Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về quản trị cho vay thương mại tại hệ thống các ngân hàng. Chương 2: Phân tích thực trạng quản trị cho vay thương mại tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Nghệ An. Chương 3: Giải pháp tăng cường quản trị cho vay thương mại tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Nghệ An. 7 CHƢƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ CHO VAY THƢƠNG MẠI TẠI HỆ THỐNG CÁC NGÂN HÀNG 1.
Tổng quan về quản trị và quản trị cho vay thƣơng mại 1. Tổng quan về quản trị Khái niệm quản trị Thuật ngữ quản trị được giải thích bằng nhiều cách khác nhau và có thể nói là chưa có một định nghĩa nào được tất cả mọi người chấp nhận hoàn toàn Quản trị là quá trình thực hiện các tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý để phối hợp hoạt động của các cá nhân và tập thể nhằm đạt các mục tiêu đã đề ra của tổ chức.[4] Quản trị là quá trình làm việc với người khác và thông qua người khác để thực hiện các mục tiêu của tổ chức trong một môi trường luôn biến động.[4] Ngay từ khi con người bắt đầu hình thành các nhóm người đề thực hiện những mục tiêu mà họ không thể đạt được với tư cách cá nhân riêng lẻ, thì quản trị đã trở thành một yếu tố cần thiết để đảm bảo phối hợp các hoạt động của các cá nhân. Quản trị là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra hoạt động của các thành viên trong tổ chức, sử dụng các nguồn lực nhằm đạt đến sự thành công trong các mục tiêu đề ra của doanh nghiệp. Từ khái niệm này giúp chúng ta nhận ra rằng, quản trị là một hoạt động liên tục và cần thiết khi con người kết hợp với nhau trong một tổ chức.
Đó là quá trình nhằm tạo nên sức mạnh gắn liền các vấn đề lại với nhau trong tổ chức và thúc đẩy các vấn đề chuyển động. Mục tiêu của quản trị là tạo ra giá trị thặng dư tức tìm ra phương thức thích hợp để thực hiện công việc nhằm đạt hiệu quả cao nhất với chi phí các nguồn lực ít nhất. Nói chung, quản trị là một hình thức phức tạp mà các nhà quản trị kinh doanh phải quản trị từ khâu đầu đến khâu cuối của một chu kỳ sản xuất kinh doanh 8 của doanh nghiệp, thực chất của quản trị kinh doanh là quản trị các yếu tố đầu vào, quá trình sản xuất kinh doanh các yếu tố đầu ra theo quá trình hoạt động. Vai trò của quản trị Quản trị cần thiết đối với mọi lĩnh vực hoạt động trong xã hội.
sự phân tích về sự thất bại của các tổ chức kinh doanh trong những năm gần đây cho thấy sở dĩ các thất bại có tỷ lệ cao là do quản trị yếu kém hoặc thiếu kinh nghiệm .[4] Quản trị giúp các tổ chức và thành viên của nó thấy rõ mục đích và hướng đi của mình. Đây là yếu tố đầu tiên và quan trong nhất đối với mọi con người và tổ chức, giúp tổ chức thực hiên được mục đích của mình, đạt được những thành tích ngắn hạn và dài hạn, phát triển không ngừng .[4] Quản trị sẽ phối hợp các yếu tố nhận lực, tài lực, vật lực và thông tin thành một thể thống nhất để thực hiện mục đích với hiệu quả cao. Quản trị giúp tổ chức thích nghi được với môi trường, nắm bắt được cơ hội, tận dựng hết các cơ hội và giảm bớt các tác động tiêu cực. Quản trị giúp các cá nhân phát huy được tối đa khả năng của mình và có sự phối hợp với tập thể để hướng vào mục đích chung.[4] Chức năng của quản trị Có nhiều tiếp cận về chức năng quản trị song phổ biến các nhà nghiên cứu cho rằng quản trị có bốn chức năng [4] Hoạch địch: Đây là chức năng đầu tiên trong tiến trình quản trị bao gồm: việc xác định mục tiêu hoạt động, xây dựng chiến lược tổng thể để đạt được mục tiêu và thiết lập một hệ thống các kế hoạt để phối hợp các hoạt động.
Tổ chức: đây là chức năng thiết kế cơ cấu, tổ chức công việc và tổ chức nhân sự cho một tổ chức. Công việc này bao gồm: xác định những việc phải làm, ai làm, phối hợp hành động ra sao, bộ phận nào được hình thành, quan hệ giữa các bộ phận, hệ thống quyền hành trong tổ chức. Lãnh đạo là chỉ huy nhân tố con người sao cho tổ chức đạt đến mục tiêu. Nó bao gồm việc chỉ định đúng tài nguyên và cung cấp một hệ thống hỗ trợ hiệu quả.
9 Lãnh đạo yêu cầu kĩ năng giao tiếp cao và khả năng thúc đẩy mọi người. Một trong những vấn đề quyết định trong công tác lãnh đạo là tìm được sự cân bằng giữa yêu cầu của nhân sự và hiệu quả sản xuất. Kiểm tra - Kiểm soát: công việc kiểm soat bao gồm việc xác định thành quả đạt được so với mục tiêu và tiến hành các biện pháp sửa chữa nếu có sai lệch, nhằm đảm bảo tổ chức đang đi đúng hướng để hoàn thành mục tiêu. Quản trị ngân hàng: Đề đảm bảo tính hiệu quả trong quá trình hoạt động các ngân hàng phải có một chính sách quản trị.
