Chương 1: Những vấn đề lý luận về hoạt động của các tổ chức đại diện tập thể QTG, QLQ. Chương 2: Cơ sở pháp lý, phạm vi và thực trạng hoạt động của các tổ chức đại diện tập thể QTG, QLQ tại Việt Nam. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức đại diện tập thể QTG, QLQ tại Việt Nam. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC ĐẠI DIỆN TẬP THỂ QUYỀN TÁC GIẢ, QUYỀN LIÊN QUAN 1.
Khái niệm và đặc điểm về hoạt động của các tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan 1. Khái niệm và đặc điểm quyền tác giả, quyền liên quan 1. Khái niệm và đặc điểm quyền tác giả a. Khái niệm quyền tác giả Trong suốt chiều dài lịch sử của nền văn minh nhân loại, sự giàu có dựa vào chiếm hữu tài sản vất chất, đất đai, lao động và tiền vốn đã từng là tiêu chuẩn so sánh tình trạng phát triển kinh tế.
Tuy nhiên, ngày nay quan niệm này đã thay đổi, tài sản dựa vào tri thức đã trở thành nguồn của cải mới, là động lực mới tạo ra sự thịnh vượng trong xã hội. Nền kinh tế được xây dựng bằng gạch vữa đang được thay thế bằng nền kinh tế của những ý tưởng, trong đó SHTT nói chung, QTG, QLQ nói riêng trở thành một trong các loại tài sản chủ yếu. Ông Kamil Idrid, nguyên Tổng Giám đốc Tổ chức SHTT thế giới (WIPO) đã nói: “Trong nền kinh tế mới, sự thịnh vượng được tạo ra thông qua sáng tạo và nắm bắt giá trị của tri thức” [34, tr. Những thành quả do trí tuệ con người tạo ra thông qua hoạt động sáng tạo, với hàm lượng chất xám của lao động được kết tinh ở các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được thừa nhận là tài sản và được gọi là tài sản trí tuệ.
Sở hữu tài sản trí tuệ thường được gọi là SHTT. SHTT là phạm trù rộng bao gồm các lĩnh vực khác nhau như QTG, QLQ, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng. QTG là một trong những quyền con người được ghi nhận trong Tuyên ngôn chung về nhân quyền của Liên hợp quốc ngày 10/12/1948. QTG có quá trình hình thành, phát triển từ cách đây hơn 300 năm, bắt nguồn từ phán quyết của Toà án nước Anh về độc quyền in ấn của Công ty Stationer.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo đó, hệ thống luật án lệ đã có bước phát triển đầu tiên về QTG khi vào năm 1710, Nghị viện Anh đã ban hành đạo luật Anne nhằm kiểm soát hoạt động in ấn độc quyền. Đạo luật này đã tạo ra bước ngoặt cơ bản ở việc trao quyền in ấn tác phẩm cho tác giả, với thời hạn bảo hộ QTG là 14 năm và có thể được gia hạn 14 năm tiếp theo. “Thời kỳ đầu tiên, QTG chỉ liên quan đến các tác phẩm in ấn và độc quyền của tác giả chỉ giới hạn ở quyền xuất bản và bán những ấn phẩm đó. Sau đó, phạm vi các tác phẩm được bảo hộ và các quyền của tác giả đều được mở rộng” [47, tr.
Cùng với hệ thống luật án lệ, hệ thống luật thành văn cũng hình thành các quy định về QTG, bắt nguồn từ cuộc cách mạng tư sản Pháp năm 1789. “Với cách tiếp cận từ các quyền tự nhiên, quyền đối với tác phẩm được coi là loại quyền “đặc biệt” của các cá nhân là tác giả của tác phẩm được sáng tạo từ lao động của tư duy, đó là quyền sở hữu riêng tư và thiêng liêng đối với tác phẩm” [18, tr. Với tư cách là một trong những quyền con người, QTG được hiểu là các độc quyền của tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học do họ sáng tạo ra. Các quyền này được pháp luật của các quốc gia trên thế giới ghi nhận và bảo hộ.
Trong một số công trình nghiên cứu hoặc bài nói, bài phát biểu thì thuật ngữ “bản quyền” cũng được sử dụng với nghĩa như thuật ngữ “QTG”. Trong Từ điển tiếng Việt không có thuật ngữ “QTG” mà chỉ có thuật ngữ “quyền”: “điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi” [64, tr.815] và thuật ngữ “tác giả”: “người sáng tạo ra một tác phẩm văn học, nghệ thuật hoặc khoa học nào đó” [64, tr. Vậy, theo Từ điển tiếng Việt thì chúng ta có thể hiểu QTG là điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho người sáng tạo ra một tác phẩm văn học, nghệ thuật hoặc khoa học nào đó được hưởng, được làm, được đòi hỏi. Còn theo Từ điển Luật học, QTG có thể được hiểu là: 1) Tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh từ việc cá nhân sáng tạo ra tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, kỹ thuật; 2) Quyền của tác giả đã trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm, bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản gắn liền với các quyền nhân thân đó [63, tr.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, chúng ta có thể hiểu QTG theo nghĩa hẹp hoặc nghĩa rộng. Theo nghĩa rộng, QTG là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh từ việc cá nhân sáng tạo ra tác phẩm. Còn theo nghĩa hẹp, QTG là quyền của người sáng tạo đối với tác phẩm của mình. Theo nghĩa hẹp, QTG bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả đối với tác phẩm của họ.
