Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu; Chương 2. Những vấn đề lý luận về hàng hóa nông sản và hợp đồng mua bán hàng hóa nông sản; Chương 3. Thực trạng pháp luật Việt Nam về giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa nông sản và thực tiễn thực hiện tại Đồng Bằng Sông Cửu Long trong những năm gần đây; Chương 4.
Giải pháp hoàn thiện pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa nông sản và nâng cao hiệu quả thực thi tại Đồng Bằng Sông Cửu Long hiện nay. 6 luan an Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Nhóm các nghiên cứu đề cập đến khái niệm, vai trò, đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa nông sản Hợp đồng là một phương thức quan trọng hiện diện trong mọi hoạt động của con người.
Vì vậy, hợp đồng và pháp luật về hợp đồng là một trong những nội dung thu hút sự quan tâm của mọi chủ thể tham gia hợp đồng. Trên thế giới cũng như Việt Nam những nghiên cứu về hợp đồng đang trở nên đồ sộ, các quy định về hợp đồng luôn chiếm đa phần trong các đạo luật thuộc lĩnh vực luật tư. Trong lĩnh vực mua bán HHNS, vai trò của hợp đồng ngày càng được đề cao bởi nó tác động đến nhiều vấn đề kinh tế và xã hội ở các quốc gia. Chính phủ các quốc gia gồm các nước Asean cùng một số quốc gia Châu Á, trong đó có Việt Nam và các tổ chức quốc tế như: Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO) hay Quỹ quốc tế về phát triển nông nghiệp (IFAD) đều dành sự quan tâm đối hợp đồng sản xuất, liên kết sản xuất và tiêu HHNS trong nông nghiệp vì nó gắn liền với sinh kế của bộ phận lớn dân cư các quốc gia đang phát triển và sự đảm bảo an ninh lương thực toàn cầu.
Nghiên cứu của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO), xuất bản năm 2001: “Contract farming partnership for growth” [82] (hợp đồng canh tác hợp tác phát triển) của tác giả Charles Eaton và Andrew W.Shepherd: Hợp đồng trong nông nghiệp được xem như là một phương tiện tổ chức sản xuất đã có từ xa xưa trên thế giới. Ngày nay, sản xuất theo hợp đồng càng được sự quan tâm ở hầu hết các quốc gia và đang trở thành một yếu tố ngày càng quan trọng trong sản xuất, kinh doanh sản phẩm nông 7 luan an nghiệp. Vai trò của hợp đồng trong tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp tiếp tục được khẳng định trong nghiên cứu của tác giả Armelle Mazé “Multilateral- reputation mechanisms and contract law in agriculture: or substitutes?” [80] (Cơ chế đa phương – uy tín và luật hợp đồng trong nông nghiệp: bổ sung hay thay thế?), năm 2006, nghiên cứu đã chỉ ra: thực trạng chiếm ưu thế của các hợp đồng không chính thức đã dẫn đến các quốc gia có xu hướng điều chỉnh hợp đồng bằng các quy định pháp luật cụ thể. Tuy nhiên theo tác giả vai trò tổ chức thực thi hợp đồng tư nhân (CEI) như: hợp tác xã, hiệp hội tiếp thị, nhóm sản xuất, ban tự quản.
đang nổi lên như một cơ chế đa phương đảm bảo việc thực thi hợp đồng. Khi bàn đến HĐMBHHNS thì đa phần các nghiên cứu dựa trên đối tượng của hợp đồng là HHNS để phân loại với các hợp đồng khác, từ đó chỉ ra những đặc điểm đặc thù của HĐMBHHNS. Nghiên cứu của Caterina Pultrone, “An Overview of Contract Farming: Legal Issues and Challenges” [81] (Tổng quan về hợp đồng nông nghiệp: các vấn đề pháp lý và thách thức), năm 2012, đã làm nổi bật vai trò pháp lý trong các thỏa thuận hợp đồng. Các quốc gia khác nhau sẽ có các định nghĩa, khái niệm hợp đồng nông nghiệp khác nhau và luật điều chỉnh cũng theo những cách rất khác nhau.
Nhưng tựu chung lại, HĐMBHHNS là một loại hợp đồng có tính chất đặc thù ở đối tượng là HHNS – một loại hàng hóa phục vụ nhu cầu thiết yếu của con người, nguồn hàng chiếm tỷ trọng lớn trong GDP ở các nước đang phát triển. Cuốn sách của tác giả Neil D. Hamilton “Farmer’s Legal Guide to Production Contracts” [84] (Hướng dẫn pháp lý cho nông dân về hợp đồng sản xuất), năm 1995, đã bàn về mặt pháp lý của hợp đồng sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp. Theo đó, hợp đồng là một thỏa thuận ràng buộc về mặt pháp lý mà các bên phải tuân thủ để nhằm phát triển hoạt động sản xuất.
Tác giả đã phân tích mối quan hệ pháp luật trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, bản chất quan hệ pháp luật, rủi ro pháp lý và giải quyết các tranh 8 luan an chấp, cũng như sự tham của Chính phủ nhằm đảm bảo thực thi hợp đồng. Ở Việt Nam, tác giả Bảo Trung trong Luận án Tiến sĩ “Phát triển thể chế giao dịch nông sản ở Việt Nam” [51], năm 2009. Theo tác giả: thể chế sản xuất theo hợp đồng là những quy định về cấu trúc tổ chức, cơ chế vận hành của các hình thức sản xuất theo hợp đồng phải phù hợp với những cơ sở vật chất và điều kiện nhất định. Tác giả phân loại các thể chế giao dịch nông sản theo bản chất kinh tế của giao dịch gồm: thể chế giao ngay, thể chế sản xuất theo hợp đồng và thể chế giao sau.
