Tổng quan nghiên cứu

Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đóng góp khoảng 14,66% vào cơ cấu kinh tế cả nước, trong khi tại tỉnh Tây Ninh, tỷ trọng này chiếm tới 28%. Với lợi thế tự nhiên đặc thù, hai mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của tỉnh là mủ cao su và khoai mì đã mang lại nguồn thu ngoại tệ lớn, tiêu biểu như kim ngạch cao su đạt 227,68 triệu USD năm 2015 và xuất khẩu khoai mì đạt 164,25 triệu USD năm 2016. Hoạt động cho vay xuất nhập khẩu hàng nông sản giữ vai trò xương sống giúp duy trì chuỗi cung ứng, đồng thời mang lại nguồn thu nhập dịch vụ vượt trội cho các tổ chức tín dụng thông qua tài trợ thương mại, thanh toán quốc tế và mua bán ngoại tệ.

Tuy nhiên, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công Thương Việt Nam Chi nhánh Tây Ninh đang đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt từ các ngân hàng thương mại lớn khác trên địa bàn, khiến thị phần tín dụng nông sản còn khiêm tốn. Luận văn tập trung đánh giá toàn diện thực trạng cấp tín dụng xuất nhập khẩu nông sản giai đoạn 2013-2017 tại chi nhánh, nhận diện các rào cản về chính sách sản phẩm và rủi ro thị trường, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp mở rộng quy mô cho vay an toàn.

Nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn khi trực tiếp thúc đẩy tỷ trọng dư nợ cho vay xuất nhập khẩu của chi nhánh tăng trưởng từ mức 21,4% năm 2014 lên 46,2% năm 2017, đồng thời cung cấp mô hình phát triển tín dụng bền vững cho hệ thống ngân hàng thương mại tại các vùng nông nghiệp trọng điểm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết trung gian tài chính và lý thuyết quản trị rủi ro tín dụng hiện đại, kết hợp mô hình luân chuyển vốn lưu động trong tài trợ ngoại thương nông sản. Theo Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước, cho vay là hình thức cấp tín dụng có hoàn trả gốc và lãi theo thỏa thuận. Các khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa bao gồm: tài trợ trước giao hàng, chiết khấu bộ chứng từ xuất khẩu có truy đòi và miễn truy đòi, phát hành thư tín dụng L/C, nhờ thu chứng từ D/P, chuyển tiền điện T/T và cho vay ký quỹ bảo lãnh.

Khung phân tích nhấn mạnh tính chu kỳ sinh trưởng và lưu kho đặc thù của nông sản. Thời hạn vay ngành cao su thường kéo dài 4-6 tháng với doanh nghiệp chế biến và 2-3 tháng với doanh nghiệp thương mại. Ngược lại, chu kỳ tín dụng khoai mì dao động 3-6 tháng do củ mì tươi có tỷ lệ hao hụt cao và tốc độ chế biến nhanh.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ báo cáo tài chính kiểm toán giai đoạn 2014-2017 của VietinBank Tây Ninh, báo cáo giám sát của Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh Tây Ninh, cùng dữ liệu vĩ mô về diện tích gieo trồng 100.437 ha cao su và sản lượng 2.024.000 tấn khoai mì từ Cục Thống kê tỉnh Tây Ninh. Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát dữ liệu vận hành của 112 cán bộ nhân viên tại 8 phòng giao dịch trực thuộc và mẫu khảo sát chọn lọc gồm 45 doanh nghiệp xuất nhập khẩu cao su, khoai mì tiêu biểu trên địa bàn.

