CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm giải trí công cộng Thuật ngữ giải trí xuất hiện khá phổ biến trong xã hội ta ngày nay. Giải thích về nó có lẽ xin bắt đầu từ cách hiểu của xã hội truyền thống: Theo Từ điển tiếng Việt (2005) thì “Giải trí là làm cho trí óc thảnh thơi, khỏi lo nghĩ” (tr.836), tức là làm cho tinh thần được sảng khoái, giảm bớt những căng thẳng về mặt trí não.
Đào Duy Anh (2016) quan niệm: “Giải trí là khi làm việc rỗi, làm cho trí não được khoan khoái”. Gần nghĩa với giải trí là tiêu khiển, “Tiêu khiển là làm cho khuây khỏa và tan biến sầu muộn” (tr. Theo cách giải nghĩa trên thì, giải trí là những hoạt động nhằm giúp con người giải tỏa được những căng thẳng trí não sau thời gian lao động. Đồng thời, giải trí là những hoạt động trong thời gian rỗi, hay hoạt động giải trí chính là những hoạt động vui chơi trong lúc con người rảnh rỗi.
Như vậy, thời gian rỗi và nhu cầu mong muốn được giải tỏa căng thẳng trí não, tìm sự sảng khoái tinh thần chính là hai điều kiện tiên quyết của hoạt động giải trí. Bên cạnh đó, hoạt động giải trí thường được đặt trong sự khu biệt và đối trọng với hoạt động làm việc. Thời gian rỗi để dành cho hoạt động giải trí là thời gian còn lại sau khi con người đã làm hết công việc nghĩa vụ, trách nhiệm và bổn phận của mình với bản thân, gia đình và xã hội. Lý giải về lý do tại sao con người cần phải giải trí, A.68) Có thể thấy, giải trí là những hoạt động để giải tỏa căng thẳng trí não, nhằm đạt tới sự vui thú, sảng khoái tâm hồn trong thời gian rỗi.
Giải trí không 19 phải là sự nghỉ ngơi thụ động (như đi ngủ), mà giải trí là sự hoạt động để làm cho tinh thần được sảng khoái. Nghĩa là, nó c ng vận động, nhưng sự vận động này không phải là sự lao động sản xuất vật chất, mà là quá trình sản xuất tinh thần. Chính vì lẽ đó, giải trí còn được xem như là sự chuyển trạng thái hoạt động; giải trí là sự nghỉ ngơi mang tính chủ động hành động, nhằm tạo ra niềm vui và sự sảng khoái tinh thần. Trong công trình nghiên cứu “Nhu cầu giải trí của thanh niên”, Đinh Thị ân Chi (2003) c ng đã phân tích: Là một nhu cầu của con người, nhu cầu giải trí c ng hàm chứa hai khía cạnh: khía cạnh sinh học - giải trí là những hoạt động nhằm giải tỏa sự căng thẳng trí não, giúp nó thư giãn, phục hồi khả năng hoạt động sau quá trình lao động mệt mỏi, để có thể tiếp tục làm việc; khía cạnh xã hội - mọi hoạt động của con người đều có mục đích, và bởi vậy, giải trí c ng nhằm mục đích mang lại cho cá nhân sự thư thái, sảng khoái và những khoái cảm thẩm mỹ, tạo điều kiện cho sự phát triển về trí tuệ và nhân cách.
Từ những quan điểm trên, chúng tôi cho rằng, nhu cầu giải trí không những chỉ mang yếu tố sinh học, giúp con người giải tỏa căng thẳng trí não, phục hồi sức khỏe tinh thần; hoặc mang yếu tố xã hội, giúp con người đạt mục đích thể hiện bản thân, mở rộng mối quan hệ sinh hoạt, giao tiếp, kết nối cộng đồng… mà còn là yếu tố văn hóa. Thông qua hoạt động giải trí, con người còn sáng tạo và sử dụng các biểu tượng để nâng cao đời sống văn hóa tinh thần, hướng tới các giá trị chân, thiện, mỹ. Ngoài ra, để phân biệt các loại hình giải trí cá nhân và công cộng, Nguyễn Khắc Viện (1994) quan niệm: “Giải trí không chỉ là nhu cầu của từng cá nhân, mà còn là nhu cầu của đời sống cộng đồng. Thuật ngữ “công cộng” trong đề tài được quan niệm là yếu tố thuộc về mọi người, của chung mọi người, mọi người đều được dùng chung.
