Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học (mã số: 62317001) của nghiên cứu sinh Trịnh Đăng Khoa, thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Trần Ngọc Khánh, mang tiêu đề: "Hoạt động phục vụ giải trí công cộng của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh (Trường hợp bảo tàng, nhà hát, trung tâm văn hóa)". Công trình được bảo vệ và hoàn thành vào năm 2019.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong đời sống xã hội hiện đại, giải trí là nhu cầu thiết yếu thuộc đời sống tinh thần của con người. Cùng với quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ trương xã hội hóa văn hóa, khu vực tư nhân đã tham gia cung ứng ngày càng đa dạng các dịch vụ giải trí. Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào thị trường tư nhân, xã hội sẽ đối mặt với nguy cơ độc quyền, gia tăng giá thành dịch vụ, chạy theo lợi nhuận làm suy giảm chất lượng thẩm mỹ và bỏ rơi các nhu cầu giải trí chính đáng phi lợi nhuận của cộng đồng. Do đó, Nhà nước giữ vai trò thiết yếu trong việc quản lý, điều tiết và trực tiếp cung cấp các dịch vụ văn hóa công cộng qua các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập nhằm đảm bảo công bằng xã hội.

Thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, công tác tổ chức phục vụ giải trí công cộng của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập vẫn còn nhiều bất cập, chậm đổi mới phương thức hoạt động, nặng tính bao cấp hoặc thực hiện theo chỉ tiêu hành chính, chưa theo kịp nhu cầu đa dạng của người dân đô thị, dẫn đến tình trạng lãng phí nguồn lực công và hiệu quả hoạt động chưa tương xứng với tiềm năng.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án bao gồm:

  1. Góp phần làm rõ những vấn đề lý luận về hoạt động phục vụ giải trí công cộng của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập.
  2. Làm rõ cách thức tổ chức các hoạt động phục vụ giải trí công cộng của các đơn vị sự nghiệp công lập để chỉ ra những tồn tại, hạn chế.
  3. Đánh giá mức độ đáp ứng nhu cầu giải trí công cộng của công chúng tại các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập.

Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
  2. Làm rõ cơ sở lý luận về hoạt động phục vụ giải trí công cộng của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập.
  3. Khảo sát nhu cầu giải trí công cộng của người dân thành phố và đánh giá thực trạng hoạt động phục vụ giải trí công cộng tại bảo tàng, nhà hát, trung tâm văn hóa trên địa bàn nghiên cứu.
  4. Dự báo xu hướng vận động và phát triển của hoạt động phục vụ giải trí công cộng của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập.
  5. Đề xuất nhóm giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động phục vụ giải trí công cộng của các đơn vị này trong giai đoạn hiện nay.

Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu được xác lập gồm:

  • Câu hỏi 1: Thực trạng hoạt động phục vụ giải trí công cộng của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh như thế nào?
  • Câu hỏi 2: Vai trò quản lý của Nhà nước đối với hoạt động phục vụ giải trí công cộng của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh ra sao?
  • Câu hỏi 3: Cần có những giải pháp gì để nâng cao chất lượng phục vụ giải trí công cộng của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh?

Giả thuyết nghiên cứu tương ứng:

