Chương 1. Lý luận chung về HĐUTMBHH. Điều kiện hiệu lực của của HĐUTMBHH theo quy định của pháp luật Việt Nam trong tương quan so sánh với pháp luật của một số nước. Thực trạng thực thi pháp luật về HĐUTMBHH ở Việt Nam và giải pháp đề xuất.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG UỶ THÁC MUA BÁN HÀNG HOÁ Hoạt động UTMBHH là chế định quan trọng trong pháp luật thương mại. Để hiểu rõ chế định này, trước tiên luận văn sẽ tìm hiểu khái niệm HĐMBHH. Từ đó, luận văn sẽ đề cập tới khái niệm, định nghĩa và các đặc điểm của HĐUTMBHH. Các mục tiếp theo của luận văn sẽ trình bày về các nguyên tắc cơ bản, giao kết và thực hiện, vai trò, ý nghĩa và nguồn luật điều chỉnh HĐUTMBHH.1 KHÁI NIỆM HĐMBHH Mua bán hàng hoá có lịch sử phát triển lâu đời, tiền thân của nó gắn liền với sự xuất hiện của xã hội loài người thời cổ đại, trao đổi đồ vật.
Đó là hình thức giao dịch cổ xưa của buổi bình minh sơ khai, con người lấy đó làm cơ sở cho sự sinh tồn. Khi đồng tiền xuất hiện thì vật đổi tiền trở thành hình thức trung gian cơ bản, sau này Adam Smith xây dựng trong công thức gắn với tên tuổi của ông H-T-H, đánh dấu sự phát triển của lịch sử xã hội loài người trong sử dụng vật trung gian để trao đổi tài sản. Khi giao thương phát triển, trao đổi hàng hoá không chỉ diễn ra trong phạm vi vùng, lãnh thổ, nó vượt ra ngoài biên giới quốc gia và trở thành động lực chính cho sự ra đời của mua bán hàng hóa quốc tế. Pháp luật Việt Nam hiện hành có hai đạo luật cơ bản điều chỉnh quan hệ mua bán hàng hoá, BLDS 2005 và LTM 2005.
Quan hệ mua bán hàng hoá được xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp lý là hợp đồng mua bán hàng hoá, một dạng riêng của hợp đồng mua bán tài sản trong giao lưu dân sự. Hợp đồng mua bán hàng hoá có bản chất chung của hợp đồng, là sự thoả thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quan hệ mua bán hàng hoá. LTM không đưa ra định nghĩa về HĐMBHH song có thể xác định bản chất pháp lý của HĐMBHH trên cơ sở quy định của BLDS về hợp đồng mua bán tài sản [§ 428]. HĐMBHH là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thoả thuận.
Quan niệm về HĐMBHH của Pháp và Nhật Bản có nhiều nét tương đồng với Việt Nam. Điều này xuất phát từ truyền thống pháp luật của ba nước theo hệ thống Civil Law mà điểm mấu chốt là, với lợi thế xây dựng pháp luật sau, Việt Nam đã tham khảo pháp luật của nhiều nước, trong đó có Pháp và Nhật Bản. Do vậy, pháp luật về hợp đồng của ba nước cơ bản là giống nhau. Quan niệm pháp luật của Anh và một số nước chịu ảnh hưởng của hệ thống pháp luật Common Law như, Mỹ, Australia, Canada, New Zealand, Ấn Độ và Nam Phi thì HĐMBHH được hiểu là thoả thuận được tạo ra và xác định bởi các nghĩa vụ (obligations) giữa hai hoặc nhiều bên về việc mua hoặc bán các sản phẩm (products), dịch vụ (services) có thanh toán hoặc bù đắp (compensation) [37].
Các nước theo hệ thống thông luật xác định HĐMBHH hình thành khi có thoả thuận được xác lập giữa các bên về việc mua bán các sản phẩm, dịch vụ có thanh toán hoặc bù đắp. Như vậy, nội hàm của khái niệm được hiểu rộng hơn với hai tiêu chí, các nghĩa vụ được xác lập trên cơ sở thoả thuận mua bán hàng hoá hay dịch vụ và có thanh toán hay bù đắp. Trong khi đó, pháp luật Việt Nam xác định nội hàm của khái niệm cụ thể và hẹp hơn, ngoài nghĩa vụ giao nhận hàng hoá và thanh toán còn quy định tiêu chí chuyển quyền sở hữu hàng hoá, thêm đó dịch vụ không được coi là hàng hoá [§ 3. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tiểu kết Nền kinh tế càng phát triển, xã hội càng văn minh thì chế định hợp đồng càng được coi trọng và hoàn thiện.
Khái niệm hợp đồng ở các hệ thống pháp luật khác nhau quan niệm khác nhau. Tuy nhiên, hầu hết pháp luật các nước đều thừa nhận bản chất của hợp đồng là sự thoả thuận có nguồn gốc căn bản là sự thống nhất ý chí, nền tảng pháp lý cho các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng thực hiện các quyền, nghĩa vụ.2 KHÁI NIỆM HĐUTMBHH Trên thế giới, các hoạt động trung gian thương mại đã xuất hiện từ lâu, do nhu cầu của việc mở rộng quy mô và cường độ buôn bán hàng hoá của thương nhân. Có thể nói, khởi nguồn của việc sử dụng hoạt động trung gian này bắt nguồn từ thời kỳ mà việc vận chuyển hàng hoá từ nước này sang nước khác bắt đầu được thực hiện bằng đường biển (khoảng thế kỷ XIII). Các thương nhân, thay vì theo hàng hoá giao tại cảng đến, họ uỷ thác cho thương nhân khác thực hiện công việc đó thay mình và trả thù lao.
