Chương 1 TỔNG QUAN VỀ HỢP ĐỒNG ĐƢA NGƢỜI VIỆT NAM ĐI LÀM VIỆC Ở NƢỚC NGOÀI VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM 1. Hợp đồng về đƣa ngƣời lao động Việt Nam đi làm việc ở nƣớc ngoài 1. Khái niệm Hợp đồng có những tên gọi khác như thỏa thuận, khế ước, giao kèo, thỏa ước, ước định, hiệp ước mặc dù rất gần gũi, thiết yếu và quen thuộc với tất cả mọi người, nhưng khi hỏi nó là gì thì không ai có thể định nghĩa được về nó. Thậm chí các luật gia cũng có những định nghĩa khác nhau.
Hợp đồng theo nghĩa chung nhất là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong những quan hệ cụ thể. Hiện nay pháp luật Việt nam quy định ba loại hợp đồng cơ bản là hợp đồng dân sự, kinh tế, lao động. Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005 định nghĩa: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” [49, Điều 388]. Thuật ngữ “đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài” được sử dụng chính thức lần đầu tiên trong Nghị định số 270/HĐBT ngày 09/11/1991, ban hành quy chế về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài.
Đây cũng là văn bản pháp luật quan trọng đánh dấu sự chuyển đổi cơ chế điều chỉnh bằng pháp luật trong lĩnh vực này. Sau đó, Bộ luật lao động năm 1994 được ban hành đã sử dụng thuật ngữ “đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài” và được sử dụng phổ biến trong các văn bản pháp luật của nhà nước ta từ những năm 1990 đến nay. Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, sức lao động được coi là một thứ hàng hóa đặc biệt, không chỉ được tự do thuê mướn ở trong nước mà còn có thể chuyển dịch ra nước ngoài với mục đích kinh tế, nhằm thu ngoại tệ về cho Việt Nam. Hiện nay, trong Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 2006, cụm từ “xuất khẩu lao động” đã chính thức được thay thế bằng cụm từ “đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng”.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như đã nói ở trên, trong phạm vi của Luận văn này xin được đề cập đến hai hợp đồng đưa người lao đô ̣ng Việt Nam đi làm viê ̣c ở nước ngoài với hai hình thức là thông qua các doanh nghiệp dịch vụ, tổ chức sự nghiệp được phép hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và (ii) thông qua hình thức đưa tu nghiệp sinh, thực tập sinh đi thực tập nâng cao tay nghề ở nước ngoài. Đây là hình thức phổ biến nhất trong số các hình thức đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. Hợp đồng mà người lao động ký kết với doanh nghiệp dịch vụ hay tổ chức sự nghiệp là một loại hợp đồng dịch vụ, được quy định tại Bộ luật Dân sự [49, Điều 518], theo đó bên cung ứng dịch vụ là doanh nghiệp sẽ thực hiện công việc cho bên thuê dịch vụ là người lao động, công việc ở đây bao gồm tất cả các hoạt động để hỗ trợ người lao động ra nước ngoài làm việc như đào tạo, đưa người lao động đi.sau đó bên thuê dịch vụ là người lao động sẽ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ là doanh nghiệp. Do đó, mối quan hệ giữa người lao động và doanh nghiệp dịch vụ phải chịu sự điều chỉnh của Bộ luật Dân sự.
Trong Bộ luật Dân sự 2005, hợp đồng dịch vụ được quy định và hướng dẫn cụ thể từ điều 518 đến điều 526 về đối tượng của hợp đồng dịch vụ, quyền và nghĩa vụ của bên thuê dịch vụ, quyền và nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ, trả tiền dịch vụ, trường hợp đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dịch vụ, tiếp tục hợp đồng dịch vụ. Bên cạnh đó, hợp đồng đưa người đi làm việc ở nước ngoài này điều chỉnh mối quan hệ phát sinh trong lĩnh vực lao động, có liên quan mật thiết và ảnh hưởng đến quan hệ pháp luật lao động như quan hệ lao động giữa người lao động Việt Nam và người sử dụng lao động ở nước ngoài, vì vậy nên mối quan hệ này phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật lao động. Ngoài ra, mối quan hệ giữa người lao động và doanh nghiệp dịch vụ còn chịu sự điều chỉnh của luật hành chính (vấn đề vi phạm hành chính), luật hình sự (vấn đề vi phạm hình sự), luật tố tụng dân sự (vấn đề giải quyết tranh chấp). Người lao động đi làm việc ở nước ngoài trên cơ sở một hợp đồng ký kết với doanh nghiệp dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, hợp đồng này được gọi là “Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài”.
