Chương 1 KHÁI NIỆM, VAI TRÒ, ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 1. Khái niệm, vai trò hoạt động giám sát của hội đồng nhân dân cấp huyện Theo Điều 113 Hiến pháp 2013: 1. HĐND là cơ quan quyền lực nhà nƣớc ở địa phƣơng, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phƣơng bầu ra, chịu trách nhiệm trƣớc Nhân dân địa phƣơng và cơ quan nhà nƣớc cấp trên 2. HĐND quyết định các vấn đề của địa phƣơng do luật định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phƣơng và việc thực hiện nghị quyết của HĐND [33].
HĐND là cơ quan nhà nƣớc mà tổ chức và hoạt động vừa mang tính chất cơ quan quyền lực nhà nƣớc, vừa mang tính đại diện cho cộng đồng dân cƣ nơi HĐND đƣợc bầu ra. HĐND đảm nhiệm vai trò là cơ quan đại diện cho nhân dân ở địa phƣơng, tham gia vào hoạt động quản lý Nhà nƣớc, quyết định các vấn đề quan trọng ở địa phƣơng. HĐND cũng thay mặt nhân dân kiểm soát hoạt động của các cơ quan Nhà nƣớc nh m bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân. Với vị trí, tính chất là cơ quan quyền lực nhà nƣớc ở địa phƣơng, cơ quan đại diện cho nhân dân địa phƣơng, HĐND cấp huyện có các chức năng: chức năng quyết định và chức năng giám sát.
Điều 1 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 quy định: HĐND thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của Thƣờng trực HĐND, Ủy ban nhân dân (UBND), Tòa án nhân dân (TAND), 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) cùng cấp; giám sát việc tuân thủ pháp luật của cơ quan nhà nƣớc, tổ chức y tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân ở địa phƣơng [31]. Để nhận thức đúng hoạt động giám sát của HĐND cấp huyện, trƣớc hết cần làm rõ khái niệm "giám sát". Trong các công trình nghiên cứu một số tài liệu, thuật ngữ "giám sát" đƣợc hiểu theo nhiều cách, từ nhiều góc độ khác nhau: - Có quan niệm cho r ng "giám sát" là: “Sự theo dõi, xem xét, làm đúng hoặc sai những điều đã quy định” [18, tr. - Quan niệm khác coi "giám sát là việc theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định không" [19, tr.
- Có ý kiến lại cho r ng: Giám sát là sự theo dõi, quan sát hoạt động mang tính chủ động, thƣờng xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động b ng các biện pháp tích cực để buộc và hƣớng hoạt động của các đối tƣợng chịu sự giám sát đi đúng quỹ đạo, quy chế nh m đạt đƣợc những mục đích, hiệu quả xác định từ trƣớc, bảo đảm cho pháp luật đƣợc tuân thủ nghiêm chỉnh [14, tr. Tuy cách diễn đạt và biểu hiện ý nghĩa của từ "giám sát" có khác nhau, nhƣng các quan niệm trên đều đề cập đến nội dung cơ bản: giám sát là việc theo dõi, xem xét và kiểm tra một chủ thể nào đó trong một công việc, lĩnh vực cụ thể đã thực hiện đúng hay chưa những điều đã quy định; từ đó có biện pháp điều chỉnh hoặc xử lý đối với những hành vi sai lệch, nhằm đạt được những mục đích, hiệu quả xác định từ trước, bảo đảm cho các quy định thực hiện đúng và đầy đủ. Với quan niệm trên “giám sát” có những đặc trƣng sau: - Giám sát dùng để chỉ các hoạt động theo dõi, xem xét, kiểm tra và đánh giá về một việc đã thực hiện đúng hoặc sai những điều đã quy định. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Giám sát luôn luôn gắn với một chủ thể nhất định, tức là phải trả lời câu hỏi là ngƣời hoặc tổ chức có quyền thực hiện việc theo dõi, xem xét, đánh giá về một việc đã đƣợc thực hiện đúng hoặc sai những điều đã quy định? - Giám sát luôn luôn gắn với một đối tƣợng nhất định tức là phải trả lời đƣợc câu hỏi giám sát ai và giám sát việc gì? Điều này có ý nghĩa quan trọng ở chỗ nó phân biệt giữa “giám sát” với “kiểm tra”.
Vì kiểm tra thì chủ thể hoạt động và đối tƣợng chịu sự tác động của hoạt động đó có thể đồng nhất với nhau, đó là việc tự kiểm tra lại hoạt động chính mình của chủ thể hoạt động. Giám sát thì không có sự đồng nhất này. Chủ thể thực hiện việc theo dõi, xem xét, đánh giá luôn luôn không thể đồng nhất với đối tƣợng chịu sự giám sát. - Giám sát phải thể hiện đƣợc quan hệ giữa chủ thể thực hiện hoạt động giám sát với đối tƣợng chịu sự giám sát, là quan hệ mang tính quyền lực.
