Tổng quan nghiên cứu

Hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng giữ vị trí chiến lược trong chính sách an sinh xã hội và phát triển kinh tế quốc gia. Riêng năm 2014, Việt Nam ghi nhận mốc kỷ lục với 106.840 lao động xuất cảnh, vượt 22,8% so với chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Trong 9 tháng đầu năm 2015, cả nước tiếp tục đưa được 90.894 lao động sang các thị trường quốc tế, đạt 100,62% kế hoạch cả năm và tăng 8,62% so với cùng kỳ năm trước. Dòng ngoại tệ do kiều bào và lao động gửi về nước ước tính đạt khoảng 2 tỷ USD mỗi năm, đưa Việt Nam xếp thứ 16 trong nhóm 30 quốc gia tiếp nhận lượng kiều hối lớn nhất toàn cầu.

Tuy nhiên, sau hơn 9 năm thực thi Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006, quan hệ pháp lý giữa các chủ thể đã phát sinh nhiều xung đột phức tạp. Thực trạng lạm thu phí môi giới, thiếu trách nhiệm quản lý khi lao động gặp rủi ro ở nước sở tại, cũng như tình trạng lao động tự ý bỏ trốn và phá vỡ thỏa thuận đang gây tổn hại nghiêm trọng đến uy tín quốc gia.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là phân tích toàn diện cơ sở lý luận và thực trạng áp dụng pháp luật đối với hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Luận văn tập trung đánh giá 2 mô hình phái cử chủ đạo: đưa lao động đi làm việc thông qua doanh nghiệp dịch vụ/tổ chức sự nghiệp và đưa tu nghiệp sinh, thực tập sinh đi nâng cao tay nghề. Phạm vi nghiên cứu bao quát không gian pháp lý tại Việt Nam và các thị trường trọng điểm như Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia và Trung Đông trong giai đoạn 2007 - 2015. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quyết định trong việc bảo vệ quyền lợi chính đáng cho hơn 43,44 triệu người trong độ tuổi lao động, góp phần duy trì mục tiêu giải quyết việc làm cho 1,52 đến 1,6 triệu lượt lao động bình quân mỗi năm và kéo giảm tỷ lệ thất nghiệp đô thị xuống dưới 5%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên 3 trụ cột lý thuyết pháp lý và kinh tế chuẩn mực:

  • Lý thuyết tự do hợp đồng và nguyên tắc hiệp ý: Căn cứ theo Điều 388 và Điều 390 Bộ luật Dân sự năm 2005, hợp đồng là sự thống nhất ý chí tự nguyện, bình đẳng giữa các bên nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự. Tuy nhiên, quyền tự do này chịu sự giới hạn bởi trật tự công, đạo đức xã hội và các quy chuẩn bảo hộ lao động.
  • Lý thuyết chuẩn mực lao động quốc tế: Tiếp cận theo Công ước số 97 năm 1949 và Công ước số 143 năm 1975 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về quyền bình đẳng đối xử, chống phân biệt chủng tộc và bảo vệ toàn diện quyền con người của lao động di cư.
  • Mô hình quan hệ pháp luật ba bên: Phân định bản chất cơ cấu pháp lý gồm: Doanh nghiệp phái cử (Bên A) - Người lao động Việt Nam (Bên B) - Người sử dụng lao động nước ngoài (Bên C).

Hệ thống 4 khái niệm trung tâm được chuẩn hóa xuyên suốt đề tài:

  • Hợp đồng cung ứng lao động: Văn bản thỏa thuận thương mại giữa Bên A và Bên C quy định điều kiện tuyển dụng, tiền lương và nghĩa vụ tiếp nhận.
  • Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài: Hợp đồng dịch vụ việc làm đặc thù giữa Bên A và Bên B, xác lập quyền và nghĩa vụ trước, trong và sau xuất cảnh.
  • Hợp đồng lao động quốc tế: Thỏa thuận trực tiếp giữa Bên B và Bên C về việc làm, thời giờ làm việc và tiền công theo pháp luật nước tiếp nhận.
  • Hợp đồng tu nghiệp sinh và thực tập sinh: Thỏa thuận đào tạo chuyển giao công nghệ kết hợp lao động thực hành nâng cao tay nghề có kỳ hạn.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng kết hợp chặt chẽ với phân tích quy phạm, thống kê mô tả và khảo sát thực tiễn. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm bóc tách bản chất kinh tế - xã hội đằng sau các điều khoản pháp lý, từ đó lượng hóa chính xác hiệu quả điều chỉnh của pháp luật.

