Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA NỘI BỘ Ở CÁC TRƯỜNG THCS ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu - Công tác KT luôn được Đảng và Nhà nước ta cọi trọng; trong công tác xây dựng Đảng, công tác LĐ của Đảng thì đó là một bộ phận rất quan trọng, những nội dung thể hiện tầm quan trọng của công tác KT được thể hiện như sau: + Công tác KT là một trong ba yếu tố quyết định sự thành công của công tác LĐ thực hiện đường đối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; đó là một bộ phận hợp thành của công tác LĐ, chỉ đạo và phục vụ thiết thực cho sự LĐ của Đảng, QL của Nhà nước. + KT góp phần bảo vệ tài sản của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, phòng ngừa và ngăn chặn kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật; góp phần phòng, chống bệnh quan liêu, tham nhũng, lãng phí; phòng, chống tham nhũng và phòng ngừa, những vi phạm khác. Quan điểm của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: LĐ, chỉ đạo, điều hành, QL mà thiếu sự KT thì đó là biểu hiện của sự quan liêu, dẫn đến nạn tham ô, lãng phí.
Trong tác phẩm “Sửa đổi lề lối làm việc” Người khẳng định, người LĐ phải “kiểm soát kết quả công việc của CB mình”. Người còn khẳng định: “Muốn chống bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy; muốn biết các Nghị quyết có được thi hành hay không, thi hành có đúng hay không; muốn biết ai ra sức làm, ai làm cho qua chuyện, chỉ có một cách là khéo kiểm soát” và “kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa KT khéo về sau nhất định khuyết điểm bớt đi”. Người cho rằng: “có KT mới huy động được tinh thần tích cực và lực lượng to tát của nhân dân, muốn biết rõ năng lực và khuyết điểm của CB, mới sửa chữa và giúp đỡ kịp thời”[24]. - Như vậy, theo quan điểm của Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh một trong những yếu tố, phương thức bảo đảm cho đường lối, chủ 6 trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước được thi hành nghiêm chỉnh là phải thực hiện tốt công tác KT, công tác KT gắn liền với QL và có vai trò hết sức quan trọng, nó là một bộ phận cốt lõi của công tác LĐ, QL.
Đồng thời, đối với việc phòng, chống bệnh quan liêu, nạn tham ô, lãng phí, tệ tham nhũng cũng như các hành vi vi phạm khác thì công tác KT trong HĐ QL của các cơ quan hành chính nhà nước là hết sức quan trọng, nó giúp nhà QL nắm bắt và phát hiện kịp thời những sai lệch trong thực thi công vụ của CB, công chức, viên chức nhà nước. - Ban Thanh tra đặc biệt của Chính phủ có nhiệm vụ giám sát tất cả các HĐ của UBND và các cơ quan của Chính phủ được thể hiện trong nội dung của Sắc lệnh số 64/SL ngày 23/11/1945 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký. Điều đó khẳng định rằng Đảng, Nhà nước ta luôn xác định vị trí quan trọng của HĐ thanh tra, KT trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước. - Chức năng KT là một trong các chức năng của QL: Chức năng kế hoạch, chức năng tổ chức, chức năng chỉ đạo, chức năng KT điều đó đã được các nhà khoa học QL ở trong nước cũng như trên thế giới nghiên cứu và công nhận.
Ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về thuật ngữ KT, điều đó làm cho thuật ngữ này ngày càng được bổ sung và hoàn thiện làm phong phú và sâu sắc bản chất của KT cả về mặt lý luận cũng như về mặt thực tiễn. - Nâng cao chất lượng công tác KT là một nhân tố mang tính chất quyết định để nâng cao hiệu lực của công tác QLGD, điều đó đã được rút ra từ kinh nghiệm của nước ta và các nước có nền GD phát triển trên thế giới; cần phải coi KT là một HĐ thiết yếu của các cơ quan QL nhà nước. Các nhà nghiên cứu ở nước ta và trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về lý luận khoa học GD, đặc biệt là về QLGD, trong đó phân tích về công tác KT trong GD. Nguyễn Ngọc Quang nghiên cứu về “Những khái niệm cơ bản về QLGD”; Đặng Quốc Bảo nghiên cứu về “Một số khái niệm về QLGD”; M.I Kônđacôp 7 người Nga nghiên cứu về “Cơ sở lý luận khoa học QLGD”; Trần Kiểm nghiên cứu về “Khoa học QLGD- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”… Những kiến thức được nghiên cứu và tổng hợp từ những công trình nghiên cứu đó là nhận thức quý báu, là cẩm nang giúp cho những nhà QLGD áp dụng tiếp tục nghiên cứu về mặt lí luận cũng như áp dụng vào thực tiễn QLGD nói chung, QL trường học nói riêng.
