất là: "Rào cản lớn nhất ngăn cản tư nhân tham gia PPP ngành nước không nằm ở quy mô vốn đầu tư hay trình độ công nghệ, mà nằm ở sự thiếu nhất quán trong cam kết chống vi phạm hợp đồng và sự can thiệp hành chính vào giá nước của chính quyền địa phương". Mặc dù khu vực tư nhân có mức độ sẵn sàng rất cao về tiềm lực tài chính và công nghệ xử lý nước, nhưng họ kiên quyết từ chối tham gia các dự án phân phối nước nếu Nhà nước không cam kết rõ ràng về phương án bù lỗ khi giá nước quy định thấp hơn giá thành sản xuất hoặc không bảo đảm quyền đấu nối độc quyền theo quy hoạch cấp nước vùng.
4. Luận án có cung cấp quy trình nhân rộng (Replication Protocol) cụ thể không?
Có. Luận án cung cấp bộ quy trình nhân rộng hoàn chỉnh gồm 3 cấu phần cốt lõi:
- Bộ câu hỏi khảo sát đánh giá chuyên gia chuẩn hóa (trình bày chi tiết tại Phụ lục 6) với hệ số phân loại trọng số cụ thể;
- Quy trình 3 bước vận hành Ma trận sàng lọc dự án: Bước 1 - Thiết lập danh mục nhân tố hấp dẫn và nhân tố tiêu cực; Bước 2 - Chấm điểm trọng số định lượng cho dự án cụ thể; Bước 3 - Phân tích ngưỡng điểm để quyết định lựa chọn hình thức đầu tư (Đầu tư công truyền thống / Nhượng quyền vận hành NQVH / Nhượng quyền đầu tư NQĐT);
- Khung hợp đồng mẫu và ma trận phân bổ rủi ro chi tiết phân định trách nhiệm pháp lý cho từng dạng hợp đồng (BOT, BOO, DBFOM, O&M).
5. Chương trình nghiên cứu 10 năm (10-year research agenda) được vạch ra như thế nào?
Chương trình nghiên cứu 10 năm (hướng tới 2025–2030) tập trung vào 4 trọng tâm:
- Xây dựng mô hình giám sát kinh tế lượng định lượng hóa mối quan hệ giữa cơ chế hỗ trợ tài chính công (VGF), mức bảo lãnh rủi ro tỷ giá và chi phí sử dụng vốn (WACC) của doanh nghiệp dự án PPP;
- Tích hợp các chỉ số tuần hoàn tài nguyên nước, xử lý bùn thải và giảm phát thải carbon (Net Zero) vào tiêu chuẩn đấu thầu dự án PPP cấp nước đô thị;
- Nghiên cứu cơ chế tài chính hỗn hợp (Blended Finance) kết hợp giữa vốn viện trợ không hoàn lại quốc tế, vốn vay thương mại xanh và vốn chủ sở hữu tư nhân trong các siêu dự án cấp nước liên vùng;
- Hoàn thiện khung thể chế giải quyết tranh chấp hợp đồng PPP ngành nước thông qua trọng tài thương mại quốc tế trong bối cảnh Việt Nam thực thi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (CPTPP, EVFTA).
Kết luận
Luận án "Hợp tác công tư trong lĩnh vực cấp nước sạch đô thị tại Việt Nam" của NCS. Nguyễn Đức Cảnh đã giải quyết trọn vẹn và xuất sắc mục tiêu nghiên cứu đề ra, mang lại 6 đóng góp mang tính bước ngoặt:
- Hệ thống hóa và hoàn thiện khung lý luận chuyên sâu về hợp tác công tư trong lĩnh vực cấp nước sạch đô thị, phân định rõ bản chất kinh tế - kỹ thuật đặc thù của ngành nước trong mối quan hệ tương tác giữa cơ chế thị trường và an sinh xã hội;
- Xây dựng và chuẩn hóa thành công Ma trận sàng lọc tính phù hợp (Suitability Screening Matrix), cung cấp cho các nhà quản lý công cụ định lượng khoa học để lựa chọn dự án PPP khả thi, chấm dứt tình trạng chỉ định và phê duyệt dự án cảm tính;
- Thiết lập Khung phân bổ rủi ro toàn diện và tối ưu dựa trên nguyên tắc kinh tế học thực chứng, phân định minh bạch trách nhiệm xử lý các rủi ro thể chế, quy hoạch, giá nước và tài chính giữa Nhà nước và khu vực tư nhân;
- Định hình cấu trúc các dạng thức hợp đồng PPP phù hợp theo phân khúc chuỗi giá trị, kiến nghị áp dụng hợp đồng BOO/BOT cho các nhà máy sản xuất nước thô quy mô lớn và hợp đồng dịch vụ/quản lý O&M/giảm thất thoát nước cho mạng lưới đường ống truyền tải và phân phối;
- Đưa ra hệ thống giải pháp chính sách đồng bộ, có tính khả thi cao từ hoàn thiện thể chế (Thông tư hướng dẫn chuyên ngành, cơ chế bù giá VGF) đến nâng cao năng lực thực thi của cơ quan quản lý nhà nước và mức độ sẵn sàng của doanh nghiệp tư nhân;
- Mở ra 3 dòng nghiên cứu khoa học mới tại Việt Nam: Kinh tế học điều tiết giá dịch vụ công đô thị, Quản trị rủi ro hợp đồng PPP dài hạn trong bối cảnh biến đổi khí hậu, và Mô hình tài chính xanh cho hạ tầng nước sạch đô thị thông minh.
Công trình khẳng định giá trị học thuật bền vững và giá trị ứng dụng thực tiễn to lớn, đóng góp trực tiếp vào chiến lược phát triển bền vững hệ thống cấp nước sạch đô thị Việt Nam trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.