chương I, Luật Hoạt động giám sát của Qu ốc h ội 2003, thuật ngữ giám sát được giải thích: giám sát là việc Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội theo dõi, xem xét, đánh giá ho ạt đ ộng của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc thi hành Hi ến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tại điểm 1, điều 2, Luật Hoạt động giám sát của Quốc Hội và HĐND 2015. Giám sát là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá ho ạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý. Giám sát của HĐND bao gồm giám sát của HĐND tại các kỳ họp, giám sát của Thường trực HĐND, các ban của HĐND, t ổ đại bi ểu HĐND và các đại biểu HĐND.
Vậy, theo quy định của Hiến pháp, Luật Tổ chức UBND và UBND qua các thời kỳ, Luật Hoạt động giám sát của Quốc H ội và HĐND 2015, kh ẳng định: giám sát là chức năng cơ bản của HĐND, với tư cách là cơ quan quyền 15 lực Nhà nước ở địa phương, HĐND có quyền áp dụng các biện pháp chế tài khác nhau - theo quy định của Hiến pháp, pháp luật - khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Từ đó, giám sát của HĐND cấp huyện có thể hiểu: là việc HĐND, thường trực HĐND, các ban của HĐND, tổ đại biểu HĐND và đ ại bi ểu HĐND theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của các c ơ quan, t ổ ch ức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND cấp huyện, từ đó đưa các kết luận và phương án xử lý phù hợp theo quy đ ịnh c ủa pháp luật nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế, vi phạm qua đó góp ph ần bảo đảm pháp chế , kỷ luật, kỷ cương trong quản lý nhà nước ở đ ịa phương, phát huy tiềm năng, xây dựng và phát triển kinh t ế, văn hóa - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với tỉnh và cả nước. Đặc điểm, vai trò giám sát của Hội đồng nhân dân c ấp huyện - Đặc điểm hoạt động giám sát của HĐND cấp huyện. Gồm các đặc điểm sau: Một là, giám sát của HĐND được thực hiện bởi chính HĐND và các cơ quan bên trong của HĐND (Thường trực HĐND, các ban của HĐND, tổ đại biểu HĐND) và đại biểu HĐND, đồng thời trong mối quan hệ với HĐND thì Thường trực HĐND, các ban của HĐND, tổ đại biểu HĐND, đại biểu HĐND cũng là khách thể giám sát của HĐND, nhưng xét trong mối quan hệ với các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thì Thường trực HĐND, các ban của HĐND, tổ đại biểu HĐND, đại biểu HĐND trở thành chủ thể giám sát.
Hai là, hoạt động giám sát của HĐND được thực hiện một cách toàn diện trên phạm vi địa phương, đối tượng giám sát là hoạt động của các cơ 16 quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện Hiến pháp, pháp luật, các chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn; hoạt động giám sát đa dạng: xem xét các báo cáo; chất vấn và trả lời chất vấn; xem xét các văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND cùng cấp, nghị quyết của HĐND cấp dưới; thành lập đoàn giám sát khi thấy cần thiết; thông qua tiếp xúc cử tri, tiếp công dân; bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với những gi ữ ch ức v ụ do HĐND cấp huyện bầu. Ba là, giám sát của HĐND cấp huyện luôn gắn với đối tượng chịu sự giám sát; đối tượng ấy, gồm: Thường trực HĐND, UBND, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp, các ban của HĐND, t ổ đại bi ểu HĐND, đại biểu HĐND cùng cấp; giám sát việc thực hiện nghị quy ết c ủa HĐND; giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật của các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân và công dân địa phương. Bốn là, Giám sát của HĐND cấp huyện mang tính quyền l ực nhà nước. Năm là, giám sát của HĐND cấp huyện được tiến hành dựa trên những căn cứ do Hiến pháp, pháp luật quy định.
Sáu là, giám sát của HĐND là hoạt động có mục đích, bảo đảm cho hoạt động của các đối tượng chịu sự giám sát được tiến hành đúng pháp luật, nghị quyết của HĐND được thực thi đầy đủ, nghiêm túc, có hiệu quả thiết thực và pháp luật được tuân thủ triệt để bởi các chủ thể pháp lu ật trên địa bàn lãnh thổ, đảm bảo các quyền, lợi ích hợp pháp c ủa công dân, tổ chức. - Vai trò hoạt động giám sát của HĐND cấp huyện. Trên cơ sở pháp lý, vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật: Hiến pháp 2013, Luật Tổ chức chính quyền địa 17 phương 2015, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND 2015; vai trò hoạt động của HĐND cấp huyện, gồm: Thứ nhất, Đảm bảo thật sự là cơ quan đại diện cho nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Điểm 1, điều 113, Hiến pháp 2013, khẳng định: “HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện v ọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa ph ương b ầu ra, ch ịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước c ấp trên”.
