CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Khái quát chung về bảo hiểm nhân thọ 1.1 Khái niệm bảo hiểm nhân thọ Bảo hiểm nhân thọ ra đời xuất phát từ nhu cầu trong cuộc sống của con người, nhu cầu bết kì của một người bình thường nào trước hết là đảm bảo các nhu cầu vật chất, tinh thần và an toàn cho chính họ khi còn trẻ cũng như về già. Trong quá trình sống, để đáp ứng những đòi hỏi trên chỉ có thể thõa mãn khi có một nguồn tài chính cho nhu cầu đó. Bảo hiểm nhân thọ ra đời khá sớm trên thế giới ( Tài liệu Lý luận chung về bảo hiểm nhân thọ, Đại học Kinh tế quốc dân).
- Ở nước Anh năm 1583, một thuyền trưởng nảy ra ý kiến yêu cầu công ty bảo hiểm phi nhân thọ đang bảo hiểm cho con tàu và hang hóa của ông hãy bán thêm hợp đồng bảo hiểm cho sinh mạng của mình. Sự kiện này khiến các công ty bảo hiểm phi nhân thọ thấy rằng: Con người cũng có thể được bảo hiểm như tàu bè và hàng hóa.Các văn phòng bán bảo hiểm lần lượt ra đời. Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đầu tiên trên thế giới đã được bán cho một công dân Luân đôn. - Năm 1639, có người Anh tên là E.Halley đã lập ra bảng thống kê tử vong đầu tiên, lý thuyết xác suất của B.Pascal năm 1659 và luật về số đông của J.Berrnoulli thế kỷ 18, đã đặt nền móng lý thuyết tính toán khoa học cho bảo hiểm nhân trong những năm 50 của thế kỷ 18, T.Simpon đã dựa vào bảng tỷ lệ thống kê tử vong do E.Halley lập ra, để lập thành bảng tỷ lệ phí bảo hiểm nhân thọ.
- Năm 1759, công ty BHNT ra đời đầu tiên ở Philadelphia (Mỹ). Công ty này đếnnay vẫn còn hoạt động trên thị trường, tuy nhiên khi mới thành lập nó SVTH: Nguyễn Hoàng Thảo Anh 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trần Vũ Khánh Duy chỉ bán bảo hiểm cho các con chiên trong nhà thờ của mình. - Năm 1762, công ty BHNT Equitable là công ty bảo hiểm nhân thọ đầu tiên ở nước Anh áp dụng tính phí bảo hiểm theo phương pháp của T.Dodson, bảo hiểm nhân thọ đã được xây dựng trên cơ sở kỹ thuật bảo hiểm.
Có thể nói rằng đây là công ty bảo hiểm con người hiện đại đầu tiên và đã mở ra một cục diện mới phát triển sự nghiệp bảo hiểm con người nói chung và bảo hiểm nhân thọ nói riêng. - Tại Việt Nam, năm 1975 công ty bảo hiểm Hưng Việt ra đời dưới chế độ cũ,thực chất đây là công ty kinh doanh bảo hiểm nhân thọ nhưng ra đời chưa được hơnmột năm thì miền nam Việt Nam hòan tòan giải phóng và công ty này bị xóa sổ. - Năm 1996 được sự ủy quyền của thủ tướng chính phủ, Bộ tài chính ra quyết định thành lập lại công ty bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt), Tổng Công Ty đã chính thức phát hành hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đầu tiên đầu tiên kể từ ngày thống nhất đất nước. Được nhà nước xếp loại “doanh nghiệp nhà nước hạng đặc biệt”, vì bảo hiểm nói chung và bảo hiểm nhân thọ nói riêng có những đặc điểm rất khác so với các loại sản phẩm khác - Bảo hiểm nhân thọ ra đời đã đánh dấu một bước ngoặt lớn trong việc thực hiện và giải quyết các nhu cầu tài chính liên quan đến con người trong trường hợp người được bảo hiểm gặp phải rủi ro tử vong, thương tật vĩnh viễn, mất sức lao động.
Mọi người đều coi BHNT là giải pháp thực tiễn để có thể đáp ứng những nhu cầu tài chính cho họ: chuẩn bị một tài sản hay một nguồn vốn để bảo vệ sự an tòan tài chính cho gia đình cũng như trang bị cho con em sẽ có một trình độ học vấn cao trong tương lai. BHNT thực chất là bảo hiểm cho tính mạng, tình trạng sức khỏe và những sự kiện có liên quan đến tuổi thọ của con SVTH: Nguyễn Hoàng Thảo Anh 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trần Vũ Khánh Duy người. - Có thể nói một cách ngắn gọn, bảo hiểm nhân thọ là sự cam kết giữa công ty bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm (người được bảo hiểm) trong đó: Công ty bảo hiểm có trách nhiệm trả cho người tham gia bảo hiểm mọt khoản tiền nhất định khi có nhữn sự kiện định trước liên quan đến cuộc sống (người được bảo hiểm bị chết, thương tật toàn bộ vĩnh viễn, hay còn sống đến một thời điểm chỉ rõ trong hợp đồng).