Chủ thể có những quyền và nghĩa vụ gì khi thực hiện hoạt động giám sát và ngƣợc lại. - Giám sát luôn thể hiện tính chủ động trong hoạt động có mục đích đƣợc xác định trƣớc của chủ thể thực hiện hoạt động giám sát và hoạt động giám sát đƣợc thực hiện thƣờng xuyên theo một chƣơng trình kế hoạch nhất định. Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1983 đã chính thức sử dụng khái niệm "giám sát" để qui định chức năng giám sát của HĐND; Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1994, chức năng giám sát của HĐND đƣợc qui định đầy đủ, cụ thể hơn; Đặc biệt Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003, chức năng giám sát của HĐND đƣợc cụ thể hóa chi tiết tại Chƣơng III, nhƣng thuật ngữ "giám sát" không đƣợc pháp luật giải thích chính thức. Luật hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003, lần đầu tiên chính thức giải thích "giám sát " là gì.
Khoản 1 Điều 2 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội quy định: 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Giám sát là việc Quốc hội, Uỷ ban thƣờng vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thƣờng vụ Quốc hội [30, Điều 2, Khoản 1]. Nội dung giải thích "giám sát" nhƣ trên xác định những vấn đề quan trọng nhất của giám sát là: Chủ thể thực hiện giám sát (Quốc hội, các cơ quan, tổ chức của Quốc hội và các đại biểu Quốc hội); đối tƣợng chịu sự giám sát của Quốc hội (các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát của Quốc hội); cách thức tiến hành giám sát ("theo dõi, xem xét và đánh giá") và nội dung giám sát của Quốc hội (việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thƣờng vụ Quốc hội). Từ các quy định của Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 về hoạt động giám sát của HĐND, có thể khái quát hoạt động giám sát của HĐND bao gồm các nội dung chủ yếu: mục đích của giám sát của HĐND; chủ thể thực hiện quyền giám sát của HĐND; đối tƣợng thuộc quyền giám sát của HĐND; nội dung giám sát của HĐND; hình thức giám sát; các biện pháp pháp lý … Với những nội dung nhƣ trên của chức năng giám sát của HĐND trả lời cho các câu hỏi: giám sát để làm gì, vì ai, vì cái gì (mục đích giám sát); ai giám sát (chủ thể giám sát), giám sát ai (đối tƣợng giám sát); giám sát cái gì (nội dung giám sát); giám sát như thế nào (hình thức giám sát). Vì vậy, hoạt động giám sát của HĐND cấp huyện có thể đƣợc hiểu nhƣ sau: Hoạt động giám sát của HĐND cấp huyện là tổng thể các hoạt động của HĐND, của Thường trực HĐND, các Ban HĐND, đại biểu HĐND cấp huyện nhằm xem xét, theo dõi, kiểm tra, đánh giá việc chấp hành Hiến pháp, luật, pháp lệnh, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, các Nghị quyết của 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com HĐND trên các lĩnh vực của địa phương đối với các đối tượng chịu sự giám sát của HĐND cấp huyện; từ đó đưa ra các kết luận và phương án xử lý phù hợp để khắc phục những hạn chế, phát huy mọi tiềm năng, xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh; không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước.
Giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật… của HĐND cấp huyện là một trong những biện pháp cần thiết và không thể thiếu, có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền lực nhà nƣớc thuộc về nhân dân. Thông qua hoạt động giám sát của HĐND bảo đảm cho mọi hoạt động của các cơ quan nhà nƣớc, tổ chức và công dân đặt dƣới sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ của nhân dân địa phƣơng, nh m tăng cƣờng kỷ luật, kỷ cƣơng phép nƣớc, khắc phục tính cục bộ địa phƣơng, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái đạo đức, tham nhũng, quan liêu, sách nhiễu nhân dân trong bộ máy nhà nƣớc. Đây chính là điều kiện bảo đảm vững chắc cho quyền lực của nhân dân đƣợc thực hiện trong thực tế, là nh m thực hiện “chế ước quyền lực Nhà nước”. Hoạt động giám sát của HĐND bảo đảm cho Hiến pháp, pháp luật đƣợc tuân thủ thống nhất, nghiêm chỉnh trên phạm vi địa phƣơng và bảo đảm việc thực hiện các nghị quyết của HĐND.
Điều 3 Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 qui định, việc bảo đảm cho Hiến pháp, pháp luật đƣợc tuân thủ thống nhất, nghiêm chỉnh trên phạm vi địa phƣơng là nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phƣơng, trong đó chức năng giám sát của HĐND giữ một vai trò không thể thiếu. Theo quy định của Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 thì đối tƣợng, phạm vi, nội dung giám sát của HĐND rất rộng. HĐND có quyền giám sát hoạt động của tất cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân; giám sát mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội; giám sát tất cả các khâu từ xây dựng pháp 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com luật, tổ chức thực hiện pháp luật và áp dụng pháp luật ở địa phƣơng. Đây chính là cơ sở pháp lý thuận lợi nhất để HĐND phát huy vai trò của mình.
Qua hoạt động giám sát HĐND phát hiện kịp thời những việc làm sai trái của các cơ quan nhà nƣớc, của cán bộ, công chức nhà nƣớc… làm thiệt hại đến lợi ích nhà nƣớc, tập thể và công dân để yêu cầu chấm dứt hoặc đề nghị xử lý theo pháp luật.