CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG NÔNG SẢN 1. Hoạt động cho vay xuất nhập khẩu hàng nông sản. Cho vay xuất nhập khẩu 1. Khái niệm cho vay Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một số tiền để sử dụng vào một mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận, với nguyên tắc có hoàn trả cả vốn gốc và lãi.(Hồ Diệu, Lê Thị Hiệp Thương, Bùi Diệu Anh, 2009) Theo mục 2-Điều 3-Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN về quy chế cho vay của tổ chức tín dụng với khách hàng, ta có định nghĩa:”Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả gốc và lãi”.2 Khái niệm cho vay xuất nhập khẩu Xuất nhập khẩu là hoạt động trao đổi hàng hóa giữa nước này với nước khác thông qua hoạt động mua và bán ở phạm vi quốc tế.
Trong hoạt động ngoại thương: xuất khẩu là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho nước ngoài; còn nhập khẩu chính là việc mua hàng hóa và dịch vụ của nước ngoài. Hoạt động này phần nào giải quyết được mâu thuẩn giữa quy mô sản xuất với ranh giới có hạn của thị trường nội địa, giữa tốc độ phát triển của tiến bộ khoa học kỹ thuật với khả năng có hạn về sức lao động có trình độ.được sử dụng nghiên cứu và ứng dụng vào sản xuất của mỗi nước. Cho vay XNK là một hình thức cấp tín dụng ,theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một số tiền để sử dụng vào hoạt động XNK với thời gian nhất định theo thỏa thuận, với nguyên tắc có hoàn trả cả vốn gốc và lãi. Cho vay xuất nhập khẩu hàng nông sản 1.
Khái niệm cho vay xuất nhập khẩu hàng nông sản Hoạt động cho vay xuất khẩu HNS là các khoản ngân hàng cho người xuất khẩu vay với mục đích bổ sung vốn để họ có khả năng thực hiện hợp đồng ngoại thương về xuất khẩu HNS đã ký và giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh được liên tục, không bị thiếu hụt nguồn vốn trong thời gian chậm thanh toán tiền hàng của đối tác nước ngoài. Hoạt động cho vay nhập khẩu HNS là các khoản ngân hàng cho người nhập khẩu vay với mục đích là thanh toán tiền hàng nhập khẩu HNS cho người xuất khẩu. Đặc điểm cho vay xuất nhập khẩu hàng nông sản - Đối tượng cho vay: Nhà xuất khẩu có hợp đồng xuất khẩu, nhà nhập khẩu có hợp đồng nhập khẩu hàng nông sản: cao su, khoai mì - Thời hạn cho vay: thời hạn cho vay XNK HNS thường là ngắn hạn do gắn liền với thời hạn của các hợp đồng ngoại thương. Do đó thời hạn cho vay với từng mặt hàng nông sản thường là ngắn, ví dụ: Cao su: phụ thuộc vào vòng quay vốn của doanh nghiệp, thông thường là 4-6 tháng đối với doanh nghiệp chế biến, 2-3 tháng đối với doanh nghiệp thương mại.
Khoai mì: chủ yếu là cho vay 3 tháng do củ mì tươi không dự trữ lâu được, thời gian chế biến nhanh. Tuy nhiên, tùy vào quy mô doanh nghiệp, giá trị mỗi đơn hàng mà thời hạn cho vay có thể kéo dài đến 6 tháng vì giá trị đơn hàng lớn nên các doanh nghiệp phải tốn một khoản thời gian lớn để thu mua đủ lượng nguyên liệu cho đơn hàng. - Đồng tiền giải ngân: đồng tiền giải ngân chủ yếu là VND. Do các doanh nghiệp thu mua, chế biến HNS sử dụng nguồn nguyên liệu chủ yếu trong nước nên đồng tiền giải ngân chủ yếu là VND.