  • Giả thuyết 1: Các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện chưa hiệu quả hoạt động phục vụ giải trí công cộng; hoạt động chủ yếu theo chỉ tiêu, nhiệm vụ nhà nước giao mà chưa thực sự hướng tới tìm hiểu và đáp ứng nhu cầu giải trí của người dân và cộng đồng xã hội.
  • Giả thuyết 2: Công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động phục vụ giải trí công cộng còn nhiều tồn tại, hạn chế do hành lang pháp lý chưa hoàn chỉnh, thiếu quy định cụ thể về cơ chế tự chủ và xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực văn hóa.
  • Giả thuyết 3: Việc đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động đòi hỏi phải thực hiện cải cách căn bản về phương thức tổ chức, quản lý và đa dạng hóa hình thức cung ứng dịch vụ văn hóa công cộng.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động phục vụ giải trí công cộng của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát tập trung tại 15 đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập thuộc 3 nhóm thiết chế trên địa bàn 5 quận/huyện (gồm 3 quận nội thành: Quận 1, Quận 3, Quận 5; và 2 huyện ngoại thành: Củ Chi, Hóc Môn).
  • Phạm vi thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu hoạt động trong giai đoạn hiện nay, kết hợp góc nhìn lịch đại từ sau năm 1975 và đồng đại, trọng tâm từ năm 2014 đến thời điểm hoàn thành nghiên cứu (gắn liền với các mốc văn bản chính sách quan trọng: Nghị quyết số 33-NQ/TW năm 2014, Nghị quyết số 19-NQ/TW năm 2017 và Quyết định số 429/QĐ-TTg năm 2019).
Nhóm thiết chế Danh sách đơn vị được khảo sát cụ thể
Bảo tàng (05 đơn vị) 1. Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh
2. Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh
3. Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ
4. Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh
5. Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (TP.HCM)
Nhà hát (05 đơn vị) 1. Nhà hát Kịch thành phố
2. Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang
3. Nhà hát Nghệ thuật Hát bội Thành phố Hồ Chí Minh
4. Nhà hát Ca múa nhạc Dân tộc Bông Sen
5. Trung tâm Ca nhạc nhẹ Thành phố Hồ Chí Minh
Trung tâm Văn hóa (05 đơn vị) 1. Trung tâm Văn hóa Quận 1
2. Trung tâm Văn hóa Quận 3
3. Trung tâm Văn hóa Quận 5
4. Trung tâm Văn hóa huyện Củ Chi
5. Trung tâm Văn hóa huyện Hóc Môn

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trong và ngoài nước

Tác giả đã tổng hợp và phân loại các công trình nghiên cứu tiền nhiệm theo từng nhóm chủ đề:

  1. Nghiên cứu ngoài nước về văn hóa giải trí và dịch vụ công:

    • Về văn hóa giải trí và giáo dục giải trí: Công trình Giáo dục giải trí (2008) của Yu. Strel'tsov (Ю. Стрельцов) tiếp cận giải trí dưới góc độ giáo dục học, xem văn hóa giải trí là quá trình giáo dục, bồi dưỡng khai sáng và hoàn thiện nhân cách con người trong thời gian rỗi. Công trình Lý luận và kỹ thuật hoạt động văn hóa giải trí của A. D. Zharkov (А. Д. Жарков, 2006) phân tích giải trí như một hiện tượng xã hội đa chiều mang tính phi lao động sản xuất và được lựa chọn chủ động. Công trình Hoạt động văn hóa giải trí của V. M. Chizhikov và A. V. Chizhikov (В. М. Чижиков, А. В. Чижиков, 1998) xem phương pháp hoạt động giải trí như một hệ thống nguyên vẹn có sự tương tác biện chứng giữa chủ thể và khách thể.
    • Về dịch vụ công và đổi mới quản trị công: Nhóm tác giả V. Ari (2013) trong Đổi mới tổ chức trong các dịch vụ công cộng phân tích bối cảnh cắt giảm ngân sách buộc các dịch vụ công phải cải cách và ứng dụng công nghệ thông tin. Paul Joyce (1999) trong Quản lý chiến lược đối với dịch vụ công đề xuất các công cụ phân tích, hoạch định chiến lược cho khu vực công nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động mà không sao chép máy móc mô hình tư nhân.
  2. Nghiên cứu trong nước về văn hóa thời gian rỗi và nhu cầu giải trí:

    • Về văn hóa thời gian rỗi: Đoàn Văn Chúc trong Xã hội học văn hóa (1997b) luận giải mối quan hệ giữa thời gian rỗi, hoạt động rỗi và nhu cầu giải trí – tái nhận thức hiện thực theo phương thức thẩm mỹ thông qua các ký hiệu, biểu tượng nghệ thuật. Kỷ yếu hội thảo "Văn hóa thời gian rỗi" của Khoa Văn hóa học, Trường Đại học KHXH&NV TP.HCM (2012) làm rõ tính chất phát triển nhu cầu thể chất, nghệ thuật và tri thức trong thời gian tự do.
    • Về thực trạng nhu cầu và hoạt động giải trí đô thị: Đinh Thị Vân Chi trong Nhu cầu giải trí của thanh niên (2002b, 2003) phân tích mặt tích cực và hạn chế của các tụ điểm giải trí công cộng (khu vực nhà nước còn nặng tính kỳ dịp, khu vực tư nhân có xu hướng thương mại hóa). Đình Quang và các tác giả (2005) trong Đời sống văn hóa đô thị và khu công nghiệp Việt Nam khảo sát thực trạng thiếu hụt và phân bố không đều của các thiết chế văn hóa tại Hà Nội, Đà Nẵng, TP.HCM và Bình Dương. Phạm Duy Đức và tập thể tác giả (2004) trong Hoạt động giải trí ở đô thị Việt Nam hiện nay – Những vấn đề lý luận và thực tiễn đánh giá vai trò của các đơn vị sự nghiệp văn hóa (thư viện, bảo tàng, nhà văn hóa) và dự báo xu hướng giữ gìn bản sắc dân tộc trong giải trí đô thị.
  3. Nghiên cứu về các thiết chế văn hóa tại Thành phố Hồ Chí Minh:

