Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, ngành công nghiệp luyện kim và vật liệu xây dựng đóng vai trò nền tảng trong việc cung cấp vật tư cho các công trình hạ tầng và các ngành sản xuất chế tạo. Tuy nhiên, năng lực sản xuất nội địa của ngành thép Việt Nam giai đoạn này còn bộc lộ nhiều hạn chế: các cơ sở trong nước mới chỉ đáp ứng được khoảng 20% nhu cầu phôi thép, nguyên liệu sản xuất phôi chủ yếu phải nhập khẩu, và toàn bộ các mặt hàng thép tấm, thép lá phục vụ công nghiệp phải nhập khẩu 100% từ nước ngoài. Trong bối cảnh đó, hoạt động nhập khẩu thép là mắt xích thiết yếu nhằm bù đắp sự thiếu hụt của thị trường nội địa.
Công ty Cổ phần Tổng Bách hoá (tiền thân là Công ty Bách hoá I trực thuộc Bộ Thương mại) sau khi thực hiện chuyển đổi mô hình sở hữu sang công ty cổ phần vào tháng 8 năm 2004 đã xác định kinh doanh xuất nhập khẩu, đặc biệt là nhập khẩu sắt thép và vật tư, là một trong những lĩnh vực mũi nhọn. Để đánh giá hiệu quả hoạt động và đề xuất giải pháp phát triển trong điều kiện mới, tác giả Nguyễn Văn Thông (Lớp Kinh tế Quốc tế 44) đã thực hiện chuyên đề nghiên cứu thực tập tại Phòng Kinh doanh tổng hợp I của Công ty với đề tài: “Hoạt động nhập khẩu thép của Công ty Cổ phần Tổng Bách hoá - Bộ Thương mại: Thực trạng và giải pháp”.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể như sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận chung về hoạt động nhập khẩu hàng hóa trong thương mại quốc tế, bao gồm vai trò, các hình thức nhập khẩu, quy trình thực hiện hợp đồng và các nhân tố ảnh hưởng.
- Phân tích, đánh giá thực trạng sản xuất, chính sách nhập khẩu thép của Việt Nam và tình hình hoạt động kinh doanh nhập khẩu sắt thép tại Công ty Cổ phần Tổng Bách hoá giai đoạn 2001 - 2005.
- Đánh giá những mặt đạt được, các tồn tại hạn chế trong hoạt động kinh doanh nhập khẩu thép của đơn vị, từ đó đề xuất dự báo và các nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu sắt thép tại Công ty.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động kinh doanh nhập khẩu mặt hàng sắt thép và quy trình tổ chức thực hiện tại doanh nghiệp thương mại.
- Phạm vi không gian: Phòng Kinh doanh tổng hợp I và các đơn vị trực thuộc Công ty Cổ phần Tổng Bách hoá; các thị trường cung ứng quốc tế chính (Đức, Nhật Bản, Trung Quốc, Singapore).
- Phạm vi thời gian: Tập trung khảo sát số liệu hoạt động sản xuất kinh doanh và kim ngạch xuất nhập khẩu trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2005 (trọng tâm là chuỗi dữ liệu 2002 - 2005).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết của chuyên đề dựa trên các nguyên lý cơ bản của kinh tế đối ngoại và kỹ thuật ngoại thương:
- Khái niệm và vai trò nhập khẩu: Nhập khẩu là quá trình mua hàng hoá và dịch vụ từ nước ngoài để phục vụ cho nhu cầu trong nước và tái nhập nhằm mục đích thu lợi nhuận, bổ sung nguồn lực trong nước thiếu hụt, chuyển giao công nghệ và tạo động lực cạnh tranh nâng cao chất lượng sản phẩm nội địa.
- Phân loại hình thức nhập khẩu: Bao gồm nhập khẩu trực tiếp (tự bỏ vốn, chủ động đàm phán, chịu rủi ro), nhập khẩu uỷ thác (thực hiện theo chỉ định của bên giao uỷ thác và nhận phí uỷ thác), gia công quốc tế (hai bên hoặc nhiều bên, hợp đồng thực chi thực thanh hoặc hợp đồng khoán) và nhập khẩu đổi hàng (buôn bán đối lưu).