Phương pháp chọn mẫu chủ đích kết hợp phân tầng phi xác suất được áp dụng nhằm bao phủ toàn bộ các nhóm khách hàng doanh nghiệp quy mô lớn, vừa và nhỏ. Tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích chuỗi thời gian ngang và so sánh các chỉ số tài chính như tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ nợ xấu, vòng quay vốn và cơ cấu thu nhập dịch vụ. Lý do lựa chọn hệ phương pháp này là vì tín dụng nông sản phụ thuộc mật thiết vào biến động giá thế giới và mùa vụ thu hoạch, việc lượng hóa số liệu chuỗi 4 năm giúp phản ánh trung thực thực trạng tài chính và hiệu quả sử dụng vốn của chi nhánh.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô tín dụng ngoại thương ghi nhận sự tăng trưởng vượt bậc. Tổng dư nợ của VietinBank Tây Ninh tăng từ 2.106 tỷ đồng năm 2014 lên 4.341 tỷ đồng năm 2017, trong đó dư nợ cho vay xuất nhập khẩu đạt mức tăng trưởng 97,9% vào năm 2017 so với năm 2016, nâng tỷ trọng đóng góp trong tổng dư nợ từ 21,4% lên 46,2%.

Thứ hai, cơ cấu cho vay nông sản có sự phân hóa sâu sắc giữa hai mặt hàng xuất khẩu cốt lõi. Tín dụng xuất khẩu mủ cao su giữ vai trò chủ lực tuyệt đối với dư nợ bình quân tăng từ 321 tỷ đồng năm 2014 lên 1.469 tỷ đồng năm 2017 (tăng trưởng 357,6%), giúp tỷ trọng tài trợ của chi nhánh trong tổng giá trị xuất khẩu cao su của toàn tỉnh tăng từ 9,2% năm 2015 lên 16,9% năm 2016.

Thứ ba, mảng tín dụng khoai mì duy trì tốc độ mở rộng ổn định nhưng chưa tương xứng với tiềm năng. Dư nợ bình quân khoai mì tăng từ 58 tỷ đồng năm 2014 lên 346 tỷ đồng năm 2017, doanh số thu nợ tăng tương ứng từ 95 tỷ đồng lên 428 tỷ đồng, trong khi mảng cho vay nhập khẩu củ mì thô từ Campuchia chỉ chiếm khoảng 9 tỷ đồng dư nợ.

Thứ tư, chất lượng danh mục tín dụng được kiểm soát chặt chẽ với tỷ lệ nợ xấu duy trì ở mức an toàn tuyệt đối dưới 2% trong suốt 4 năm, chạm mốc 1,1% vào cuối năm 2017, cùng hệ số vòng quay vốn tín dụng đạt từ 1,6 đến 2,0 vòng/năm.

Thảo luận kết quả

Diễn biến số liệu được trực quan hóa thông qua bảng cơ cấu dư nợ và biểu đồ tăng trưởng thị phần tín dụng tại địa phương. Sự bứt phá của mảng cho vay cao su xuất phát từ chiến lược tiếp cận thành công các doanh nghiệp chế biến quy mô lớn từ năm 2014, giúp chi nhánh khai thác trọn gói dịch vụ mua bán ngoại tệ và tài trợ thương mại. Ngược lại, dư nợ khoai mì còn thấp do các cơ sở chế biến tinh bột mì trên địa bàn chủ yếu có quy mô vừa và nhỏ, tính minh bạch sổ sách tài chính chưa cao và tài sản bảo đảm là hàng tồn kho có độ rủi ro biến chất lớn.

So sánh với các nghiên cứu thực nghiệm trong ngành ngân hàng tại vùng Đông Nam Bộ, kết quả nghiên cứu khẳng định VietinBank Tây Ninh đã thu hẹp đáng kể khoảng cách về dư nợ với BIDV, nhưng vẫn xếp sau Agribank về thị phần cho vay nông nghiệp. Lợi thế của Agribank nằm ở mạng lưới phòng giao dịch phủ kín các huyện vùng sâu và hạn mức ủy quyền phán quyết tín dụng tại chỗ vượt trội. Đồng thời, sự xuất hiện của các ngân hàng thương mại cổ phần thế hệ mới như MB Bank từ năm 2013 với chính sách định giá lãi suất linh hoạt đã tạo sức ép cạnh tranh gay gắt. Nghiên cứu chứng minh rằng tích hợp dịch vụ thanh toán L/C, D/P trọn gói là chìa khóa duy nhất giúp gia tăng biên lợi nhuận thuần ngoài lãi cho chi nhánh.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, thiết kế và ban hành các gói sản phẩm tín dụng đặc thù cho chuỗi giá trị nông sản. Phòng Khách hàng Doanh nghiệp cần phối hợp các phòng ban chức năng triển khai gói tài trợ chuyên biệt cho doanh nghiệp chế biến tinh bột mì và cao su xuất khẩu ngay trong quý 1 và quý 2 năm 2019, đặt mục tiêu nâng tỷ trọng dư nợ khoai mì đạt 25% tổng dư nợ nông sản.