Sản xuất theo hợp đồng là hình thức giao dịch nông sản nhằm gắn kết người nông dân sản xuất với người tiêu thụ sản phẩm mà hầu hết những nước có nền sản xuất nông nghiệp phát triển trên thế giới đang áp dụng và nước ta cũng đang hướng đến. Ở một vài khía cạnh cụ thể, các nghiên cứu khác đã chỉ ra một số đặc điểm của HĐMBHHNS, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến yếu tố về quan hệ hợp đồng nông nghiệp giữa hai bên chủ thể của hợp đồng là nông dân và doanh nghiệp. Jain trong nghiên cứu “Regulation and Dispute Settlement in Contract Farming in India” [83] (Nghiên cứu về quy chế và cách giải quyết tranh chấp hợp đồng nông nghiệp tại Ấn Độ), năm 2008, đã nêu ra những tồn tại mang tính hệ thống của liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp. Các công ty có xu hướng làm ăn với các nhà sản xuất quy mô lớn hoặc trung bình, còn những người sản xuất nhỏ không được quan tâm, trong khi phần lớn họ là nông dân nghèo và dân trí thấp.
Hệ quả là người nông dân càng thiếu thông tin đầy đủ về thị trường dẫn đến tình trạng “bất đối xứng thông tin” cùng với sự thiếu vắng hệ thống đăng ký hợp đồng càng làm bất lợi cho nông dân hơn. Nghiên cứu đã cho thấy cả hai bên – các công ty và những người nông dân có xu hướng bội ước trên hợp đồng, bất cứ khi nào các điều kiện thị trường, giá cả phù hợp với họ. Lý do có thể là từ phía công ty, họ thường từ chối các sản phẩm của người nông dân dựa trên cơ sở chất lượng nông sản, có khi là phi lý, giá cả đưa ra đặc biệt có thể là thấp hơn giá hợp đồng tại thời điểm thu hoạch hoặc chọn giải pháp chậm trễ trong việc thanh toán cho nông dân. Nhóm các nghiên cứu đề cập đến các nguyên tắc giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa nông sản HĐMBHHNS là một loại hợp đồng thương mại, dân sự.
Do đó, các nguyên tắc trong giao kết và thực hiện hợp đồng HĐMBHHNS không nằm ngoài các nguyên tắc cơ bản của luật hợp đồng đã được đề cập rất nhiều trong các tài liệu chuyên khảo, sách giáo trình về luật hợp đồng như: nguyên tắc tự do hợp đồng, nguyên tắc thiện chí, nguyên tắc áp dụng tập quán và thói quen ứng xử… Khi nhấn mạnh đến nguyên tắc tự nguyện và thiện chí trong giao kết và thực hiện HĐMBHHNS, cuốn sách của tác giả Carlos A da Silva, Marlo Rankin, “Contract Farming for inclusive market access”[79] (Hợp đồng nông nghiệp hướng đến tiếp cận thị trường), năm 2013, viết: Ngày nay các doanh nghiệp chế biến và bán lẻ hàng nông sản chịu áp lực cạnh tranh lớn về chi phí và thị trường, vì vậy một số doanh nghiệp đang phát triển theo hướng ký kết hợp đồng với nhà sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm. Vấn đề đặt ra là cơ chế nào có hiệu quả để đảm bảo thực thi hợp đồng với sự tham gia của nông dân. Trong mối quan hệ đó, nhiều trường hợp nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng được thi hành một cách tự nguyện vì danh tiếng hơn là do các ràng buộc về thủ tục pháp lý chặt chẽ. Quyển sách trình bày một loạt các trường hợp về thực hiện hợp đồng với nhiều mặt hàng trong bối cảnh của các quốc gia khác nhau.
Trong đó đề cập chức năng của hợp đồng và tiếp cận ở góc độ thể chế đa dạng ở các quốc gia trong sản xuất nông nghiệp gắn với tiếp cận thị trường. Nghiên cứu của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO) “Contract farming partnership for growth” [82] cũng đề cập vấn đề ở các nước nông nghiệp đang phát triển, thực tiễn thỏa thuận hợp đồng với nông dân thường được ký kết không chính thức hoặc chỉ bằng lời nói, khi tranh chấp phát sinh các bên thường không có khả năng tìm đến biện pháp giải quyết tại tòa án. Do vậy, việc tự nguyện thực hiện và kiểm soát tốt các yếu tố của hợp đồng sẽ có lợi cho cả hai bên. 10 luan an Đáng lưu ý khi đánh giá về nguyên tắc công bằng – một trong những nguyên tắc cốt lõi của pháp luật, nghiên cứu của HomeNet Thailand “Report on Contract Farming in Thailand”[107] (Báo cáo về hợp đồng nông nghiệp ở Thái Lan), năm 2012 cho thấy, ở góc độ luật pháp trên thực tế sự công bằng không được bảo đảm, người nông dân không có các quyền dân sự, thương mại mà họ bị buộc phải thực hiện các thỏa thuận một cách thụ động, các thiệt hại và rủi ro trong sản xuất thì hầu hết đều đẩy gánh nặng lên nông dân.
Tương tự như trên, trong nghiên cứu của tác giả Braja Bandhu về “The role of contract farming in agricultural development in globalise world: an institutional economics analysis”[101] (Vai trò của hợp đồng trong phát triển nông nghiệp toàn cầu hóa: một phân tích thể chế kinh tế), năm 2013, đã chỉ ra trong hợp đồng nông nghiệp, người nông dân luôn ở vị thế yếu và thường phải gánh chịu nhiều rủi ro hơn, làm giảm khả năng thương lượng của họ và đôi khi hợp đồng nông nghiệp trở thành công cụ chống lại họ.