- Quy trình nghiệp vụ nhập khẩu: Trình tự 4 bước chuẩn tắc gồm nghiên cứu thị trường (trong nước và quốc tế), lập phương án kinh doanh, giao dịch - đàm phán - ký kết hợp đồng, và tổ chức thực hiện hợp đồng (thuê phương tiện vận tải, mua bảo hiểm, làm thủ tục hải quan, tiếp nhận và kiểm tra hàng hóa, thanh toán quốc tế, xử lý khiếu nại).
- Hệ thống văn bản pháp quy và chính sách: Nghị định số 03/CP ngày 25/01/1996 của Chính phủ về Điều lệ tổ chức và hoạt động của Tổng Công ty Thép Việt Nam; Quyết định số 1553 QĐ/HĐQT ngày 21/8/1997 của Hội đồng quản trị Tổng Công ty Thép Việt Nam; Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) của ASEAN; Biểu thuế xuất nhập khẩu theo phân loại danh mục mã HS Chương 72 (Sắt và thép).
Phương pháp nghiên cứu được tác giả áp dụng bao gồm:
- Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu thứ cấp từ các phòng ban chức năng của doanh nghiệp (Phòng Kế toán tài chính, Phòng Tổ chức hành chính, Phòng Kinh doanh tổng hợp I) và các cơ quan quản lý ngành (Tổng Công ty Thép Việt Nam, Hiệp hội Thép Việt Nam).
- Phương pháp thống kê mô tả, phân tích cơ cấu, so sánh đối chiếu số liệu theo chuỗi thời gian (2000 - 2005) để chỉ ra xu hướng tăng trưởng, chuyển dịch tỷ trọng thị trường, cơ cấu chủng loại hàng hóa và biến động hiệu quả sử dụng vốn.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về nhập khẩu hàng hoá
Chương này trình bày toàn diện hệ thống lý luận về kinh tế thương mại quốc tế liên quan đến hoạt động nhập khẩu hàng hóa của doanh nghiệp.
Tác giả phân tích bốn hình thức nhập khẩu chủ yếu trong thương mại quốc tế:
- Nhập khẩu trực tiếp: Doanh nghiệp tự nghiên cứu thị trường, tự bỏ vốn, trực tiếp đàm phán ký kết hợp đồng và thực hiện toàn bộ thủ tục. Ưu điểm là tính chủ động cao về thời gian, địa điểm, điều kiện giao nhận; nhược điểm là đòi hỏi lượng vốn lớn và năng lực chuyên môn ngoại thương cao.
- Nhập khẩu uỷ thác: Hình thức giao dịch trung gian giữa đơn vị có nhu cầu nhập khẩu (có vốn ngoại tệ) và đơn vị có chức năng kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp; đơn vị nhận ủy thác hưởng phí hoa hồng và không phải chịu rủi ro vốn ban đầu.
- Gia công quốc tế: Hoạt động gắn liền với sản xuất, phân định dựa trên quyền sở hữu nguyên liệu (bên đặt gia công giao nguyên liệu hoặc bán đứt nguyên liệu), giá cả gia công (thực chi thực thanh hoặc hợp đồng khoán) và số bên tham gia (gia công hai bên hoặc nhiều bên).
- Nhập khẩu đổi hàng (đối lưu): Phương thức trao đổi hàng hóa cân bằng về giá trị, điều kiện giao nhận, kết hợp chặt chẽ giữa xuất khẩu và nhập khẩu.
Quy trình tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu được chi tiết hóa qua các công đoạn: lựa chọn phương thức thuê phương tiện vận tải (tàu bao cho hàng khối lượng lớn thường xuyên, tàu chuyến cho khối lượng lớn không thường xuyên, tàu chợ cho khối lượng nhỏ); nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa vận tải biển (bảo hiểm chuyến hoặc bảo hiểm bao); thủ tục hải quan 3 bước (khai báo hải quan, xuất trình hàng hóa, chấp hành quyết định thông quan); giao nhận hàng qua cảng biển; kiểm tra chất lượng giám định và thanh toán quốc tế (L/C, nhờ thu, chuyển tiền).
Các nhân tố tác động đến hoạt động nhập khẩu được chia thành hai nhóm: nhân tố bên trong (bộ máy quản trị, trình độ cán bộ nghiệp vụ, tiềm lực vốn và công nghệ) và nhân tố bên ngoài (môi trường chính trị - luật pháp, biến động tỷ giá hối đoái, cung cầu giá cả thị trường nội địa/thế giới, hạ tầng giao thông cảng biển và hệ thống dịch vụ ngân hàng - bảo hiểm).
