Chương 1: Bản chất pháp lý của hợp đồng uỷ quyền. Chương 2: Hợp đồng ủy quyền theo pháp luật Việt Nam. Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về hợp đồng ủy quyền và phương hướng hoàn thiện. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 BẢN CHẤT PHÁP LÝ CỦA HỢP ĐỒNG UỶ QUYỀN 1.
Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng ủy quyền 1. Khái niệm hợp đồng uỷ quyền Một trong những đặc trưng của quan hệ dân sự đó là thể hiện ý chí của các bên tham khi tham gia, nhất là trong hợp đồng và giao dịch dân sự. Ý chí được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau có thể bằng lời nói, bằng văn bản hoặc hành vi. Ý chí, nguyện vọng của các chủ thể trong quan hệ dân sự có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nó là động lực thúc đẩy các chủ thể tham gia các quan hệ dân sự đồng thời nó cũng là yếu tố thúc đấy quan hệ dân sự phát triển.
Trong quan hệ dân sự, thông thường chủ thể bao giờ cũng là người trực tiếp tham gia vào các quan hệ dân sự. Tuy nhiên, cũng có trường hợp chủ thể không điều kiện để để trực tiếp tham gia, mà việc tham gia cần tới sự giúp đỡ từ phía người khác. Sự giúp đỡ này, thường thể hiện ở những hành vi cụ thể, sự giúp đỡ của người khác là điều kiện để thực hiện những công việc cụ thể. Ví dụ như mối quan hệ trong hợp đồng thầu có nhà thầu phụ, một người đại diện cho người khác ký hợp đồng,.
Nhưng cũng có trường hợp, một chủ thể có thể thực hiện những hành vi pháp lý nhất định cho một chủ thể khác. Cũng có trường hợp, người cần sự giúp đỡ là những người do hạn chế về sức khoẻ, tâm lý, chuyên môn,. những chủ thể này vẫn có thể độc lập tham gia giao dịch dân sự khi có một ai đó sẽ hành động thay cho họ. Nói một các khác, ý chí được thực hiện bởi một người sẽ được coi là ý chí của người đó nếu hai bên có sự giúp đỡ nhau.
Bên cạnh những chủ thể mà bắt buộc cần phải hướng tới sự giúp đỡ từ những chủ thể khác, vẫn có những chủ thể đầy đủ khả năng tham gia vào tất cả 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các giao dịch, nhưng vẫn có yêu cầu người khác thực hiện công việc cho mình. Những quan hệ này, thông thường xuất hiện trong những công việc mang tính chất nghề nghiệp chuyên môn cao như dịch vụ ngân hàng, luật sư,. Người đại diện có trách nhiệm tiếp nhận ý chí của các chủ thể chính trong quan hệ dân sự và trở thành người thể hiện ý chí đó. Xét từ góc độ lý luận thì người thực hiện các hành vi pháp lý nhất định đồng thời là người tiếp nhận kết quả của các hành vi đó.
Để đáp ứng nhu cầu này trong xã hội, pháp luật đã quy định một chế định đặc biệt đó là đại diện. Đại diện được phân biệt theo hai hình thức đó là đại diện theo pháp luật và đại diện theo uỷ quyền. Đại diện theo pháp luật được hiểu là những đại diện mà pháp luật quy định trong một số trường hợp nhất định, đối với một số chủ thể nhất định, sẽ là đại diện đương nhiên cho một số chủ thể khi có những sự kiện pháp lý xảy ra. Ví dụ: Cha, mẹ là đại diện theo pháp luật đối với con chưa thành niên, hay người giám hộ đối với người được giám hộ,.
Còn đại diện theo uỷ quyền là đại diện tự nguyện, được thể hiện bằng hình thức uỷ quyền. Trong xã hội, có những việc uỷ quyền nhưng không được thể hiện dưới hình thức hợp đồng uỷ quyền, mà việc ủy quyền đã vượt xa khỏi những khế ước xã hội thông thường. Việc uỷ quyền này, liên quan đến một số lĩnh vực rất đặc biệt là chính trị như việc bầu đại biểu vào các cơ quan dân biểu trong một nhiệm kỳ nhất định. Về pháp lý thì những đại biểu dân cử là do người dân ở một số khu vực nhất định ủy quyền tham gia vào cơ quan dân biểu.
Như vậy, có sự uỷ quyền nhưng việc uỷ quyền này không được thể hiện trong những khế ước; do vậy, việc uỷ quyền này không thuộc phạm vi điều chỉnh của luật dân sự. Đại diện theo ủy quyền trong luật dân sự được thể hiện bằng hình thức hợp đồng uỷ quyền, nói một cách khác hợp đồng uỷ quyền là căn cứ phát sinh 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quyền đại diện của chủ thể được ủy quyền. Như vậy, có thể khẳng định chế định đại diện là cơ sở, nền tảng của hợp đồng uỷ quyền. Ủy quyền theo từ điển Tiếng Việt được hiểu là: Giao cho người khác sử dụng một số quyền mà pháp luật trao cho mình; hay ủy quyền là giao cho người khác một số quyền trong phạm vi quyền hành của mình; hay ủy quyền là giao quyền cho ai thay mình.