Thứ hai, hoàn thiện cơ chế thẩm định giá và quản trị rủi ro chuỗi cung ứng. Phòng Hỗ trợ Tín dụng cùng Ban Giám đốc chi nhánh cần thiết lập quy trình kiểm tra thực địa kho hàng định kỳ 15 ngày một lần đối với tài sản bảo đảm là nông sản chế biến, kiểm soát tỷ lệ nợ xấu toàn mảng dưới ngưỡng 1,2% xuyên suốt lộ trình 2019-2020.

Thứ ba, đẩy mạnh tiếp thị trực tiếp và phát triển mạng lưới khách hàng mục tiêu. Đội ngũ bán hàng tại hội sở và 8 phòng giao dịch cần chủ động tiếp cận tối thiểu 30 doanh nghiệp chế biến nông sản trọng điểm tại các địa bàn Tân Biên, Tân Châu và Gò Dầu từ quý 3 năm 2019, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng khách hàng mới 20% mỗi năm.

Thứ tư, nâng cao trình độ chuyên môn và chuẩn hóa hệ thống đánh giá nhân sự. Phòng Tổ chức Hành chính tổ chức đào tạo nghiệp vụ tài trợ thương mại quốc tế chuyên sâu cho 100% cán bộ tín dụng trước tháng 12 năm 2019, áp dụng chỉ số đánh giá hiệu quả KPI gắn liền với doanh số thu nợ và doanh thu dịch vụ thanh toán quốc tế.

Thứ năm, kiến nghị Hội sở chính VietinBank nâng hạn mức ủy quyền phán quyết tín dụng đối với chi nhánh Tây Ninh lên mức 150 đến 200 tỷ đồng cho các thương vụ xuất khẩu nông sản có hợp đồng ngoại thương uy tín trong giai đoạn 2019-2021, đồng thời nâng cấp hệ thống công nghệ xếp hạng tín dụng tự động.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là ban lãnh đạo và cán bộ thẩm định tại các ngân hàng thương mại. Luận văn cung cấp cẩm nang thực tiễn về quy trình thẩm định rủi ro biến động giá hàng hóa, kinh nghiệm thiết kế gói vay chuỗi giá trị và cơ chế quản lý hạn mức vốn lưu động theo chu kỳ mùa vụ.

Nhóm thứ hai là các giám đốc tài chính và chủ doanh nghiệp chế biến, xuất nhập khẩu nông sản. Tài liệu giúp doanh nghiệp nắm bắt các tiêu chuẩn cấp tín dụng của ngân hàng, lựa chọn phương thức thanh toán L/C, D/P, T/T tối ưu để nâng cao vòng quay vốn từ 1,6 lên 2,5 vòng một năm và giảm thiểu chi phí vay vốn.

Nhóm thứ ba là các cơ quan quản lý nhà nước và hiệp hội ngành hàng nông sản tỉnh Tây Ninh. Dữ liệu thực chứng giúp cơ quan ban ngành xây dựng chính sách liên kết giữa nhà nông, doanh nghiệp xuất khẩu và tổ chức tín dụng, thúc đẩy kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh vượt mốc 500 triệu USD.

Nhóm thứ tư là giảng viên, học viên cao học và sinh viên các khối ngành Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế quốc tế. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp phân tích định tính kết hợp chuỗi dữ liệu thực tế 4 năm trong lĩnh vực tài trợ thương mại nông nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao hoạt động cho vay xuất nhập khẩu nông sản tại Tây Ninh lại tập trung chủ yếu vào cao su và khoai mì?

Tây Ninh có diện tích gieo trồng cao su đạt trên 100.437 ha và sản lượng khoai mì vượt 2,02 triệu tấn mỗi năm, chiếm tỷ trọng 28% trong cơ cấu kinh tế toàn tỉnh. Hai mặt hàng này là nguồn tạo kim ngạch ngoại tệ chủ lực, làm phát sinh nhu cầu vay vốn lưu động rất lớn từ các nhà máy chế biến và đơn vị thương mại.