  • Quy mô và phương pháp chọn mẫu: Nghiên cứu rà soát toàn diện cơ sở dữ liệu của 228 doanh nghiệp dịch vụ được cấp phép hoạt động tính đến tháng 6 năm 2015. Cỡ mẫu khảo sát bao gồm 106.840 hồ sơ xuất cảnh trong năm 2014 và hơn 56.000 hồ sơ phái cử trong 6 tháng đầu năm 2015. Mẫu nghiên cứu được lựa chọn theo phương pháp phân tầng ngẫu nhiên đại diện cho 5 thị trường chủ lực: Đài Loan (chiếm tỷ trọng trên 50%), Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia và Ả Rập Xê Út.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ báo cáo chính thức của Cục Quản lý Lao động ngoài nước, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội giai đoạn 1980 - 2015, hệ thống 21 công ước quốc tế của ILO mà Việt Nam đã phê chuẩn, cùng chuỗi văn bản quy phạm từ Nghị định 370/HĐBT năm 1991 đến Nghị định 88/2015/NĐ-CP.
  • Tiến trình nghiên cứu: Thực hiện phân kỳ qua 3 giai đoạn lịch sử: trước năm 1990 (thu về 800 tỷ đồng và 300 triệu USD), giai đoạn chuyển đổi 1991 - 2007 và giai đoạn chuẩn hóa lập pháp từ năm 2007 đến cuối năm 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

  • Tăng trưởng quy mô vượt bậc nhưng mất cân đối chất lượng: Quy mô phái cử lao động tăng trưởng ấn tượng qua các năm, từ mức trung bình 80.000 người/năm giai đoạn 2010 - 2013 lên 106.840 người năm 2014 (vượt 22,8% kế hoạch) và đạt 90.894 người chỉ trong 9 tháng đầu năm 2015. Mặc dù vậy, tỷ lệ lao động phổ thông chưa qua đào tạo nghề chuyên sâu vẫn chiếm hơn 70% tổng số lao động xuất cảnh, làm suy giảm nghiêm trọng năng lực cạnh tranh so với lao động từ Philippines hay Indonesia.
  • Bất cập về rào cản tài chính và sàng lọc pháp nhân: Tiêu chuẩn cấp phép yêu cầu vốn pháp định 5 tỷ đồng và ký quỹ 1 tỷ đồng tại ngân hàng thương mại được áp dụng cho toàn bộ 228 doanh nghiệp được cấp phép tính đến tháng 6 năm 2015. Tuy nhiên, mức ký quỹ 1 tỷ đồng không còn tương xứng với quy mô phái cử hàng nghìn lao động mỗi năm của các doanh nghiệp lớn, dẫn đến nguy cơ mất khả năng giải quyết rủi ro tài chính khi phát sinh tranh chấp tập thể ở nước ngoài.
  • Lạm thu phí dịch vụ và biến tướng phụ lục hợp đồng: Qua khảo sát thực tiễn tại một số địa phương, chi phí thực tế người lao động phải chi trả thường cao hơn từ 30% đến 50% so với trần quy định tại Thông tư liên tịch số 16/2007/TTLT-BLĐTBXH-BTC. Việc giao kết phụ lục hợp đồng nhằm thay đổi thời hạn làm việc hoặc chuyển đổi địa điểm phát sinh nhiều sai phạm, thuộc diện bị xử lý theo mức phạt tiền từ 1 đến 20 triệu đồng theo quy định tại Nghị định số 88/2015/NĐ-CP.
  • Bùng nổ chương trình thực tập sinh kỹ năng: Số lượng tu nghiệp sinh và thực tập sinh sang Nhật Bản nâng cao tay nghề có tốc độ tăng trưởng bình quân trên 20%/năm trong giai đoạn 2012 - 2015. Dù vậy, ranh giới pháp lý giữa "đào tạo nâng cao tay nghề" và "bóc lột lao động giá rẻ" chưa được phân định rành mạch trong Luật năm 2006, khiến người lao động dễ rơi vào tình trạng bị cắt giảm trợ cấp sinh hoạt và kéo dài giờ làm việc trái luật.