+ Một số biện pháp QL NT cũng như những nguyên tắc chung của công tác QL HĐ dạy học đã được tác giả Nguyễn Ngọc Quang, Hà Sỹ Hồ, Đặng Quốc Bảo nghiên cứu và tổng hợp trong tác phẩm của mình. Các tác giả đã chỉ ra rằng để duy trì, điều chỉnh HĐ của hệ QL đi đúng mục tiêu, kế hoạch thì một trong các biện pháp hiệu quả là thực hiện tốt công tác thanh tra, KTNB để đánh giá kết quả thực hiện trong từng giai đoạn nhất định. + Tác giả Hà Sỹ Hồ cho rằng: “Chức năng KT đặc biệt quan trọng vì quá trình QL đòi hỏi những thông tin chính xác, kịp thời về thực trạng của đối tượng QL, về việc thực hiện các quyết định đã đề ra, tức là đòi hỏi những liên hệ ngược chính xác, vững chắc giữa các phân hệ QL và phân hệ được QL…”; khẳng định “QL mà không KT thì QL sẽ ít hiệu quả và trở thành QL quan liêu”[20]. + Nhóm tác giả tác giả: Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Mỹ Lộc xác định: “KT là công việc gắn bó với sự đánh giá, tổng kết kinh nghiệm GD, điều khiển mục tiêu” [11].
- Về KTNB vẫn chưa có công trình nghiên cứu một cách cụ thể, sâu sắc về tổ chức HĐ KTNB ở các trường THCS đáp ứng yêu cầu ĐMGD theo tinh thần Nghị định 42 của Chính phủ và Thông tư 39 của BGD-ĐT mặc dù đã có một số luận văn nghiên cứu về: “Một số biện pháp QL công tác KTNB ở các trường THCS”; “Một số giải pháp QL nâng cao chất lượng công tác KTNB trường học”. - Những cơ sở khoa học trên là nguồn tài liệu quý để tác giả tham khảo cho quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài: ‘‘Tổ chức HĐ KTNB ở các trường THCS huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương đáp ứng yêu cầu đổi mới GD”. Khái niệm cơ bản của đề tài 1. Kiểm tra - KT là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét (Theo từ điển tiếng Việt); KT là một khái niệm rộng, về mặt thực tiễn và lý luận nó được thể hiện ở nhiều góc độ như sau: + Nhằm đảm bảo thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị, KT là HĐ thường xuyên của cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế.
Qua KT đánh giá đúng mực kết quả việc thực hiện, đề ra giải pháp, biện pháp HĐ tiếp theo đảm bảo phù hợp hơn. Ở đây ta thấy rằng, KT mang ý nghĩa nhìn nhận, xem xét để điều chỉnh các quyết định trong việc thực hiện nhiệm vụ để mang lại kết quả cao hơn, đạt hiệu quả tốt hơn. + Nhằm đánh giá toàn diện các mặt hoặc từng HĐ do cấp dưới đã thực hiện thì thủ trưởng cấp trên KT HĐ của cơ quan, tổ chức và cấp dưới của mình. Ở đây, KT thực hiện trong quan hệ trực thuộc, do đó sau khi KT cơ quan hoặc thủ trưởng cấp trên có quyền áp dụng các biện pháp như: Khi cấp dưới làm tốt công việc được giao thì biểu dương, khen thưởng hoặc khi cấp dưới có sai phạm, thực hiện không đúng nội quy của cơ quan hoặc quy định của pháp luật thì đưa ra các biện pháp để cưỡng chế và tiến hành xử lý.
+ Góp phần đưa toàn bộ hệ thống QL lên một trình độ cao hơn nhằm hoàn thành tốt những mục tiêu đã đặt ra thì khi thực hiện KT trong QL nói chung hay KT trong QLGD nói riêng cần phải xem xét tình hình thực tiễn, tiến hành đánh giá thực trạng đang diễn ra, khuyến khích những ưu điểm, phát hiện những thiếu sót để điều chỉnh kịp thời. + KT thông thường của thủ trưởng là HĐ KT được tiến hành trong một khoảng thời gian nhất định, không được tiến hành theo trình tự và thủ tục nhất định mà được tiến hành ngay sau quyết định QL. - Thanh tra là HĐ xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Kiểm tra nội bộ - KTNB trường học là việc xem xét, đánh giá HĐ GD, điều kiện dạy học, môi trường GD trong phạm vi QL NT; mục đích phát triển NT, phát triển sự nghiệp GD.
KTNB có tính chất bắt buộc, nó là một chức năng được tiến hành thường xuyên đối với tất cả đối tượng QL, quy trình tiến hành không thay đổi. - Thanh tra GD: Là thanh tra chuyên ngành về GD, thực hiện quyền thanh tra trong phạm vi QL nhà nước về lĩnh vực GD, nhằm bảo đảm cho việc thi hành các quy định về pháp luật, phát huy được những nhân tố tích cực, phòng ngừa và xử lý những hành vi vi phạm, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực GD. Trong QL cần nhận biết rõ ràng (Thanh tra GD và KTNB) như sau: + Giống nhau: Các HĐ thanh tra GD và KTNB được tiến thành thông qua HĐ quan sát, giám sát, phân tích, đánh giá các HĐ GD để có được thông tin xác thực, dựa trên các thông tin đó để đưa ra những biện pháp giúp đối tượng thực hiện tốt vụ được giao. + Khác nhau: Về tính chất, đối với thanh tra GD thì HĐ KT mang tính chất nhà nước của cơ quan QLGD cấp trên đối với cấp dưới; tính pháp lý của kết luận thanh tra GD cao.
Còn đối với KTNB thì thuộc về chức năng QL của người đứng đầu cơ sở GD, nó chỉ mang tính chất nội bộ, tính chất hành chính trong QL. - Về đối tượng: Đối tượng của thanh tra GD là bộ phận cấp dưới của đơn vị.