Chương 2: Thực trạng hoạt động kinh doanh nhập khẩu sắt thép của Công ty Cổ phần Tổng Bách hoá
Chương 2 tập trung phân tích thực trạng ngành thép Việt Nam và đi sâu vào toàn bộ bức tranh hoạt động sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu của Công ty Cổ phần Tổng Bách hoá.
1. Bối cảnh ngành thép Việt Nam và chính sách quản lý
- Sản lượng và năng lực sản xuất: Theo Tổng Công ty Thép Việt Nam (VSC), các doanh nghiệp trong nước sản xuất khoảng 3 triệu tấn thép xây dựng/năm. Năng lực cán thép toàn ngành đạt khoảng 5,8 triệu tấn, trong khi nhu cầu tiêu thụ dao động từ 3,2 đến 3,4 triệu tấn. Cả nước có 20 nhà máy lớn thuộc Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) với tổng công suất trên 5 triệu tấn/năm (tiêu biểu như Gang thép Thái Nguyên 300.000 tấn/năm, Thép Miền Nam 400.000 tấn/năm, Pomina 300.000 tấn/năm, Vinakasai Hải Phòng 300.000 tấn/năm).
- Nguồn cung phôi và thép thành phẩm: Chỉ có 3 đơn vị sản xuất được phôi thép (Gang thép Thái Nguyên, Thép Miền Nam, Thép Đà Nẵng) với tổng sản lượng khoảng 700.000 tấn/năm, đáp ứng khoảng 20% nhu cầu sản xuất phôi trong nước. Năm 2005, nhu cầu phôi cho sản xuất thép xây dựng từ 3,4 đến 3,55 triệu tấn, dẫn đến việc phải nhập khẩu khoảng 80% lượng phôi thép. Thép tấm, thép lá phục vụ công nghiệp phải nhập khẩu hoàn toàn với khối lượng khoảng 3 triệu tấn/năm.
- Chính sách thuế và quản lý nhập khẩu: Nhà nước không quy định hạn ngạch nhập khẩu thép. Thuế suất nhập khẩu từ các nước Đông Nam Á theo chương trình CEPT phần lớn là 0% hoặc dưới 5% (trừ một số mặt hàng sắt thép mạ, tráng, phủ có mức thuế 5% - 20%). Tổng Công ty Thép Việt Nam quản lý hoạt động nhập khẩu phôi và thép chính phẩm của các đơn vị thành viên theo cơ chế xét duyệt phương án kinh doanh trong thời hạn 02 ngày làm việc.
2. Khái quát về Công ty Cổ phần Tổng Bách hoá
- Lịch sử và cơ cấu sở hữu: Doanh nghiệp thành lập từ năm 1957 với tên gọi Cục Bách hóa ngũ kim thuộc Bộ Nội Thương, qua các giai đoạn chuyển đổi thành Tổng Công ty Bách hóa (1986), Công ty Bách hóa I thuộc Bộ Thương mại (1995) và chính thức chuyển đổi sang Công ty Cổ phần Tổng Bách hóa theo Giấy phép kinh doanh số 0103005116 ngày 19/8/2004. Trụ sở chính đặt tại 38 Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Vốn điều lệ là 14 tỷ đồng, trong đó Nhà nước nắm giữ 49%, cán bộ công nhân viên nắm 48%, và bán cho đối tượng ngoài doanh nghiệp 3%.
- Cơ cấu tổ chức và nhân sự: Bộ máy quản trị gồm Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị (05 người), Ban Kiểm soát (03 người), Ban Tổng Giám đốc (02 người), 06 phòng ban nghiệp vụ (Tổ chức hành chính, Kế toán tài chính, Đầu tư kinh doanh tài chính, Kinh doanh kho đầu tư xây dựng, Kinh doanh tổng hợp I, Kinh doanh tổng hợp II) và 08 đơn vị/trung tâm trực thuộc. Năm 2004, tổng số lao động là 207 người (nữ chiếm 58%, nam chiếm 42%); trình độ Thạc sĩ đạt 12 người (5,8%), Đại học đạt 68 người (32,85%), Cao đẳng đạt 39 người (18,85%); độ tuổi từ 41-50 chiếm tỷ trọng lớn nhất với 48,3%.