Thảo luận kết quả

Thực trạng bất bình đẳng trong quan hệ hợp đồng bắt nguồn từ sự chênh lệch vị thế đàm phán. Người lao động (Bên B) phần lớn xuất thân từ khu vực nông thôn, thiếu kiến thức pháp luật và phụ thuộc hoàn toàn vào doanh nghiệp dịch vụ (Bên A). Khi chuyển giao sang Bên C, mối quan hệ giữa hợp đồng dịch vụ việc làm và hợp đồng lao động trực tiếp bị phân mảnh, tạo ra khoảng trống pháp lý khiến quyền lợi của người lao động bị bỏ ngỏ.

Dữ liệu nghiên cứu thực nghiệm có thể được mô hình hóa trực quan qua bảng ma trận so sánh quyền - nghĩa vụ giữa các bên và biểu đồ cột phản ánh sự tương quan giữa quy mô lao động xuất cảnh (106.840 người năm 2014) với số lượng doanh nghiệp dịch vụ được cấp phép (228 doanh nghiệp). Khi so sánh với các nghiên cứu cùng thời kỳ, luận văn khẳng định tình trạng tranh chấp gia tăng không chỉ do ý thức kỷ luật của người lao động mà căn nguyên sâu xa nằm ở cơ chế kiểm soát hợp đồng cung ứng lao động chưa chặt chẽ và chế tài xử phạt vi phạm hành chính chưa đủ sức răn đe.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu quả điều chỉnh hợp đồng đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, 4 nhóm giải pháp chiến lược cần được triển khai đồng bộ:

  • Sửa đổi, nâng cao điều kiện gia nhập thị trường đối với doanh nghiệp dịch vụ: Kiến nghị Quốc hội và Chính phủ nâng mức vốn pháp định từ 5 tỷ đồng lên 10 đến 15 tỷ đồng, đồng thời áp dụng mức ký quỹ phân tầng từ 2 đến 5 tỷ đồng căn cứ theo quy mô lao động phái cử hàng năm. Quy định bắt buộc doanh nghiệp phải công khai 100% chi phí môi giới, tiền dịch vụ trên cổng thông tin điện tử quốc gia. Lộ trình thực hiện hoàn thành trong giai đoạn 2016 - 2018 do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì xây dựng văn bản.
  • Chuẩn hóa quy trình giáo dục định hướng và kiểm định chất lượng tay nghề: Thiết lập tiêu chuẩn đào tạo bắt buộc tối thiểu 74 tiết học định hướng theo Quyết định số 18/2007/QĐ-BLĐTBXH, gắn liền với việc cấp chứng chỉ theo Quyết định 20/2007/QĐ-BLĐTBXH. Đặt chỉ tiêu 100% lao động xuất cảnh phải đạt chuẩn ngoại ngữ và kỹ năng nghề cơ bản, kéo giảm tỷ lệ lao động vi phạm hợp đồng về nước trước hạn xuống dưới 1%. Thời gian thực hiện định kỳ hàng năm do Sở Lao động - Thương binh và Xã hội các tỉnh phối hợp cùng doanh nghiệp triển khai.
  • Tăng cường hiệu lực thanh tra, giám sát và thực thi chế tài xử phạt: Mở rộng quyền hạn cho Thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trong việc áp dụng khung phạt từ 1 đến 20 triệu đồng theo Nghị định số 88/2015/NĐ-CP đối với các hành vi sửa đổi thời hạn hợp đồng trái phép, thu giữ giấy tờ tùy thân và chậm trễ thanh lý hợp đồng. Phối hợp với Bộ Công an truy cứu trách nhiệm hình sự theo Thông tư liên tịch số 09/2006/TTLT đối với các hành vi lừa đảo xuất khẩu lao động, mục tiêu giảm 50% số vụ tranh chấp hợp đồng trong giai đoạn 2016 - 2020.
  • Tối ưu hóa cơ chế vận hành Quỹ Hỗ trợ việc làm ngoài nước: Cải cách thủ tục chi trả hỗ trợ theo Quyết định số 144/2007/QĐ-TTg và Thông tư liên tịch số 11/2008/TTLT-BLĐTBXH-BTC. Đảm bảo hỗ trợ kịp thời cho 100% lao động bị tai nạn lao động, tử vong hoặc mất việc do người sử dụng lao động nước ngoài phá sản, rút ngắn thời gian giải quyết chi trả bảo hiểm và trợ cấp xuống dưới 15 ngày làm việc. Thời hạn triển khai ngay từ quý 1 năm 2016 do Ban Quản lý Quỹ trực tiếp điều hành.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị thực tiễn và định hướng ứng dụng sâu sắc cho 4 nhóm đối tượng trọng điểm:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Cung cấp hệ thống luận cứ khoa học thực chứng để Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Ủy ban Xã hội của Quốc hội nghiên cứu sửa đổi Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006, tối ưu hóa công tác quản lý mạng lưới 228 doanh nghiệp dịch vụ trên toàn quốc.
  • Doanh nghiệp hoạt động dịch vụ phái cử và xuất khẩu lao động: Cung cấp khung pháp lý mẫu chuẩn hóa về hợp đồng cung ứng lao động và hợp đồng đưa người đi làm việc ở nước ngoài theo Thông tư 22/2013/TT-BLĐTBXH, giúp các doanh nghiệp nhận diện rủi ro pháp lý, tránh mức phạt 1 đến 20 triệu đồng và thiết lập quy trình quản lý thực tập sinh chuẩn mực tại thị trường quốc tế.
  • Người lao động và thân nhân có nguyện vọng đi làm việc ở nước ngoài: Giúp người lao động nắm vững 7 điều kiện tiêu chuẩn xuất cảnh, nhận diện 11 nhóm hành vi bị nghiêm cấm theo Điều 7 Luật năm 2006, từ đó chủ động bảo vệ quyền lợi hợp pháp về tiền lương, bảo hiểm và phòng tránh bẫy tài chính từ các tổ chức môi giới bất hợp pháp.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Luật: Đóng vai trò là tài liệu tham khảo chuyên khảo giá trị về Luật Kinh tế và Luật Lao động quốc tế, phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu so sánh về quan hệ hợp đồng dịch vụ ba bên và cơ chế bảo hộ quyền con người của lao động di cư theo các chuẩn mực ILO 97 và 143.

Câu hỏi thường gặp

Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài bắt buộc phải lập thành văn bản không?

Theo Điều 3 Thông tư số 22/2013/TT-BLĐTBXH và Điều 401 Bộ luật Dân sự năm 2005, hợp đồng này bắt buộc phải được giao kết bằng văn bản. Quy định này nhằm thiết lập bằng chứng pháp lý rõ ràng về quyền và nghĩa vụ giữa doanh nghiệp dịch vụ và người lao động. Mọi thỏa thuận bằng lời nói đều không có giá trị pháp lý và bị xử phạt theo quy định hiện hành.

Doanh nghiệp dịch vụ đưa người đi làm việc ở nước ngoài cần đáp ứng điều kiện tài chính nào?