3 - Điều kiện giải ngân: Hoạt động cho vay XNK đảm bảo các doanh nghiệp sử dụng vốn đúng mục đích do các khoản vay thường gắn liền với các thương vụ cụ thể, phần lớn tiền vay sẽ được chuyển cho bên thứ ba mà không qua bên vay để nhập khẩu nguyên vật liệu, nhập khẩu hàng hóa, máy móc thiết bị cho bên cung cấp.Như vậy hoạt động cho vay XNK rất hiệu quả trong việc hạn chế doanh nghiệp sử dụng vốn sai mục đích, dẫn đến rủi ro cho ngân hàng. - Rủi ro: rủi ro trong cho vay XNK HNS xảy ra khi khách hàng vay không trả nợ góc và lãi đầy đủ, đúng hạn cho ngân hàng. Việc bên vay không hoàn trả đầy đủ gốc và lãi của khoản vay xuất phát từ rất nhiều nguyên nhân: khách quan, chủ quan, nguyên nhân từ việc cho vay, sử dụng vốn vay sai mục đích, lừa đảo,. Hoạt động kinh doanh XNK các mặt hàng nông sản khác nhau có những đặc trưng riêng dẫn đến nguyên nhân rủi ro của mỗi loại cũng khác nhau.
Tuy nhiên có những rủi ro chính ảnh hưởng đến khả năng thu nợ cho vay gồm: + Rủi ro do biến động giá nguyên liệu đầu vào: đặc điểm xuất khẩu của Việt Nam là các doanh nghiệp xuất khẩu đã ký hợp đồng xuất khẩu trước với bên nhập khẩu, rùi mới tiến hành sản xuất. Khi giá nguyên liệu đầu vào tăng sẽ làm tăng chi phí sản xuất cho doanh nghiệp, khi đó lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ giảm. Điều này tác động xấu đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến khả năng trả nợ cho ngân hàng. + Rủi ro do nguồn cung nguyên liệu đầu vào không đủ: khi doanh nghiệp xuất khẩu đã ký hợp đồng với bên nhập khẩu và tiến hành sản xuất.
Trong quá trình sản xuất, khâu thu mua nguyên vật liệu đầu vào rất quan trọng. Nếu như quá trình thu mua nguyên vật liệu đầu vào không đủ, hoạt động sản xuất sẽ bị đình truệ, dẫn đến không giao hàng kịp cho bên nhập khẩu, gây thiệt hại cho doanh nghiệp. Nguyên vật liệu đầu vào ở đây là hàng nông sản, mà đặc điểm của hàng nông sản là phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết, dịch bệnh. Khi thời tiết thay đổi, dịch bệnh gây thiệt hại cho mùa màng, dẫn đến thu hoạch hàng nông sản giảm sản lượng, không đủ cung cấp cho các nhà máy chế biến.
4 + Rủi ro từ bên mua: Rủi ro xuất phát từ tình hình tài chính của bên nhập khẩu. Có nhiều trường hợp xảy ra trong thực tế là bên nhập khẩu và bên xuất khẩu có quan hệ buôn bán lâu năm, tình hình thanh toán rất tốt nên chủ yếu thanh toán bằng hình thức TT hay D/P. Tuy nhiên khi tình hình kinh tế thế giới biến động xấu, hay do bất cứ lý do nào tác động xấu đến tình hình kinh tế của nước nhập khẩu, dẫn đến đối tác nhập khẩu không có khả năng thanh toán đơn hàng nhập khẩu. Lúc đó, doanh nghiệp xuất khẩu sẽ rơi vào hoàn cảnh khó khăn khi phải tìm đối tác khác mua hàng.
Thông thường đơn hàng xuất khẩu có giá trị lớn, tương ứng với khoản vay lớn. Nếu đơn hàng có giá trị lớn, trong khi doanh nghiệp xuất khẩu có quy mô nhỏ, khi đó rủi ro từ đơn hàng xuất khẩu có thể gây phá sản cho doanh nghiệp xuất khẩu, kèm theo đó là khoản vay của ngân hàng sẽ khó thu hồi được. + Rủi ro từ chính sách của nước nhập khẩu, xuất khẩu Chính sách từ quốc gia của doanh nghiệp xuất khẩu Rủi ro từ việc nhà nước của doanh nghiệp xuất khẩu hạn chế, cấm xuất khẩu mặt hàng cụ thể nào đó để phục vụ cho sản xuất trong nước, do bí mật công nghệ, quốc phòng. Chính sách tiền tệ từ quốc gia của doanh nghiệp xuất khẩu cũng sẽ tác động đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp đó.