    • Trần Ngọc Khánh (chủ biên, 2015) trong Nghiên cứu và xây dựng mô hình nhà văn hóa tại Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng, nhu cầu và tổ chức thực hiện phân tích bản chất, chức năng và chỉ ra sự thụ động trong việc đáp ứng nhu cầu nghe nhìn của người dân.
    • Viện Nghiên cứu Phát triển TP.HCM (2013, 2016) công bố các đề tài về hoạt động giải trí công cộng của thanh thiếu niên và hội thảo xây dựng thiết chế văn hóa hướng tới chất lượng sống đô thị, ghi nhận sự chênh lệch hưởng thụ văn hóa giữa nội thành và ngoại thành.
    • Huỳnh Quốc Thắng và Huỳnh Tuấn Kiệt (2016), Lê Thị Mỹ Hà (2016), Võ Tô Phương và Lê Thị Ngọc Hoa (2016) phân tích mối quan hệ giữa thiết chế văn hóa với văn hóa sống, sự phân hóa tiếp cận giải trí và mạng lưới khu vui chơi đô thị.
    • Các luận văn thạc sĩ văn hóa học của Nguyễn Công Hoan (2003) và Thái Thu Hoài (2005) nghiên cứu mô hình vui chơi giải trí thiếu nhi và giải trí công cộng tại các công viên văn hóa (Đầm Sen, Suối Tiên).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết

Mặc dù các công trình đi trước đã làm rõ khái niệm giải trí, văn hóa thời gian rỗi hoặc đi sâu vào từng thiết chế đơn lẻ (như nhà văn hóa hoặc công viên giải trí tư nhân), nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, đa diện và liên ngành về hoạt động phục vụ giải trí công cộng của toàn bộ hệ thống đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập chủ chốt (bảo tàng, nhà hát, trung tâm văn hóa) tại Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh chuyển dịch kinh tế - xã hội và đổi mới cơ chế quản lý công lập.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Hệ thống lý thuyết và khái niệm tiếp cận

Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên sự kết hợp của bốn hệ thống lý thuyết chuyên ngành:

  1. Lý thuyết nhu cầu: Dựa trên tháp nhu cầu của Abraham Maslow và quan điểm của các nhà nghiên cứu trong nước (Gia Hiền, Đinh Thị Vân Chi), luận án định vị nhu cầu giải trí là một bộ phận của nhu cầu tinh thần, thuộc các nấc thang bậc cao (giao tiếp xã hội, khẳng định uy tín, tự hoàn thiện). Nhu cầu này chỉ xuất hiện và phát triển khi các nhu cầu sinh học và an toàn cơ bản đã được đáp ứng.
  2. Lý thuyết thời gian rỗi và hoạt động rỗi: Tiếp cận quan điểm của Karl Marx và Đoàn Văn Chúc để xác định thời gian rỗi là quỹ thời gian tự do còn lại ngoài lao động và bổn phận tất yếu. Hoạt động rỗi (vui chơi, giải trí) là sự chuyển trạng thái mang tính chủ động, giải tỏa căng thẳng trí não và mang lại khoái cảm thẩm mỹ thông qua hệ thống ký hiệu biểu tượng.
  3. Lý thuyết hoạt động: Kế thừa luận điểm của L. S. Vygotsky và A. N. Leontiev về cấu trúc hoạt động (bao gồm chủ thể, đối tượng và mục đích hoạt động). Quá trình phục vụ giải trí công cộng được xem xét như sự tương tác giữa cán bộ văn hóa (chủ thể) sử dụng nguồn lực công để tạo tác, phân phối các sản phẩm văn hóa tinh thần (đối tượng) nhằm đáp ứng nhu cầu thưởng thức của công chúng (mục đích).
  4. Lý thuyết dịch vụ công: Kế thừa công trình của Chu Văn Thành (2004, 2007), Bùi Huy Khiên (2013), Phan Huy Đường (2016) để xác lập bản chất hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập: sử dụng nguồn lực công, phục vụ nhu cầu thiết yếu phi lợi nhuận, đảm bảo tính bình đẳng và công bằng xã hội.