Cho nên, chúng tôi xác định: giải trí công cộng là quá trình con người chủ động, tự do, tự nguyện sử dụng thời gian rỗi tham gia vào các hoạt động văn hóa chung của 20 cộng đồng, xã hội để giải tỏa những căng thẳng trí não, tìm sự vui thú, sảng khoái tâm hồn và nâng cao đời sống văn hóa tinh thần. - Chức năng giải trí công cộng Giải trí công cộng là một dạng hoạt động văn hóa. Do vậy, hoạt động này c ng chứa đựng những chức năng của văn hóa, bao gồm: chức năng nhận thức, chức năng giáo dục, chức năng điều tiết, chức năng giao tiếp. + Chức năng nhận thức: có thể thấy, thông qua các hoạt động giải trí như đọc sách, xem triển lãm, trò chơi, thưởng thức nghệ thuật… con người sẽ có được nhiều cơ hội để phát triển các năng lực cảm giác, cảm nhận về cái đ p qua thị giác, cái hay qua âm thanh, về sự nhanh nh n, nhạy bén hay khéo tay, tinh mắt qua các trò chơi, cuộc thi… đồng thời, trong lúc sáng tạo và sử dụng các ký hiệu mang tính biểu tượng từ các sản phẩm giải trí như sách, tranh, tượng, bài hát, điệu múa, vở diễn, trò chơi… như vậy, người chơi biết phân biệt được đâu là nghĩa thật, đâu là nghĩa biểu tượng (ý nghĩa) của các sự vật, hiện tượng đó, tức là rèn luyện được khả năng tri giác của mình để từ đó làm cơ sở cho sự phán đoán và hình thành, nâng cao dần năng lực nhận thức của bản thân.
Như vậy, qua các hoạt động giải trí, người dân có thể rèn luyện, nâng cao và phát triển khả năng nhận thức của bản thân mình ngày càng tốt hơn. + Chức năng giáo dục: hoạt động giải trí là hoạt động tự giác, cho nên chức năng giáo dục trong hoạt động giải trí c ng là do con người tự giáo dục bản thân mình thông qua hoạt động sáng tạo và sử dụng các sản phẩm văn hóa giải trí. Có thể thấy, trong quá trình sáng tạo ra các sản phẩm văn hóa, con người đã dựa trên những kết cấu thẩm mỹ nhất định để tạo nên các câu chuyện, bài ca, điệu múa, vở kịch… Mỗi sản phẩm ấy đều chứa đựng những nội dung nhất định nào đó, như là tình yêu quê hương đất nước, truyền thống, đạo lý, lịch sử hay cả những tri thức dân gian, kiến thức khoa học… mà con người mong muốn được bộc lộ, thể hiện và truyền đạt đến người tiếp nhận, hưởng thụ, tiêu dùng văn hóa. Tiếp đó, quá trình sử dụng các sản phẩm văn hóa giải trí c ng chính là quá trình con người tự học, tự nhận thức và tự rút ra được những thông tin, kiến thức, tình cảm nào đó do các sản phẩm văn hóa giải trí mang lại.