Đó là khởi nguồn của việc sử dụng uỷ thác trong thương mại. Cùng với sự phát triển của thương mại toàn cầu, đặc biệt từ nửa sau thế kỷ XIX, khi các quan hệ quốc tế gia tăng đáng kể thì uỷ thác trong thương mại, đặc biệt uỷ thác mua bán hàng hoá hay xuất nhập khẩu và một số hoạt động trung gian khác càng trở nên có ý nghĩa. Đến nay, ở hầu hết các nước đều tồn tại các hoạt động thương mại qua trung gian, trong đó có uỷ thác (đại diện) mua bán hàng hoá. Ở Việt Nam, uỷ thác là hoạt động thương mại qua trung gian được lưu ý sớm nhất.
Trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung, uỷ thác thương mại chủ yếu tồn tại trong khu vực kinh tế có yếu tố nước ngoài. Các khu vực kinh tế khác, hoạt động này chưa có điều kiện để hình thành. Thời kỳ này, một số văn bản pháp luật của Bộ ngoại thương (sau này là Bộ Thương Mại) dưới hình 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thức Thông tư, được ban hành để điều chỉnh các hoạt động uỷ thác xuất nhập khẩu và đặt đại lý mua bán hàng hoá ở nước ngoài [2, 3]. Khi đất nước tiếp nhận nền kinh tế thị trường, trước những đòi hỏi bức thiết của việc sử dụng các hoạt động thương mại qua trung gian, LTM 1997 ra đời, có những quy định cơ bản về hoạt động UTMBHH và một số hoạt động trung gian thương mại khác như, đại lý mua bán hàng hoá, môi giới thương mại, đại diện cho thương nhân.
Sau hơn bảy năm thi hành, LTM năm 1997 bộc lộ nhiều bất cập cần phải sửa đổi, bổ sung, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển thương mại trong nước và quốc tế. LTM 2005 được ban hành đã có những sửa đổi, bổ sung, quy định mới, đặc biệt đối với các hoạt động trung gian thương mại, trong đó có UTMBHH. Theo quy định của LTM, UTMBHH là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận uỷ thác thực hiện công việc mua bán hàng hoá với danh nghĩa của mình theo những điều kiện đã thoả thuận với bên uỷ thác và được nhận thù lao uỷ thác [§ 155]. Bản chất của UTMBHH là một quan hệ hợp đồng, trở lại với nguồn gốc ban đầu của hợp đồng, đó là sự xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền, nghĩa vụ pháp lý.
Cụ thể trong quan hệ này là các quyền, nghĩa vụ liên quan đến công việc mua bán hàng hóa, được tiến hành trên cơ sở thoả thuận uỷ thác giữa hai bên, bên uỷ thác và bên nhận uỷ thác. LTM không đưa ra định nghĩa về HĐUTMBHH, song với biểu hiện đầy đủ các yếu tố của một hợp đồng dịch vụ [§ 518 BLDS], HĐUTMBHH được hiểu là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên nhận uỷ thác thực hiện công việc mua bán hàng hoá với danh nghĩa của mình theo những điều kiện đã thoả thuận với bên uỷ thác và được nhận thù lao uỷ thác. HĐUTMBHH được xác lập trên cơ sở có đề nghị giao kết và có chấp nhận đề nghị giao kết hay thoả thuận được tạo ra và xác định bởi nghĩa vụ về công việc mua, bán hàng hoá có điều kiện giữa bên uỷ thác và bên nhận uỷ thác. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, HĐUTMBHH mang bản chất của hợp đồng dịch vụ nhưng chứa đựng trong đó các dấu hiệu của hợp đồng uỷ quyền.
HĐUTMBHH mang bản chất của hợp đồng dịch vụ hay HĐUTMBHH là HĐDV dân sự trong thương mại. Về phương diện chủ thể, bên nhận uỷ thác, thực thể cung ứng dịch vụ thương mại chuyên nghiệp được thuê thực hiện công việc mua bán hàng hoá, nhân danh chính mình cho bên thuê và được trả thù lao theo thoả thuận. Về đối tượng, công việc MBHH là đối tượng đặc thù của dịch vụ dân sự trong thương mại. Về nội dung, HĐUTMBHH chứa đựng các điều khoản của HĐDV, thoả thuận về công việc phải làm, thời hạn, thù lao.
Yếu tố uỷ quyền được thể hiện ở nghĩa vụ thực hiện công việc của người thụ uỷ trong phạm vi được uỷ quyền và được nhận thù lao theo thoả thuận. Tuy nhiên, uỷ thác không đồng nhất với uỷ quyền. Về bản chất của hành vi, uỷ quyền trong dân sự là hành vi giao cho người khác sử dụng một số quyền mà pháp luật đã trao cho mình; uỷ thác trong MBHH là hành vi giao cho người khác làm thay công việc MBHH cho mình. Do đó, về tư cách chủ thể khi thực hiện hành vi, bên được uỷ quyền thực hiện công việc được uỷ quyền nhân danh bên uỷ quyền; bên nhận uỷ thác thực hiện công việc được uỷ thác nhân danh chính mình.
Về phạm vi, bên được uỷ quyền có thể được uỷ quyền thực hiện một hoặc nhiều hành vi thương mại trong khi UTMBHH mang tính vụ việc, thu hẹp trong lĩnh vực MBHH. Về năng lực pháp lý, bên được uỷ quyền có thể là cá nhân, thương nhân hay tổ chức, tuỳ thuộc vào hành vi được uỷ quyền; bên nhận uỷ thác phải là thương nhân, đặc biệt phải có giấy phép kinh doanh phù hợp với hàng hoá được uỷ thác mua bán. Như vậy, uỷ thác có dấu hiệu của uỷ quyền dân sự nhưng không phải uỷ quyền dân sự trong thương mại.