Khái niệm công cụ

  • Giải trí công cộng: Quá trình con người chủ động, tự do, tự nguyện sử dụng thời gian rỗi tham gia vào các hoạt động văn hóa chung của cộng đồng, xã hội nhằm giải tỏa căng thẳng trí não, tìm sự vui thú, sảng khoái tâm hồn và nâng cao đời sống tinh thần. Hoạt động này chứa đựng 4 chức năng cơ bản: nhận thức, giáo dục, điều tiết và giao tiếp.
  • Thiết chế văn hóa: Chỉnh thể văn hóa hội tụ đầy đủ các yếu tố về cơ sở vật chất, bộ máy tổ chức, nhân sự, quy chế hoạt động và nguồn kinh phí; là môi trường bảo đảm cho các hoạt động sáng tạo, bảo quản, phân phối và tiêu dùng văn hóa.
  • Hoạt động phục vụ giải trí công cộng của đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập: Quá trình Nhà nước sử dụng nguồn lực công để tạo ra sản phẩm văn hóa, phục vụ nhu cầu giải trí chung của người dân, cộng đồng, xã hội theo nguyên tắc phi vụ lợi, đảm bảo sự công bằng và ổn định xã hội.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  1. Phương pháp khảo sát định lượng:
    • Mẫu khảo sát: $N = 317$ người (bao gồm người dân sử dụng dịch vụ và cán bộ, nhân viên đang công tác tại 15 thiết chế văn hóa).
    • Kỹ thuật chọn mẫu: Chọn mẫu phi xác suất theo hình thức mẫu thuận tiện tại thực địa.
    • Xử lý dữ liệu: Sử dụng phần mềm thống kê SPSS 20 để mã hóa dữ liệu, tính toán tần số, tỷ lệ phần trăm và lập bảng tương quan.
  2. Phương pháp khảo sát định tính (phỏng vấn sâu):
    • Mẫu phỏng vấn: $N = 30$ người (gồm 15 cán bộ quản lý thiết chế văn hóa và 15 người dân sử dụng dịch vụ).
    • Kỹ thuật thu thập: Phỏng vấn bán cấu trúc dạng trò chuyện mở, ghi âm trực tiếp có sự đồng ý của đối tượng để thu thập đánh giá chuyên sâu về năng lực phục vụ, khó khăn quản lý và nhu cầu thực tế.
  3. Phương pháp thống kê – so sánh: Thu thập và xử lý số liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê năm 2015 của Tổng cục Thống kê, báo cáo thường niên/đột xuất của Sở Văn hóa và Thể thao TP.HCM cùng các bảo tàng, nhà hát, trung tâm văn hóa; đối chiếu với số liệu kiểm kê, đếm số lượt khách thực tế tại chỗ.
  4. Phương pháp tiếp cận liên ngành: Kết hợp tri thức chuyên ngành Văn hóa học với Xã hội học, Tâm lý học, Hành chính học, Kinh tế học văn hóa và phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study trên 15 đơn vị).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương này tập trung xác lập hệ thống khái niệm, đặc điểm, phân loại hoạt động giải trí công cộng và khung lý thuyết nghiên cứu. Luận án phân tích vai trò thiết yếu của Nhà nước trong việc điều tiết và cung ứng dịch vụ văn hóa công cộng: Nhà nước chịu trách nhiệm cuối cùng trước xã hội về định hướng tư tưởng, bảo đảm quyền tiếp cận văn hóa bình đẳng cho các tầng lớp nhân dân và hạn chế các mặt tiêu cực của xu hướng thương mại hóa văn hóa.