VietinBank Tây Ninh kiểm soát tỷ lệ nợ xấu cho vay nông sản dưới 2% bằng biện pháp nào?

Chi nhánh quản lý chặt chẽ dòng tiền thu hồi bằng cách chỉ định đối tác nước ngoài thanh toán trực tiếp về tài khoản mở tại ngân hàng thông qua bộ chứng từ L/C hoặc D/P. Nhờ kết hợp giám sát kho bãi định kỳ và thẩm định uy tín đối tác nhập khẩu, tỷ lệ nợ xấu năm 2017 được duy trì ở mức tối ưu 1,1%.

Rủi ro lớn nhất khi ngân hàng cấp tín dụng cho doanh nghiệp xuất khẩu nông sản là gì?

Rủi ro trọng yếu phát sinh từ biến động giá thế giới và tính chất mùa vụ của nông sản thô. Điển hình như năm 2016, giá xuất khẩu mủ cao su sụt giảm khiến giá trị xuất khẩu của tỉnh giảm 16%, gây áp lực suy giảm dòng tiền và trực tiếp đe dọa khả năng trả nợ gốc đúng hạn của doanh nghiệp.

Thời hạn cấp tín dụng cho ngành chế biến cao su và khoai mì khác nhau như thế nào?

Thời hạn cho vay xuất khẩu cao su thường kéo dài 4-6 tháng đối với doanh nghiệp chế biến và 2-3 tháng đối với thương mại do chu kỳ thu gom mủ dài. Ngược lại, củ mì tươi có thời gian bảo quản ngắn và chế biến nhanh nên khoản vay khoai mì chủ yếu có kỳ hạn từ 3 đến 6 tháng.

Luận văn đề xuất giải pháp trọng tâm nào để chi nhánh nâng cao năng lực cạnh tranh thị phần?

Tác giả đề xuất xây dựng các gói tài trợ trọn gói kết hợp chiết khấu phí ngoại tệ, rút ngắn thời gian luân chuyển hồ sơ và kiến nghị Hội sở tăng hạn mức ủy quyền phán quyết tín dụng lên trên 150 tỷ đồng. Điều này giúp chi nhánh phản ứng linh hoạt trước các hợp đồng xuất khẩu quy mô lớn.

Kết luận

  • Tín dụng xuất nhập khẩu nông sản là động lực tăng trưởng cốt lõi, đưa tỷ trọng cho vay ngoại thương của VietinBank Tây Ninh đạt 46,2% tổng dư nợ năm 2017.
  • Mảng tài trợ cao su phát triển vượt bậc với dư nợ bình quân đạt 1.469 tỷ đồng, trong khi mảng khoai mì cần các gói sản phẩm đặc thù để mở rộng quy mô.
  • Chất lượng tín dụng được đảm bảo vững chắc với tỷ lệ nợ xấu ở mức 1,1% và vòng quay vốn luân chuyển đạt xấp xỉ 2,0 vòng/năm trong suốt chu kỳ nghiên cứu.
  • Công trình cung cấp hệ thống giải pháp toàn diện từ phát triển sản phẩm, quản trị rủi ro kho hàng đến chuẩn hóa năng lực cho 112 cán bộ nhân viên toàn chi nhánh.
  • Lộ trình triển khai các giải pháp được xác lập hoàn thành trong giai đoạn 2019-2021, tạo tiền đề nâng thị phần tín dụng của chi nhánh lên trên mức 20%.

Đóng góp chính của luận văn là đã chuẩn hóa mô hình tài trợ thương mại gắn liền với đặc thù sản phẩm nông nghiệp địa phương, mở ra giải pháp tăng trưởng tín dụng bền vững. Ban lãnh đạo các tổ chức tín dụng và doanh nghiệp nông sản cần chủ động ứng dụng các khuyến nghị này ngay trong niên vụ sản xuất mới để tối ưu hóa nguồn lực tài chính và gia tăng giá trị thương mại nông sản Việt Nam.