Những quyền này giúp cho tác giả có thể kiểm soát việc sử dụng tác phẩmcủa mình. Các quyền tài sản và quyền công bố tác phẩm thuộc QTG có thể được chuyển nhượng, thừa kế hoặc các hình thức chuyển giao khác theo quy định pháp luật. Người nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ các quyền thuộc QTG là chủ sở hữu QTG và cũng được bảo hộ theo quy định pháp luật. Như vậy, tổ chức, cá nhân có tác phẩm được bảo hộ QTG gồm người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm và chủ sở hữu QTG.
Do đó, khái niệm QTG cũng cần được hiểu rộng hơn, đó là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Theo nghĩa rộng, chúng ta có thể hiểu: QTG là một chế định pháp luật dân sự, bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật xác nhận và bảo hộ các quyền nhân thân, quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu QTG đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học và các quy định trình tự thực hiện và bảo vệ các quyền đó khi có hành vi xâm hại [60, tr. Như vậy, theo nghĩa hẹp thì ta có thể hiểu: QTG là quyền của cá nhân, tổ chức đối với tác phẩm do họ sáng tạo ra hoặc sở hữu. Còn theo nghĩa rộng thì: QTG là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh từ việc cá nhân sáng tạo ra tác phẩm.
Trong Luận văn này, QTG thường được hiểu theo nghĩa hẹp. Đặc điểm quyền tác giả Thứ nhất, QTG phát sinh một cách tự động kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, phương tiện, ngôn ngữ. Việc bảo hộ này không phụ thuộc vào việc tác phẩm đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký. Ví dụ: Khi một 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người sáng tác ra một bản nhạc, không phụ thuộc vào nhạc sĩ đó đã đem đăng ký tại Cục Bản quyền tác giả hay chưa, đã công bố tác phẩm hay chưa công bố thì tác phẩm đó đã được pháp luật bảo hộ.
Tác giả của tác phẩm đó đương nhiên được hưởng các quyền theo quy định của pháp luật. Thứ hai, QTG bị giới hạn về không gian và thời gian. Về không gian, bảo hộ QTG mang tính chất lãnh thổ, QTG chỉ có hiệu lực trong phạm vi từng lãnh thổ quốc gia. Điều này có nghĩa là sẽ chỉ được bảo hộ QTG nếu nó đáp ứng các yêu cầu pháp lý của pháp luật quốc gia nơi yêu cầu bảo hộ.
QTG có thể được bảo hộ mở rộng ra bên ngoài lãnh thổ quốc gia thông qua các cam kết song phương và đa phương. Về thời gian, tác giả chủ sở hữu QTG được bảo hộ quyền tài sản trong một khoảng thời gian nhất định, sau thời gian đó tác phẩm thuộc về công cộng. Khi đó, công chúng được tự do sử dụng tác phẩm mà không phải xin phép và trả tiền bản quyền nữa. Thời hạn bảo hộ QTG tùy thuộc pháp luật các quốc gia quy định.
Thời hạn bảo hộ quyền nhân thân thường là vĩnh viễn. Có hai nguyên tắc tính thời hạn bảo hộ quyền tài sản. Nguyên tắc thứ nhất là tính theo đời người, tức là thời hạn bảo hộ đối với tác phẩm là suốt cuộc đời tác giả và một số năm nhất định. Thông thường pháp luật các nước quy định thời hạn này là 50 năm.
Tuy nhiên, xu hướng hiện nay của các nước Châu Âu là 70 năm. Pháp luật Việt Nam quy định thời hạn bảo hộ đối với loại hình này là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả chết. Nguyên tắc thứ hai là thời hạn bảo hộ sẽ là một số năm nhất định tính từ thời điểm công bố hoặc định hình. Pháp luật Việt Nam quy định thời hạn bảo hộ đối với loại hình này đối với một số loại hình tác phẩm như điện ảnh, mỹ thuật ứng dụng, nhiếp ảnh là 75 năm kể từ khi công bố, trong trường hợp tác phẩm chưa công bố trong vòng 25 năm kể từ khi định hình thì thời hạn bảo hộ là 100 năm kể từ khi định hình.
Thứ ba, tác phẩm được bảo hộ phải có tính nguyên gốc, tức là không sao chép, bắt chước tác phẩm khác. Điều đó không có nghĩa là ý tưởng của tác phẩm phải mới, mà có nghĩa là hình thức thể hiện của ý tưởng phải do chính tác giả sáng tạo ra. Như vậy, một tác phẩm muốn được bảo hộ, phải do chính sức lao động trí 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com óc của tác giả tạo ra. Tính nguyên gốc không có nghĩa là không có kế thừa.
Ví dụ “Truyện Kiều” của Nguyễn Du là chuyển thể thơ của tiểu thuyết “Đoạn trường Tân thanh” của Thanh Tâm Tài Nhân. Nhưng cả Nguyễn Du và Thanh Tâm Tài Nhân đều được công nhận là tác giả của các tác phẩm của mình.