Về cơ sở thực tiễn, tác giả tái hiện tiến trình biến đổi của chính sách văn hóa và hoạt động giải trí công cộng tại Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử:

  • Thời kỳ bao cấp (1975–1986): Hoạt động văn hóa do Nhà nước quản lý tuyệt đối từ sản xuất, bảo quản đến phân phối theo 9 luận điểm chỉ đạo của Đại hội Đảng lần thứ IV (1976), tập trung vào nhiệm vụ tuyên truyền chính trị, ca ngợi đấu tranh cách mạng, dẫn đến tính chất "đồng chất - đồng màu" và gánh nặng ngân sách.
  • Thời kỳ đổi mới (từ 1986 đến nay): Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) mở đầu cơ chế thị trường; Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (1998) khẳng định 5 quan điểm chỉ đạo xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và khởi xướng chủ trương xã hội hóa văn hóa; Đại hội Đảng lần thứ IX (2001), Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP và Quyết định số 581/QĐ-TTg (2009) đặt mục tiêu chuyển đổi các cơ sở công lập sang cơ chế cung ứng dịch vụ. Nghị quyết số 33-NQ/TW (2014) tiếp tục nhấn mạnh mục tiêu phát triển văn hóa và con người toàn diện.

Chương 2: Thực trạng hoạt động phục vụ giải trí công cộng của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 2 trình bày kết quả phân tích dữ liệu thực địa trên 3 nhóm thiết chế văn hóa công lập tại TP.HCM:

  1. Khối Bảo tàng (5 đơn vị khảo sát):

    • Nhu cầu của công chúng: Khách tham quan tìm kiếm sự kết hợp giữa học tập tri thức, trải nghiệm lịch sử và giải trí thị giác thư giãn.
    • Tổ chức hoạt động: Các bảo tàng như Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh, Bảo tàng Lịch sử, Bảo tàng Mỹ thuật đã nỗ lực đa dạng hóa hình thức trưng bày, triển lãm chuyên đề, tổ chức không gian tương tác.
    • Đánh giá thực trạng: Một số bảo tàng phát huy tốt việc thu hút khách du lịch trong và ngoài nước; tuy nhiên, hoạt động phục vụ giải trí vẫn còn đơn điệu, ứng dụng công nghệ nghe nhìn hiện đại còn hạn chế, các dịch vụ bổ trợ phục vụ nhu cầu thư giãn tại chỗ chưa được đầu tư đồng bộ.
  2. Khối Nhà hát (5 đơn vị khảo sát):

    • Nhu cầu của công chúng: Nhu cầu thưởng thức nghệ thuật biểu diễn (kịch nói, cải lương, hát bội, ca múa nhạc dân tộc) đòi hỏi chất lượng nghệ thuật cao và không gian sân khấu đạt chuẩn.
    • Tổ chức hoạt động: Các nhà hát (Nhà hát Kịch TP, Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang, Nhà hát Nghệ thuật Hát bội, Nhà hát Bông Sen, Trung tâm Ca nhạc nhẹ) duy trì các suất diễn định kỳ, phục vụ nhiệm vụ chính trị và tham gia các hội diễn.
    • Đánh giá thực trạng: Tình trạng khan hiếm kịch bản có giá trị cao, cơ sở vật chất rạp diễn xuống cấp hoặc thiếu rạp đạt chuẩn; sự cạnh tranh gay gắt từ các sân khấu xã hội hóa và phương tiện truyền thông trực tuyến khiến lượng khán giả mua vé tại một số nhà hát truyền thống suy giảm.
  3. Khối Trung tâm Văn hóa (5 đơn vị khảo sát):

    • Nhu cầu của công chúng: Cư dân đô thị và vùng ven có nhu cầu sinh hoạt câu lạc bộ, rèn luyện thể chất, học năng khiếu và tham gia hội diễn phong trào.
    • Tổ chức hoạt động: Mạng lưới Trung tâm Văn hóa Quận 1, 3, 5, Hóc Môn, Củ Chi duy trì các lớp bồi dưỡng năng khiếu, hội thi văn nghệ quần chúng và chiếu phim lưu động.
    • Đánh giá thực trạng: Sự chênh lệch rõ rệt về điều kiện cơ sở vật chất và mức độ thụ hưởng giữa các quận trung tâm và huyện ngoại thành; nội dung hoạt động còn mang nặng tính hành chính, phong trào kỳ dịp, chưa khai thác hết công năng phục vụ nhu cầu vui chơi tự do thường nhật của người dân.