| Chỉ tiêu kinh tế |
Năm 2000 |
Năm 2001 |
Năm 2002 |
Năm 2003 |
Năm 2004 |
Năm 2005 |
| Vốn kinh doanh (tỷ đồng) |
11,197 |
11,336 |
11,782 |
13,185 |
14,000 |
14,500 |
| Doanh thu (tỷ đồng) |
316,938 |
349,804 |
409,847 |
415,270 |
500,000 |
575,000 |
| Vòng quay Doanh thu/Vốn (lần) |
28,30 |
30,85 |
34,78 |
31,50 |
35,70 |
39,65 |
| Lợi nhuận trước thuế (tỷ đồng) |
1,011 |
0,923 |
1,196 |
0,822 |
2,885 |
3,800 |
| Nộp ngân sách (tỷ đồng) |
29,687 |
6,938 |
12,216 |
8,660 |
9,500 |
10,987 |
| Tổng số lao động (người) |
261 |
249 |
235 |
234 |
207 |
207 |
- Hoạt động kinh doanh kho và tài chính: Công ty quản lý 37.000 m² diện tích kho cho thuê, đạt doanh thu dịch vụ kho bình quân 575 triệu đồng/tháng (bao gồm gần 3.000 m² thuê lại tại Cảng Khuyến Lương). Đã xây dựng kho Hải Phòng tại xã An Dương với diện tích 3.000 m² (tháng 11/2004) và mở rộng thêm 1.000 m² (tháng 01/2005). Hoạt động huy động vốn nội bộ từ cán bộ công nhân viên đạt số dư nợ bình quân 16,8 tỷ đồng/tháng.
3. Thực trạng kinh doanh nhập khẩu sắt thép của Công ty
- Kim ngạch xuất nhập khẩu tổng thể: Kim ngạch XNK tăng trưởng từ 5,015 triệu USD (năm 2002) lên 9,040 triệu USD (năm 2005). Hoạt động nhập khẩu giữ vai trò chủ đạo tuyệt đối, luôn chiếm từ 99,5% đến 99,75% tổng kim ngạch XNK. Xuất khẩu chỉ chiếm tỷ trọng không đáng kể (dưới 2%), đạt 40.000 USD vào năm 2005 theo hình thức ủy thác qua các đơn vị trong nước.
- Cơ cấu mặt hàng nhập khẩu: Sắt thép là mặt hàng nhập khẩu lớn nhất của Công ty, tăng từ 2 triệu USD (chiếm 40% năm 2002) lên 5 triệu USD (chiếm 55,55% năm 2005). Mặt hàng phân bón đạt 3,5 triệu USD năm 2004 nhưng dừng nhập khẩu hoàn toàn vào năm 2005 do Nhà máy Đạm Phú Mỹ đi vào vận hành. Bột giấy tăng lên 2,5 triệu USD (chiếm 27,77% năm 2005).
| Nhóm mặt hàng |
2002 (tr USD) |
2002 (%) |
2003 (tr USD) |
2003 (%) |
2004 (tr USD) |
2004 (%) |
2005 (tr USD) |
2005 (%) |
| Sắt thép |
2,00 |
40,00 |
2,50 |
41,66 |
3,00 |
37,50 |
5,00 |
55,55 |
| Bột giấy |
1,00 |
20,00 |
1,50 |
25,00 |
1,00 |
12,50 |
2,50 |
27,77 |
| Phân bón |
1,50 |
30,00 |
1,75 |
29,16 |
3,50 |
43,75 |
0,00 |
0,00 |
| Mặt hàng khác |
0,50 |
10,00 |
0,25 |
4,18 |
0,50 |
6,25 |
1,50 |
16,68 |
| Tổng kim ngạch |
5,00 |
100,00 |
6,00 |
100,00 |
8,00 |
100,00 |
9,00 |
100,00 |
- Thị trường nhập khẩu sắt thép: Giai đoạn 2002 - 2005 chứng kiến sự chuyển dịch cơ cấu nguồn cung. Năm 2002, Đức là đối tác lớn nhất (chiếm 35%), tiếp theo là Nhật Bản (30%), Trung Quốc (20%) và Singapore (15%). Đến năm 2005, Trung Quốc vươn lên thành thị trường cung ứng sắt thép lớn nhất của Công ty đạt 2 triệu USD (chiếm 40%), Nhật Bản đạt 1,4 triệu USD (chiếm 28%), Đức đạt 1 triệu USD (chiếm 20%) và Singapore đạt 0,6 triệu USD (chiếm 12%).