Tuy nhiên, 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com để có được hợp đồng này thì trước hết cần phải có một loại hợp đồng khác làm cơ sở, đó là “Hợp đồng cung ứng lao động”.Trong hoạt động dịch vụ đưa người đi làm việc ở nước ngoài, doanh nghiệp có vai trò là trung gian, cầu nối giữa người sử dụng lao động ở nước ngoài với người lao động Việt Nam. Trước hết, doanh nghiệp dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài ký kết với người sử dụng lao động hợp đồng cung ứng lao động, hợp đồng này phải có những nội dung phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật nước sở tại và phải đăng ký với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội theo quy định của pháp luật. Trên cơ sở hợp đồng đó, doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài sẽ tiến hành tìm kiếm người lao động, sau đó ký kết với người lao động hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài “là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp với người lao động về quyền, nghĩa vụ của các bên trong việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài” [50, Điều 3, Khoản 3].
Hợp đồng này cũng phải có các nội dung cụ thể, phù hợp với nội dung của Hợp đồng cung ứng lao động đã ký trước đó. Trong Luật người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 2006 cũng đã quy định rất chi tiết các nội dung cần phải có trong hợp đồng cung ứng lao động để làm cơ sở cho hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài như thời hạn của hợp đồng; số lượng người lao động đi làm việc ở nước ngoài; ngành, nghề, công việc phải làm; địa điểm làm việc; điều kiện, môi trường làm việc; thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi; an toàn và bảo hộ lao động; tiền lương, tiền công, các chế độ khác và tiền thưởng (nếu có); tiền làm thêm giờ; điều kiện ăn, ở, sinh hoạt; chế độ khám bệnh, chữa bệnh; chế độ bảo hiểm xã hội; điều kiện chấm dứt hợp đồng trước thời hạn và trách nhiệm bồi thường thiệt hại; trách nhiệm trả chi phí giao thông từ Việt Nam đến nơi làm việc và ngược lại; tiền môi giới (nếu có); trách nhiệm của các bên khi người lao động bị chết trong thời gian làm việc ở nước ngoài; giải quyết tranh chấp; trách nhiệm giúp đỡ người lao động gửi tiền về nước. Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài đi làm việc ở nước ngoài do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định phù hợp với từng thị trường lao động [50, Điều 17]. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Đặc điểm Cũng giống như các loại hợp đồng dịch vụ khác, hợp đồng đưa người đi làm việc ở nước ngoài cũng có những điểm chung sau đây - Yếu tố đầu tiên và cơ bản nhất là là sự thỏa hiệp giữa các ý chí, tức là có sự ưng thuận giữa các bên với nhau trong các hợp đồng (bên A và bên B). Người ta thường gọi nguyên tắc này là nguyên tắc hiệp ý. Nguyên tắc hiệp ý là kết quả tất yếu của tự do hợp đồng: khi giao kết hợp đồng các bên được tự do quy định nội dung hợp đồng, tự do xác định phạm vi quyền và nghĩa vụ của các bên. Đương nhiên tự do hợp đồng không phải là tự do tuyệt đối.
Nhà nước buộc các bên khi giao kết hợp đồng phải tôn trọng đạo đức, trật tự xã hội, trật tự công cộng. - Yếu tố thứ hai của hợp đồng là người giao kết có đầy đủ năng lực hành vi để xác lập hợp đồng. Ý chí chỉ phát sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý khi người giao kết có đầy đủ năng lực hành vi theo quy định. - Yếu tố thứ ba không thể thiếu của hợp đồng chính là đối tượng.
Sự thống nhất ý chí của các bên phải nhằm vào một đối tượng cụ thể (bên A và bên B). Mọi hợp đồng phải có đối tượng xác định. Đối tượng của hợp đồng phải được xác định rõ rệt và không bị cấm đưa vào các giao dịch dân sự – kinh tế. Ngoài ra, trên cơ sở những đặc điểm của mối quan hệ giữa người lao động và doanh nghiệp dịch vụ, pháp luật Việt Nam về đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài có những đặc điểm riêng sau đây: Thứ nhất, hợp đồng đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài chịu sự điều chỉnh của nhiều loại quy phạm pháp luật.
Trước hết, hợp đồng mà người lao động ký kết với doanh nghiệp dịch vụ là một loại hợp đồng dịch vụ, được quy định tại Bộ luật Dân sự [49, Điều 518], theo đó bên cung ứng dịch vụ là doanh nghiệp sẽ thực hiện công việc cho bên thuê dịch vụ là người lao động, công việc ở đây bao gồm tất cả các hoạt động để hỗ trợ người lao động ra nước ngoài làm việc như đào tạo, đưa người lao động đi.sau đó bên thuê dịch vụ là người lao động sẽ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ là doanh nghiệp. Do đó, mối quan hệ giữa người lao động và doanh nghiệp dịch vụ phải chịu sự điều chỉnh của luật dân sự. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.