Chương 3: Nhận định và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động phục vụ giải trí công cộng của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập trong giai đoạn hiện nay

Nội dung chương 3 tập trung vào ba phần chính:

  1. Nhận định các mặt tồn tại và vấn đề đặt ra:
    • Tồn tại: Cơ chế quản lý tài chính và nhân sự còn xơ cứng; mức độ tự chủ tài chính còn thấp; cơ sở vật chất thiếu đồng bộ; chất lượng nguồn nhân lực chuyên môn và quản trị dịch vụ văn hóa chưa đáp ứng yêu cầu kinh tế thị trường; tư duy phục vụ còn mang tính thụ động "chờ chỉ tiêu".
    • Vấn đề đặt ra: Mâu thuẫn giữa thực hiện nhiệm vụ chính trị - xã hội phi lợi nhuận với yêu cầu tự chủ tài chính; bài toán đảm bảo công bằng trong thụ hưởng văn hóa giữa nội thành và ngoại thành.
  2. Kinh nghiệm quốc tế và xu hướng biến đổi:
    • Tổng kết kinh nghiệm phát triển chính sách văn hóa và giải trí công cộng ở một số quốc gia.
    • Chỉ ra xu hướng đổi mới phương thức cung ứng dịch vụ văn hóa tại Việt Nam theo hướng chuyên nghiệp hóa, đa dạng hóa nguồn lực xã hội và chuyển đổi số.
  3. Hệ thống giải pháp khuyến nghị:
    • Nhóm giải pháp về tổ chức hoạt động: Đổi mới nội dung, hình thức sản phẩm giải trí công cộng theo hướng tích hợp đa năng; tăng cường ứng dụng công nghệ; xây dựng chương trình tương tác phục vụ từng nhóm đối tượng công chúng (đặc biệt là thanh thiếu niên).
    • Nhóm giải pháp về quản lý hoạt động: Hoàn thiện thể chế và cơ chế tự chủ cho đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập; đẩy mạnh xã hội hóa theo hướng đối tác công - tư (PPP); chuẩn hóa công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý văn hóa; xây dựng tiêu chí đánh giá hiệu quả phục vụ dựa trên mức độ hài lòng của cộng đồng.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về lý luận

  1. Hệ thống hóa và xác lập khung lý thuyết hoàn chỉnh về hoạt động phục vụ giải trí công cộng của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập tại Việt Nam trên cơ sở tích hợp lý thuyết nhu cầu, lý thuyết thời gian rỗi, lý thuyết hoạt động và lý thuyết dịch vụ công.
  2. Làm rõ bản chất, đặc điểm, chức năng (nhận thức, giáo dục, điều tiết, giao tiếp) của hoạt động giải trí công cộng và định vị dịch vụ văn hóa sự nghiệp công lập như một dạng hàng hóa công cộng phi vụ lợi do Nhà nước giữ vai trò chủ đạo.

Đóng góp mới về thực tiễn

  1. Cung cấp bức tranh toàn diện, có căn cứ khoa học từ dữ liệu khảo sát thực địa ($N = 317$ phiếu định lượng và $N = 30$ phỏng vấn sâu) về thực trạng tổ chức và nhu cầu giải trí công cộng tại 15 thiết chế đại diện (bảo tàng, nhà hát, trung tâm văn hóa) ở Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Chỉ ra các mâu thuẫn cốt lõi và rào cản trong cơ chế quản lý, phân bổ nguồn lực công và chất lượng cung ứng dịch vụ văn hóa công cộng giữa khu vực nội thành và ngoại thành.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ có tính khả thi về tổ chức và quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động, đổi mới cơ chế tự chủ và đáp ứng tốt hơn nhu cầu đời sống văn hóa của cư dân đô thị TP.HCM.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn về nguồn lực tài chính, thời gian và khả năng tiếp cận toàn diện hệ thống cơ sở dữ liệu lưu trữ, luận án lựa chọn phương pháp nghiên cứu trường hợp trên 15 đơn vị sự nghiệp công lập thuộc 3 loại hình (bảo tàng, nhà hát, trung tâm văn hóa) tại 5 quận/huyện của TP.HCM; chưa thể bao quát toàn bộ mạng lưới thiết chế văn hóa công lập khác (như thư viện, rạp chiếu phim nhà nước, trung tâm thể dục thể thao).
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi khảo sát sang các loại hình đơn vị sự nghiệp công lập khác hoặc so sánh đối chiếu mô hình phục vụ giải trí công cộng giữa TP.HCM với các đô thị lớn khác trong cả nước và trong khu vực.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu thực chứng cho Sở Văn hóa và Thể thao TP.HCM, các cơ quan ban ngành trong việc xây dựng đề án đổi mới cơ chế quản lý, quy hoạch mạng lưới đơn vị sự nghiệp công lập theo tinh thần Nghị quyết số 19-NQ/TW và Quyết định số 429/QĐ-TTg.
  • Đối với các đơn vị sự nghiệp văn hóa (bảo tàng, nhà hát, trung tâm văn hóa): Gợi mở các giải pháp cụ thể về cải tiến quy trình tổ chức hoạt động, đa dạng hóa sản phẩm giải trí và nâng cao năng lực phục vụ công chúng.
  • Đối với nghiên cứu và giảng dạy: Là tài liệu tham khảo chuyên khảo giá trị cho giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh các chuyên ngành Văn hóa học, Quản lý văn hóa, Xã hội học văn hóa và Hành chính công.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án nghiên cứu cụ thể bao nhiêu đơn vị sự nghiệp văn hóa tại Thành phố Hồ Chí Minh?