| Thị trường cung cấp |
2002 (nghìn USD) |
2002 (%) |
2003 (nghìn USD) |
2003 (%) |
2004 (nghìn USD) |
2004 (%) |
2005 (nghìn USD) |
2005 (%) |
| Đức |
700 |
35,0 |
600 |
24,0 |
800 |
26,6 |
1.000 |
20,0 |
| Nhật Bản |
600 |
30,0 |
800 |
32,0 |
1.000 |
33,3 |
1.400 |
28,0 |
| Trung Quốc |
400 |
20,0 |
700 |
28,0 |
800 |
26,6 |
2.000 |
40,0 |
| Singapore |
300 |
15,0 |
400 |
16,0 |
400 |
13,5 |
600 |
12,0 |
| Tổng cộng |
2.000 |
100,0 |
2.500 |
100,0 |
3.000 |
100,0 |
5.000 |
100,0 |
- Cơ cấu chủng loại thép nhập khẩu: Các sản phẩm nhập khẩu chủ yếu gồm thép tấm, thép lá, thép cuộn cán nguội và thép cuộn cán nóng. Trong đó, thép tấm chiếm tỷ trọng cao nhất và tăng trưởng liên tục: từ 700 nghìn USD (chiếm 35% năm 2002) lên 2,5 triệu USD (chiếm 50% năm 2005). Thép lá đạt 1,1 triệu USD năm 2005 (chiếm 22%), thép cuộn cán nguội đạt 900 nghìn USD (chiếm 18%) và thép cuộn cán nóng đạt 500 nghìn USD (chiếm 10%).
| Chủng loại thép |
2002 (nghìn USD) |
2002 (%) |
2003 (nghìn USD) |
2003 (%) |
2004 (nghìn USD) |
2004 (%) |
2005 (nghìn USD) |
2005 (%) |
| Thép tấm |
700 |
35,0 |
900 |
36,0 |
1.200 |
40,0 |
2.500 |
50,0 |
| Thép lá |
600 |
30,0 |
700 |
28,0 |
900 |
30,0 |
1.100 |
22,0 |
| Thép cuộn cán nguội |
500 |
25,0 |
500 |
20,0 |
600 |
20,0 |
900 |
18,0 |
| Thép cuộn cán nóng |
200 |
10,0 |
400 |
16,0 |
300 |
10,0 |
500 |
10,0 |
| Tổng cộng |
2.000 |
100,0 |
2.500 |
100,0 |
3.000 |
100,0 |
5.000 |
100,0 |
- Hình thức và phương thức giao dịch: Nhập khẩu trực tiếp là hình thức căn bản, chiếm từ 70% đến 83,4% kim ngạch qua các năm (năm 2002 đạt 1,6 triệu USD; năm 2005 đạt 3,5 triệu USD). Nhập khẩu uỷ thác qua các đối tác trong nước (tiêu biểu như Công ty Xuất nhập khẩu HAPROSIMEX) chiếm 30% năm 2005 (đạt 1,5 triệu USD). Phương thức mua bán chủ yếu thực hiện theo điều kiện giá CIF, giao hàng tại Cảng Hải Phòng hoặc Cảng TP. Hồ Chí Minh.
| Hình thức nhập khẩu |
2002 (nghìn USD) |
2002 (%) |
2003 (nghìn USD) |
2003 (%) |
2004 (nghìn USD) |
2004 (%) |
2005 (nghìn USD) |
2005 (%) |
| Nhập khẩu trực tiếp |
1.600 |
80,0 |
1.900 |
76,0 |
2.500 |
83,4 |
3.500 |
70,0 |
| Nhập khẩu uỷ thác |
400 |
20,0 |
600 |
24,0 |
500 |
16,6 |
1.500 |
30,0 |
| Tổng cộng |
2.000 |
100,0 |
2.500 |
100,0 |
3.000 |
100,0 |
5.000 |
100,0 |
Chương 3: Dự báo và một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động kinh doanh nhập khẩu sắt thép tại Công ty
Dựa trên cấu trúc đề cương nghiên cứu, chương 3 tập trung vào việc dự báo nhu cầu thị trường và xây dựng các giải pháp hoàn thiện hoạt động kinh doanh nhập khẩu sắt thép của đơn vị:
- Dự báo nhu cầu và định hướng: Đánh giá triển vọng tiêu thụ thép phục vụ xây dựng hạ tầng và công nghiệp chế tạo tại thị trường nội địa; tính toán sự dịch chuyển của chính sách thuế quan khi Việt Nam thực hiện các cam kết cắt giảm CEPT và tiến trình gia nhập WTO.