Những bài học về lịch sử, truyền thống, đạo lý, đạo đức cho tới các tri thức dân gian hay khoa học… có 21 được trong và sau những cuộc vui chơi giải trí đó giúp con người không ngừng bổ sung và hoàn thiện tri thức của bản thân, và làm giàu thêm cho kho tàng tri thức của xã hội. Mỗi sản phẩm của hoạt động vui chơi giải trí công cộng đích thực (tích cực) đều mang vác, chuyên chở những thông điệp hướng tới các giá trị tốt đ p cho con người, phù hợp với các chuẩn mực của xã hội. + Chức năng điều tiết: khi tham gia vào một hoạt động sáng tạo văn nghệ như sáng tác âm nhạc, người chơi có thể bắt đầu việc sáng tác từ nguồn cảm hứng chủ quan hoàn toàn của bản thân, để phác thảo nên các giai điệu, ca từ, mô típ âm nhạc… song, để có thể hoàn tất thành một ca khúc, người chơi phải quy nó về một thể điệu nào đó, với những yêu cầu mang tính nguyên tắc về nhịp nhạc, khuông nhạc, nốt nhạc mang tính hình thức và thể loại âm nhạc nhất định. Nhờ chức năng điều tiết này mà hoạt động giải trí công cộng luôn tạo cho con người có sự năng động, để chủ động thích nghi và điều chỉnh nhận thức, thái độ và hành vi của mình trong quá trình vui chơi, c ng như trong lao động sản xuất theo hướng phù hợp với những giá trị và chuẩn mực chung của xã hội.
+ Chức năng giao tiếp: hoạt động giải trí công cộng xuất phát từ nhu cầu giải trí của số đông người dân trong cộng đồng; cho nên, có thể khẳng định hoạt động này chính là cuộc vui chơi chung của cả cộng đồng. Thông qua các cuộc lễ hội, các cuộc thi, diễn văn nghệ, các buổi sinh hoạt câu lạc bộ, đội, nhóm sở thích với nhau…, nhiều người có thể được giao lưu, tiếp xúc với nhau và với cộng đồng, xã hội. Thông qua các cuộc giao tiếp đó, mỗi người được dịp bộc lộ, thể hiện những tài năng của mình trước nhiều người để tranh thủ tìm được sự ủng hộ, ngợi khen làm niềm vui thú đồng thời, từ đó khẳng định những giá trị của bản thân trước cộng đồng xã hội, nhằm thỏa mãn nhu cầu tự hoàn thiện và tạo dựng uy tín bản thân. Qua cuộc vui chơi công cộng này, mỗi người sẽ có thêm những người bạn mới, những câu chuyện mới, những tình cảm mới, từ đó mở rộng thêm những mối quan hệ cá nhân, nhóm xã hội mới, gắn kết cộng đồng với nhau, tạo nên những niềm vui chung, sức mạnh chung cho cả cộng đồng xã hội.
Khái niệm thiết chế văn hóa 22 Thiết chế văn hóa là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong ngành văn hóa ở nước ta kể từ những năm 1970 đến nay. Từ điển Bách khoa Việt Nam, Tập 4, (2003) định nghĩa: Thiết chế văn hóa được coi là một chỉnh thể văn hóa hội tụ đầy đủ các yếu tố: cơ sở vật chất, bộ máy tổ chức, nhân sự, quy chế hoạt động, nguồn kinh phí. Chỉ riêng ngôi nhà hoặc công trình văn hóa chưa đủ để gọi là thiết chế văn hóa.230) Trong tập bài giảng “Quản lý thiết chế văn hóa”, Nguyễn Hữu Thức cho rằng: Thiết chế là một tổ chức do con người lập ra có mối ràng buộc chặt chẽ ở bên trong giữa con người với công việc thông qua các quy tắc, quy định và điều kiện để thực hiện công việc theo ý muốn chủ quan của con người. Trong cuộc sống có các thiết chế: Thiết chế kinh tế, thiết chế văn hóa, thiết chế xã hội.
Có thể hiểu thiết chế là một tổ chức xã hội có kết cấu bên trong khá chặt chẽ. Nó ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu thường xuyên của con người, cho nên nó tồn tại bền vững trong đời sống xã hội.