V ậy, nhiệm vụ xây dựng, củng cố HĐND ngày càng vững mạnh là nhiệm vụ cấp thiết và quan trọng hiện nay, vì có như thế HĐND mới làm tốt nhiệm vụ mà Nhân dân ủy thác. Quan điểm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân là quan điểm xuyên suốt của Đảng ta - ngay từ khi ngày thành lập đ ến nay - tr ải qua các kỳ đại hội, quan điểm đó ngày càng đ ược kh ẳng đ ịnh, trong Văn kiện Đại hội khóa XII của Đảng. Quan điểm của Đảng cũng được luật hóa trong Hiến pháp của nước ta từ Hiến pháp 1946 đến Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 (đã được sửa đổi bổ sung năm 2011) và Hiến pháp 2013. Cụ thể, tại điều 2, Hiến pháp 2013, khẳng định: “ (1) Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quy ền XHCN c ủa Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.
(2) N ước C ộng hòa XHCN Vi ệt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc v ề Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. (3) Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Quyền làm chủ của Nhân dân được thực hi ện thông qua bộ máy nhà nước, trước hết là thông qua cơ quan quyền lực nhà nước. Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà n ước, do đó ho ạt 18 động giám sát việc tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, nghị quyết của HĐND là việc đảm bảo quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân.
Nhân dân kiểm tra, giám sát thông qua hoạt động c ủa HĐND. Ho ạt động giám sát của HĐND đảm bảo cho mọi hoạt động của các cơ quan nhà nước ở địa phương, tổ chức và công dân nhằm tăng cường pháp ch ế, k ỷ luật, kỷ cương, khắc phục tính cục bộ, ngăn chặn, đ ẩy lùi tình tr ạng suy thoái đạo đức, tham nhũng, quan liêu, sách nhiễu nhân dân trong b ộ máy nhà nước, khắc phục những vi phạm, sai sót trong hoạt động của các c ơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân. Đây chính là điều kiện bảo đ ảm v ững chắc cho quyền lực của Nhân dân trong thực tế. Thứ hai, Đảm bảo việc thực hiện Hiếp pháp, pháp luật, Nghị quyết HĐND được chấp hành nghiêm chỉnh trên phạm vi địa phương.
Khoản 1, điều 8, Hiến pháp 2013, quy định: ”Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ”; t ại kho ản 1 và 2, điều 5, Luật chính quyền địa phương 2015, nêu rõ nguyên tắc tổ chức, hoạt động của chính quyền địa phương: ”Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng pháp luật; thực hiện nguyên t ắc t ập trung dân chủ. Hiện đại, minh bạch, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát c ủa Nhân dân” là một trong những nhiệm vụ, trách nhiệm của chính quy ền đ ịa phương, được đảm bảo bằng nhiều biện pháp, cách thức khác nhau, trong đó có hoạt động giám sát của HĐND. Thông qua hoạt động giám sát của HĐND giúp phát hi ện kịp th ời những việc làm trái quy định pháp luật của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức. làm thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, tập thể, của nhân dân, từ đó kịp thời sữa chữa, khắc phục sai phạm để bảo đảm quyền, l ợi ích của nhà nước, tập thể và của nhân dân.
Bên cạnh đó, thông qua giám 19 sát của HĐND kịp thời phát hiện những văn bản của cơ quan nhà nước ban hành trái với các quy định Hiến pháp, pháp luật và ngh ị quy ết c ủa HĐND; phát hiện những mâu thuẫn, chồng chéo giữa các văn bản pháp luật do các cơ quan nhà nước ở địa phương ban hành, để đình chỉ thực hiện, sửa đổi, bãi bỏ, tạo sự thống nhất trong hệ thống các văn bản pháp luật của chính quyền địa phương. Như vậy, hoạt động giám sát của HĐND có vai trò quan tr ọng trong việc đảm bảo tính nghiêm minh và thống nhất của pháp chế XHCN trên địa bàn và loại trừ những hành vi vi phạm Hiến pháp, pháp luật ở đại phương, vi phạm các quy định của chính quyền địa phương. Thứ ba, Tăng cường chất lượng của bộ máy chính quyền địa phương.