- Nhóm giải pháp về nguồn hàng và thị trường: Duy trì mạng lưới đối tác cung ứng truyền thống có chất lượng kỹ thuật cao (Nhật Bản, Đức), đồng thời khai thác tối đa lợi thế về giá thành và chi phí vận tải đường biển từ thị trường Trung Quốc.
- Nhóm giải pháp về tài chính và vốn: Đa dạng hóa các kênh huy động vốn kinh doanh ngoài vốn điều lệ (14 tỷ đồng), mở rộng huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong cán bộ công nhân viên, quản trị rủi ro biến động tỷ giá và lãi suất ngân hàng.
- Nhóm giải pháp về tổ chức bộ máy và nhân sự: Bố trí nhân lực phù hợp với trình độ chuyên môn ngoại thương, nâng cao nghiệp vụ đàm phán hợp đồng, phân loại mã HS và làm thủ tục hải quan cho đội ngũ chuyên viên tại các phòng kinh doanh tổng hợp.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đã đưa ra các kết quả định lượng và phát hiện thực tiễn quan trọng:
- Phản ánh sự tăng trưởng nhanh chóng của quy mô kinh doanh tại Công ty Cổ phần Tổng Bách hoá sau cổ phần hóa: Doanh thu toàn công ty tăng từ 349,804 tỷ đồng (năm 2001) lên 575 tỷ đồng (năm 2005); hiệu suất quay vòng vốn đạt mức 39,65 lần năm 2005.
- Kim ngạch nhập khẩu thép tăng trưởng 2,5 lần trong 4 năm: từ 2 triệu USD (năm 2002) lên 5 triệu USD (năm 2005), nâng tỷ trọng sắt thép trong tổng cơ cấu hàng hóa nhập khẩu của công ty lên mức chi phối 55,55%.
- Xác định được sự thay đổi rõ rệt trong cơ cấu đối tác ngoại thương: thị phần nhập khẩu từ thị trường Trung Quốc tăng từ 20% (năm 2002) lên 40% (năm 2005) nhờ lợi thế giá cạnh tranh và chi phí vận chuyển thấp; thị trường Nhật Bản duy trì ổn định quanh mức 28% - 33,3%; thị trường Đức thu hẹp tỷ trọng tương đối từ 35% xuống còn 20%.
- Chỉ rõ nhóm sản phẩm thép tấm là mặt hàng mũi nhọn của đơn vị (đạt 2,5 triệu USD, chiếm 50% tổng kim ngạch thép nhập khẩu năm 2005), phù hợp với thực trạng thiếu hụt nguồn cung thép tấm trong nước.
Đóng góp thực tiễn của khóa luận là đã cung cấp một bản phân tích chi tiết về hoạt động ngoại thương mặt hàng kim khí tại một doanh nghiệp thương mại nhà nước vừa hoàn thành cổ phần hóa, chỉ ra mối liên hệ giữa chính sách quản lý ngành, biến động thuế quan CEPT và hiệu quả đàm phán mua hàng theo điều kiện CIF.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Đề tài tập trung chủ yếu vào hoạt động nhập khẩu hàng hóa do cơ cấu doanh thu ngoại thương của công ty phụ thuộc tới hơn 99% vào nhập khẩu; mảng xuất khẩu hàng hóa chỉ chiếm tỷ trọng dưới 2% (40.000 USD năm 2005) nên chưa được phân tích sâu.
- Nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp còn hạn hẹp (vốn điều lệ 14 tỷ đồng), doanh nghiệp phải dựa nhiều vào vốn huy động nội bộ (bình quân 16,8 tỷ đồng/tháng), tạo ra áp lực chi phí tài chính trong trường hợp biến động tỷ giá.
- Cơ cấu nhân sự có độ tuổi từ 41-50 chiếm tỷ lệ cao (48,3%) và tỷ lệ lao động nữ chiếm 58%, đòi hỏi nghiên cứu sâu hơn về tính phù hợp với đặc thù kinh doanh thương mại kim khí nặng.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Nghiên cứu mở rộng các phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (L/C) và giải pháp phòng ngừa rủi ro biến động tỷ giá ngoại tệ trong các hợp đồng nhập khẩu thép khối lượng lớn.