Đó chính là những hoạt động xuất phát từ nhu cầu, mục tiêu chung và hướng vào việc điều hòa các nguồn lực con người, vật chất sao cho với chi phí thấp nhất đề đạt được mục đích, mục tiêu nhất định. Mục tiêu cơ bản của nhà quản trị ngân hàng hướng tới đó là: - Tối đa hóa lợi nhuận ngân hàng. - Giảm thiểu các rủi ro trong hoạt động kinh doanh. - Đảm bảo khả năng thanh toán trong ngắn hạn và dài hạn.
Hướng tới những mục tiêu trên nhiệm vụ của các nhà quản trị ngân hàng cụ thể như sau: - Hoạch định chiến lược kinh doanh ngân hàng Xây dựng chiến lược hoạt động kinh doanh của ngân hàng, chiến lược trong từng nghiệp vụ kinh doanh cụ thể. Thiết lập các mục tiêu kinh doanh, mục tiêu hoạt động tín dụng, quản trị danh mục cho vay, thiết lập quy trình cho vay, các chính sách có liên quan, các biện pháp chủ yếu và thời hạn để thực hiện các mục tiêu đó. Xác định nguồn lực cho việc thực hiện các mục tiêu của ngân hàng, bao gồm các nguồn lực như nhân sự, cơ sở vật chất, kỹ thuật công nghệ, mạng lưới,… - Lãnh đạo, chỉ đạo: bố trí, phân bố các nguồn lực vào các khâu công việc để thẹc hiện các kế hoạch, chiến lược, các chương trình, mục tiêu đã hoạch định của ngân hàng. - Tổ chức triền khai thực hiện các kế hoạch, chương trình để thực hiện được các mục tiêu đề ra của ngân hàng trong toàn hệ thống, từng cấp, từng bộ phận, mô 10 hình cho vay, mô hình xét duyệt tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng.
- Kiểm tra, kiểm soát, đánh giá quá trình tổ chức thực hiện dựa trên đường lối và các tiêu chuẩn, mục tiêu, chính sách, quy định trong hoạt động cho vay ở các cấp khác nhau, các cá nhận khác nhau trong từng cấp của mỗi ngân hàng. Như vậy, thực chất quản trị ngân hàng là những hoạt động thống nhất phối hợp, liên kết các cá nhân người lao động và các yếu tố vật chất trong quá trình lao động, sản xuất và cung cấp các dịch vụ ngân hàng nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh nhất định ở mỗi thời kỳ với phương châm an toàn, chi phí thấp và hao tổn ít nhất về nguồn lực để đạt hiệu quả tối ưu.[5-trang16] Trong quá trình hoạt động kinh doanh, phát triển quản trị là một nhu cầu khách quan là vì những lý do sau: - Do yêu cầu hướng đến hoạt động tập thể, mỗi ngân hàng trước hết là một tổ chức và hoạt động vì những mục đích nhất định. Đề đạt được mục đích đòi hỏi phải có sự liên kết của các cá nhân, phải có sự phân công lao động, phối hợp lao động của mỗi cá nhân với nhau. Do đó cần phải có người quản trị xác định mục tiêu, điều khiển, kiểm tra việc thực hiện công việc của các cá nhân để có thể tiết kiệm được thời gian và tiền bạc.
- Do yêu cầu đa dạng hóa và nâng cao chất lượng hoạt động ngân hàng: khi tiến hành một hoạt động trong lĩnh vực mang tính cạnh tranh thì đòi hỏi các tổ chức kinh doanh phải nắm rõ cơ chế cạnh tranh, nắm bắt được diễn biến thị trường để đưa ra được những sản phẩm dịch vụ mà xã hội, thị trường đang mong muốn. Do vậy, các ngân hàng phải thường xuyên đổi mới về công nghệ, chất lượng đội ngũ nhân viên, nâng cao trình độ quản lý, nâng cao chất lượng sản phẩm, mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh và đây chính là công việc của quản trị. Quản trị cho vay thương mại Khái niệm Theo quyết định số 28/2001/QĐ- NHNN1 ngày 15/8/2001 của Thống đốc NHNN định nghĩa cho vay như sau: Cho vay là một hình thức của cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để 11 sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc lẫn lãi. - Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
Tín dụng tồn tại song song và phát triển cùng với nền sản xuất hàng hoá. Các chủ thể tham gia vào tín dụng ngân hàng rất phong phú và đa dạng với một bên là ngân hàng, một bên là các tổ chức kinh tế, cá nhân, hợp tác xã, có quan hệ tín dụng giữa các chủ thể tín dụng được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng và có lợi cho hai bên, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Từ khái niệm trên bản chất của cho vay là một giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả và có các đặc trưng: - Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, vì vậy người cho vay khi chuyển giao tài sản cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trả đầy đủ và đúng hạn.