Khi thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng sẽ khuyến khích phát triển, đồng thời lạm phát cũng có nguy cơ tăng cao. Khi lạm phát gia tăng quá nhanh, nhà nước sẽ thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, dẫn đến lãi suất cho vay tăng, làm chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp cũng tăng theo, dẫn đến giá thành tăng, giảm sức cạnh tranh của các mặt hàng xuất khẩu. Khi tỷ giá tăng sẽ khuyến khích xuất khẩu, giảm nhập khẩu. Khi tỷ giá giảm sẽ khuyến khích nhập khẩu, giảm xuất khẩu.
Hiện tại, nước ta có xu hướng tăng xuất khẩu, giảm nhập khẩu nên trong tương lai gần, tỷ giá sẽ khó có xu hướng giảm. Chính sách từ quốc gia của doanh nghiệp nhập khẩu Rủi ro từ chính sách của quốc gia nhà nhập khẩu là rủi ro xảy ra khi nước nhập khẩu muốn bảo hộ các mặt hàng sản xuất trong nước tương tự các mặt hàng xuất khẩu bằng việc áp thuế nhập khẩu, tăng thuế chống bán phá giá, hạn ngạch. 5 + Rủi ro do chất lượng sản phẩm: Rủi ro này xảy ra khi chất lượng của hàng xuất khẩu không đáp ứng được các yêu cầu, tiêu chuẩn của doanh nghiệp nhập khẩu, dẫn đến hàng xuất bị trả về, không chấp nhận thanh toán. Rủi ro này xuất phát từ uy tín của doanh nghiệp xuất khẩu, vì để tối đa hóa lợi nhuận đã xuất hàng không đáp ứng yêu cầu của bên nhập khẩu.
Nếu ngân hàng chiết khấu bộ chứng từ xuất hàng không đủ chất lượng, không đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn, thì rủi ro không nhận được thanh toán của doanh nghiệp là rất lớn. - Giá trị gia tăng: Hoạt động cho vay XNK HNS thường gắn liền với các hoạt động khác như: Thanh toán quốc tế, mua bán ngoại tệ. Như vậy hoạt động cho vay XNK HNS góp phần mở rộng các nghiệp vụ kinh doanh, tăng thu nhập từ dịch vụ cho ngân hàng. Vai trò của hoạt động cho vay xuất nhập khẩu hàng nông sản Đối với ngân hàng Hoạt động tài trợ XNK HNS là một trong những hoạt động an toàn của các ngân hàng vì quản lý được các nguồn thu thanh toán của khách hàng.
Đối với người nhập khẩu, khi ngân hàng tài trợ vốn cho hoạt động này, ngân hàng sẽ buộc khách hàng tập trung tiền thu từ hoạt động bán hàng về tài khoản mở tại ngân hàng. Đối với nhà xuất khẩu, khi ngân hàng chuyển bộ chứng từ giao hàng để đòi tiền người nhập khẩu tại nước ngoài, khi đó việc thanh toán đã được chỉ định thông qua tài khoản của người xuất khẩu mở tại ngân hàng. Như vậy nguồn thu để trả các khoản tài trợ được ngân hàng quản lí chặt chẽ, tránh tình trạng khách hàng sử dụng vốn sai mục đích trong thời gian vốn nhàn rỗi. Hoạt động tài trợ XNK HNS mang lại nguồn thu nhập lớn cho ngân hàng.
Do các thương vụ XNK HNS thường có giá trị lớn, các thương vụ này đòi hỏi phải sử dụng nhiều dịch vụ của ngân hàng như thanh toán quốc tế, mua/bán ngoại tệ nên ngoài lãi cho vay, ngân hàng còn thu được các khoản phí, chênh lệch giá ngoại tệ.