- Khảo sát khả năng phát triển hoạt động xuất khẩu trực tiếp các mặt hàng nông sản, thực phẩm để cân bằng cán cân thanh toán ngoại tệ của doanh nghiệp.
Giá trị tham khảo
Chuyên đề tốt nghiệp là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên và học viên ngành Kinh tế quốc tế, Kinh doanh quốc tế, Thương mại quốc tế: Tham khảo phương pháp xây dựng báo cáo thực tập chuyên ngành, kỹ thuật phân tích số liệu kim ngạch XNK, cấu trúc biểu thuế xuất nhập khẩu Chương 72 và nghiệp vụ thực hiện hợp đồng nhập khẩu CIF.
- Cán bộ quản trị và nhân viên nghiệp vụ xuất nhập khẩu ngành vật tư, thép: Tham khảo kinh nghiệm lựa chọn thị trường cung ứng (cân đối giữa chất lượng kỹ thuật từ Nhật Bản/Đức và ưu thế giá thành từ Trung Quốc), cách thức kết hợp giữa nhập khẩu trực tiếp và nhập khẩu ủy thác qua các đơn vị đầu mối chuyên ngành.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ cấu sở hữu và vốn điều lệ của Công ty Cổ phần Tổng Bách hoá sau khi cổ phần hóa được phân bổ như thế nào?
Theo giấy phép kinh doanh số 0103005116 cấp ngày 19/8/2004, Công ty có vốn điều lệ là 14 tỷ đồng. Trong đó, vốn Nhà nước nắm giữ chiếm 49% (tương đương 6,86 tỷ đồng), cán bộ công nhân viên trong công ty mua cổ phần chiếm 48% (tương đương 6,72 tỷ đồng), và vốn cổ phần bán cho đối tượng ngoài doanh nghiệp chiếm 3% (tương đương 420 triệu đồng).
2. Kim ngạch nhập khẩu thép của Công ty tăng trưởng như thế nào trong giai đoạn 2002 - 2005?
Tổng kim ngạch nhập khẩu thép của Công ty tăng liên tục qua các năm: đạt 2 triệu USD (năm 2002), 2,5 triệu USD (năm 2003), 3 triệu USD (năm 2004) và tăng lên 5 triệu USD (năm 2005), đạt mức tăng trưởng gấp 2,5 lần sau 4 năm.
3. Thị trường cung cấp thép nào chiếm tỷ trọng lớn nhất của Công ty vào năm 2005?
Năm 2005, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu thép lớn nhất của Công ty với giá trị đạt 2 triệu USD, chiếm 40% tổng kim ngạch nhập khẩu thép. Vị trí tiếp theo lần lượt là Nhật Bản (1,4 triệu USD - 28%), Đức (1 triệu USD - 20%) và Singapore (0,6 triệu USD - 12%).
4. Chủng loại thép nào chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu hàng thép nhập khẩu của đơn vị?
Thép tấm là mặt hàng chiếm tỷ trọng cao nhất và liên tục tăng trưởng: từ 700 nghìn USD (chiếm 35% năm 2002) lên 2,5 triệu USD (chiếm 50% tổng giá trị nhập khẩu thép của công ty vào năm 2005).
5. Điều kiện giao hàng và các cảng tiếp nhận hàng thép nhập khẩu của Công ty là gì?
Công ty thực hiện nhập khẩu thép chủ yếu theo điều kiện giá CIF (tiền hàng, bảo hiểm và cước phí), địa điểm giao nhận hàng hóa thực tế thường được chỉ định tại Cảng Hải Phòng hoặc Cảng TP. Hồ Chí Minh.
Kết luận
Chuyên đề tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Văn Thông đã phản ánh toàn diện thực trạng kinh doanh nhập khẩu sắt thép tại Công ty Cổ phần Tổng Bách hoá trong giai đoạn chuyển đổi cơ chế quản trị 2000 - 2005. Kết quả phân tích cho thấy sự tăng trưởng vượt bậc về quy mô kim ngạch nhập khẩu thép (đạt 5 triệu USD năm 2005) cùng sự chuyển dịch thị trường cung ứng hợp lý sang Trung Quốc và Nhật Bản nhằm đáp ứng nhu cầu vật liệu tấm, lá trong nước. Tài liệu cung cấp hệ thống số liệu thực tiễn và cơ sở lý luận ngoại thương giá trị cho công tác nghiên cứu nghiệp vụ kinh doanh xuất nhập khẩu ngành thép.