Luận án tiến hành khảo sát thực địa tại 15 đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập, được chia đều thành 3 nhóm (mỗi nhóm 5 đơn vị) thuộc 5 quận/huyện (Quận 1, Quận 3, Quận 5, Huyện Củ Chi, Huyện Hóc Môn), bao gồm:

  • 5 bảo tàng: Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh, Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM, Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ, Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh TP.HCM, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam.
  • 5 nhà hát: Nhà hát Kịch TP, Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang, Nhà hát Nghệ thuật Hát bội TP.HCM, Nhà hát Bông Sen, Trung tâm Ca nhạc nhẹ TP.HCM.
  • 5 trung tâm văn hóa: Trung tâm Văn hóa Quận 1, Quận 3, Quận 5, Huyện Củ Chi và Huyện Hóc Môn.

2. Kích thước mẫu và phương pháp xử lý dữ liệu khảo sát trong luận án được thực hiện ra sao?

Nghiên cứu sử dụng phương pháp khảo sát kết hợp:

  • Mẫu định lượng gồm 317 người (người dân sử dụng dịch vụ và cán bộ, nhân viên tại 15 thiết chế) thu thập theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện phi xác suất và được xử lý bằng phần mềm SPSS 20.
  • Mẫu định tính gồm 30 cuộc phỏng vấn sâu bán cấu trúc (15 cán bộ quản lý và 15 người dân sử dụng dịch vụ) có ghi âm và phân tích nội dung.

3. Những khung lý thuyết khoa học nền tảng nào được tác giả sử dụng?

Tác giả sử dụng 4 lý thuyết chính:

  • Lý thuyết nhu cầu (Abraham Maslow, Gia Hiền, Đinh Thị Vân Chi).
  • Lý thuyết thời gian rỗi và hoạt động rỗi (Karl Marx, Đoàn Văn Chúc).
  • Lý thuyết hoạt động (L. S. Vygotsky, A. N. Leontiev).
  • Lý thuyết dịch vụ công (Chu Văn Thành, Bùi Huy Khiên, Phan Huy Đường).

4. Bốn chức năng cơ bản của hoạt động giải trí công cộng được luận án xác định là gì?

Luận án xác định giải trí công cộng chứa đựng 4 chức năng văn hóa cốt lõi:

  • Chức năng nhận thức: Rèn luyện tri giác, cảm thụ cái đẹp và bồi dưỡng tri thức.
  • Chức năng giáo dục: Tự giáo dục, hoàn thiện nhân cách hướng tới các giá trị chân - thiện - mỹ.
  • Chức năng điều tiết: Điều chỉnh nhận thức, thái độ và hành vi phù hợp với chuẩn mực xã hội.
  • Chức năng giao tiếp: Kết nối cá nhân với cộng đồng, mở rộng giao lưu xã hội.

5. Những nguyên nhân chính nào khiến hoạt động của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập tại TP.HCM chưa đạt hiệu quả cao?

Theo phân tích của luận án, nguyên nhân bao gồm: cơ chế quản lý tài chính và biên chế nhân sự còn chậm đổi mới; cơ sở vật chất chưa đồng bộ và xuống cấp; sản phẩm văn hóa chưa bắt kịp thị hiếu đa dạng của công chúng; tư duy tổ chức còn mang nặng tính hành chính - bao cấp và sự chênh lệch nguồn lực đầu tư giữa khu vực nội thành và ngoại thành.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Trịnh Đăng Khoa là công trình khoa học chuyên ngành Văn hóa học nghiên cứu toàn diện về hoạt động phục vụ giải trí công cộng của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh. Thông qua việc kết hợp liên ngành giữa văn hóa học, xã hội học và quản lý công cùng nguồn dữ liệu khảo sát thực tế trên 15 thiết