Cơ sở pháp lý của ủy quyền là hợp đồng ủy quyền, hợp đồng uỷ quyền là một loại hợp đồng dân sự thông dụng và được xây dựng trên những nguyên tắc cơ bản của hợp đồng dân sự. Đó là, hợp đồng ủy quyền thể ý chí của các bên, tự do, bình đẳng khi tham gia giao kết hợp đồng. Nội dung của hợp đồng ủy quyền là cơ sở pháp lý để các bên thực hiện những quyền cũng như nghĩa vụ của mình, đồng thời nó cũng là căn cứ pháp lý để giải quyết tranh chấp khi một trong hai bên vi phạm hợp đồng. Hợp đồng ủy quyền là một chế định pháp lý cơ bản trong luật dân sự, do tầm quan trọng của hợp đồng ủy quyền, nên luật dân sự của hầu hết các nước trên thế giới đều có những quy định rất cụ thể và chi tiết đồng thời đưa ra định nghĩa về hợp đồng ủy quyền.
Bộ luật dân sự Pháp năm 1804, Bộ luật dân sự Đức năm 1900, Bộ luật Dân sự Nhật Bản, Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan, … đều có những chương, mục riêng quy định về hợp đồng ủy quyền. Theo quy định tại Điều 1184 BLDS Pháp năm 1804 thì: Hợp đồng uỷ quyền là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó một hoặc nhiều người cam kết với một hoặc nhiều người khác về việc chuyển giao một vật, làm hoặc không làm một công việc nào đó. Định nghĩa hợp đồng ủy quyền trên có tính chất mở, cho thấy, luật dân sự Pháp cho phép mở rộng phạm vi ủy quyền, theo đó lĩnh vực được ủy quyền bao hàm hầu hết đời sống xã hội. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo quy định tại Điều 797 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan thì: Hợp đồng uỷ quyền là một hợp đồng trong đó một người gọi là người thụ uỷ (đại diện uỷ quyền), được quyền hành động cho một người khác gọi là người chủ uỷ và người đó chấp nhận cho làm như vậy.
Ở nước ta, trước khi BLDS năm 1995 ra đời, việc ủy quyền được quy định rải rác ở một số văn bản pháp luật có giá trị pháp lý khác nhau. Từ khi BLDS năm 1995 được ban hành, hợp đồng ủy quyền được quy định một cách hệ thống từ Điều 585 đến Điều 594. Theo quy định tại Điều 585 BLDS năm 1995 thì: Hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền, còn bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao, nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Tuy nhiên, quá trình áp dụng những quy định của BLDS năm 1995 về hợp đồng nói chung và hợp đồng ủy quyền nói riêng cho thấy có nhiều điểm bất cập.
Vì vậy, việc sửa đổi bổ sung những quy định của BLDS năm 1995 là yêu cầu tất yếu. BLDS năm 2005 ra đời, những quy định về hợp đồng ủy quyền được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn cũng như pháp luật quốc tế. Điều 581 BLDS năm 2005 đưa ra khái niệm về hợp đồng ủy quyền theo đó: Hợp đồng uỷ quyền là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên uỷ quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên uỷ quyền, còn bên uỷ quyền chỉ phải trả thù lao, nếu có sự thoả thuận hoặc pháp luật có quy định. So với BLDS năm 1995 thì khái niệm hợp đồng ủy quyền trong BLDS năm 2005 không có sự thay đổi, tuy nhiên những quy định khác liên quan đến hợp đồng uỷ quyền có sửa đổi, bổ sung.
Như vậy, trong quan hệ ủy quyền, người được ủy quyền thay mặt người ủy quyền thực hiện công việc mà việc thực hiện công việc này làm phát sinh hậu quả pháp lý liên quan đến quyền và nghĩa vụ của bên ủy quyền cũng như bên thứ 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ba hoặc chính người được ủy quyền. Không phải mọi việc đều là đối tượng của hợp đồng ủy quyền, mà đối tượng của ủy quyền là những việc mà pháp luật không cấm và không trái đạo đức xã hội. Trong quan hệ ủy quyền, người được ủy quyền thay mặt người ủy quyền thực hiện những công việc vì lợi ích của người ủy quyền. Như vậy, trong quan hệ ủy quyền, tồn tại các mối quan hệ pháp lý cơ bản đó là: Mối quan hệ giữa người ủy quyền với người được ủy quyền; mối quan hệ giữa người được ủy quyền với người thứ ba; mối quan hệ giữa người ủy quyền với người thứ ba do người được ủy quyền tham gia.
Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm về hợp đồng ủy quyền như sau: Hợp đồng ủy quyền là sự thoả thuận của các bên, theo đó một bên (bên uỷ quyền), trao cho người khác (bên được uỷ quyền) thực hiện những công việc mà bên uỷ quyền có quyền hoặc có nghĩa vụ phải thực hiện. Đặc điểm hợp đồng uỷ quyền Hợp đồng ủy quyền là một loại hợp đồng dân sự; do vậy, ngoài những đặc điểm chung của hợp đồng dân sự như: đó là sự thể hiện ý chí của các bên; sự tự do, tự nguyện, bình đẳng của các bên khi giao kết hợp đồng, … hợp đồng uỷ quyền có những đặc điểm riêng biệt. Những đặc điểm riêng biệt của hợp đồng ủy quyền là căn cứ để phân biệt hợp đồng ủy quyền với những hợp đồng khác. Đặc trưng của hợp đồng ủy quyền thể hiện ở những nội dung sau đây: Thứ nhất, công việc uỷ quyền là những công việc mang tính pháp lý.