Căn cứ Điều 9 Luật năm 2006 và Nghị định số 126/2007/NĐ-CP, doanh nghiệp phải có vốn pháp định tối thiểu 5 tỷ đồng và thực hiện ký quỹ 1 tỷ đồng tại ngân hàng thương mại. Đến tháng 6 năm 2015, toàn bộ 228 doanh nghiệp được cấp phép hoạt động đều phải tuân thủ nghiêm ngặt điều kiện tài chính này trước khi tiến hành ký kết hợp đồng với người lao động.

Những ngành nghề và công việc nào bị nghiêm cấm đi làm việc ở nước ngoài?

Theo Nghị định số 126/2007/NĐ-CP, có 8 nhóm công việc bị cấm tuyệt đối gồm: vũ công, ca sĩ, massage tại các trung tâm giải trí; công việc tiếp xúc với phóng xạ hở, khai thác quặng phóng xạ; tiếp xúc thường xuyên với chất nổ, thủy ngân, hóa chất độc hại; săn bắt thú dữ và các công việc mai táng, thiêu xác tử thi. Mọi hợp đồng giao kết liên quan đến các ngành nghề này đều bị tuyên vô hiệu.

Hành vi sửa đổi thời hạn hợp đồng bằng phụ lục sai quy định bị xử phạt như thế nào?

Theo Khoản 1 Điều 8 Nghị định số 88/2015/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 95/2013/NĐ-CP, hành vi sửa đổi quá 1 lần thời hạn hợp đồng bằng phụ lục làm thay đổi loại hợp đồng hoặc không thanh toán đầy đủ quyền lợi của người lao động khi chấm dứt hợp đồng sẽ bị phạt tiền từ 1 đến 20 triệu đồng, đồng thời buộc khắc phục toàn bộ hậu quả tài chính cho người lao động.

Đóng góp kinh tế từ hoạt động xuất khẩu lao động được thể hiện qua các chỉ số nào?

Hoạt động xuất khẩu lao động tạo nguồn thu kiều hối trên 2 tỷ USD mỗi năm, đưa Việt Nam vào top 16 quốc gia nhận kiều hối nhiều nhất thế giới năm 2010. Trong 9 tháng đầu năm 2015, chương trình đã giải quyết việc làm cho 90.894 người, trực tiếp nâng cao thu nhập hộ gia đình và thúc đẩy tăng trưởng GDP quốc gia bền vững.

Kết luận

  • Hoạt động đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài đã đạt những mốc kỷ lục ấn tượng với 106.840 lao động năm 2014 và hơn 56.000 người trong 6 tháng đầu năm 2015, khẳng định vai trò trụ cột trong giải quyết việc làm và thu hút nguồn ngoại tệ 2 tỷ USD hàng năm.
  • Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài mang bản chất là hợp đồng dịch vụ việc làm hỗn hợp, chịu sự điều chỉnh đồng thời của Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật năm 2006 và các chuẩn mực quốc tế thuộc Công ước ILO 97 và 143.
  • Nghiên cứu đã chỉ rõ những bất cập thực tiễn về khoảng cách giữa quy định pháp luật và việc thực thi của 228 doanh nghiệp dịch vụ, đặc biệt là tình trạng lạm thu phí môi giới và hạn chế trong đào tạo định hướng tay nghề.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá đề xuất nâng vốn pháp định, tăng tiền ký quỹ lên 2 đến 5 tỷ đồng, chuẩn hóa đào tạo 74 tiết định hướng và siết chặt chế tài xử phạt từ 1 đến 20 triệu đồng theo Nghị định 88/2015/NĐ-CP.
  • Lộ trình hoàn thiện pháp lý giai đoạn 2016 - 2020 đặt mục tiêu bảo vệ toàn diện quyền lợi của hơn 43,44 triệu người trong độ tuổi lao động, thúc đẩy thị trường xuất khẩu lao động phát triển bền vững và hội nhập sâu rộng.

Công trình nghiên cứu là cẩm nang pháp lý thiết thực cho các nhà lập pháp, doanh nghiệp dịch vụ và người lao động trên hành trình làm việc và kiến tạo giá trị tại thị trường lao động quốc tế.