Còn người tham gia bảo hiểm có trách nhiệm nộpphí bảo hiểm theo quy địnhcho công ty bảo hiểm đầy đủ và đúng hạn. - Bảo hiểm nhân thọ ra đời đã đánh dấu một bước ngoặt lớn trong việc thực hiện và giải quyết các nhu cầu tài chính liên quan đến con người trong trường hợp người được bảo hiểm gặp phải rủi ro tử vong, thương tật vĩnh viễn, mất sức lao động. Mọi người đều coi BHNT là giải pháp thực tiễn để có thể đáp ứng những nhu cầu tài chính cho họ: chuẩn bị một tài sản hay một nguồn vốn để bảo vệ sự an tòan tài chính cho gia đình cũng như trang bị cho con em sẽ có một trình độ học vấn cao trong tương lai.BHNT thực chất là bảo hiểm cho tính mạng, tình trạng sức khỏe và những sự kiện có liên quan đến tuổi thọ của con người.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ -Doanh nghiệp là những tổ chức kinh tế độc lập cơ bản của nền kinh tế, có tư cách pháp nhân, hoạt động sản xuất và kinh doanh trên thị trường vì mục đích tối đa hóa lợi nhuận và phát triển của xã hội. Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
SVTH: Nguyễn Hoàng Thảo Anh 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trần Vũ Khánh Duy -Là loại hình dịch vụ tài chính, một sản phẩm vô hình, người mua bảo hiểm đống tiền cho doanh nghiệp bảo hiểm và nhận lại một lời cam kết sẽ được trả tiền khi những sự kiện bảo hiểm được xác định trước phát sinh mà không biết chắc sự kiện đó xảy ra hay không cũng như không xác định được thời điểm phát sinh thời điểm phát sinh sự kiện đó. Khác với các hàng hóa thông thường, người mua BHNT không thử dùng thử đẻ biết chất lượng sản phảm mà chỉ có thể dùng thật và thời hạn thời gian dài. - Tổ chức hoạt động kinh doanh theo định hướng thị trường: Trước đây, các công ty bảo hiểm nhân thọ có xu hướng là tổ chức theo định hướng sản phấm nên chỉ tập trung vào bán sản phẩm với giá cạnh tranh thông qua các hệ thống phân phối mà không quan tâm đến nhu cầu và sở thích của khách hàng.
Ngày nay, Công ty bảo hiểm nhân thọ trở thành một tổ chức theo định hướng thị trường, có nghĩa là công ty bảo hiểm nhân thọ chú trọng đến nhu cầu của khách hàng trên thị trường. Sau khi xác định được nhu cầu khách hàng, công ty bảo hiểm nhân thọ phát triển và thiết kế sản phẩm cũng như tổ chức các kênh phân phối để đáp ứng những nhu cầu đó. Khi các công ty bảo hiểm nhân thọ có thể thõa mãn các nhu cầu và mong muốn của khách hàng thì thị trường sẽ vận hành hiệu quả hơn. -Bảo hiểm nhân thọ có đối tượng kinh doanh rất đặc biệt gắn liền vơi chu kì “sinh, lão , bệnh, tử “ của con người, nên BHNT không thể bù đắp lai được những tổn thất về sinh mạng, sức khỏe khả năng lao động và tinh thần của cho người được bảo hiểm và người thân của họ mà chỉ bù đắp một phần nào về mặt tài chính mà những tổn thất này gây ra.
Nên nhu cầu về bảo hiểm nhân thọ là thụ động, khách hàng không tự động tìm đến doanh nghiệp để mua BHNT mà thường chỉ mưa khi được người bán bảo hiểm (Tư vấn viên) tư vấn, thuyết phục và vận đông thường qa rất nhiều lần. - Hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ cung cấp các dịch vụ đảm bảo tài chính: Công ty bảo hiểm nhân thọ phát triển sản phẩm và cung cấp những SVTH: Nguyễn Hoàng Thảo Anh 9 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trần Vũ Khánh Duy dịch vụ giúp cá nhân và tổ chức quản lý những tổn thất tài chính liên quan đến một số rủi ro để đảm bảo ổn định tài chính cho người tham gia bảo hiểm. Những người được bảo hiểm đầy đủ sẽ vững tâm để theo đuổi những kế hoạch của mình trong cuộc sống.nhiệm bảo hiểm đã được xác định trước và phát sinh từ các hợp đồng.
- Hoạt động kinh doanh bảo hiểm luôn luôn phải có dự phòng nghiệp vụ: Dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm là số tiền mà doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm,doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài phải trích lập nhằm mục đích thanh toán cho những trách nhiệm bảo hiểm đã được xác định trước và phát sinh từ các hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng tái bảo hiểm đã giao kết.Luật kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam quy định về các loại dự phòng nghiệp vụđối với Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ gồm có: + Dự phòng toán học: Là khoản chênh lệch giữa giá trị hiện tại của số tiền bảo hiểm và giá trị hiện tại của phí bảo hiểm sẽ thu được trong tương lai, được sử dụng để trả tiền bảo hiểm đối với những trách nhiệm đã cam kết khi xẩy ra sự kiện bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ được chủ động lựa chọn phương pháp tríchlập dự phòng toán học đối với các hợp đồng bảo hiểm có thời hạn trên 1 năm để đảm bảo được các trách nhiệm bảo hiểm trong tương lai như: phương pháp phí bảo hiểm gộp, phương pháp phí bảo hiểm thuần, phương pháp phí bảo hiểm thuần có điều chỉnh Zillmer hoặc các phương pháp khác theo thông lệ quốc tế. + Dự phòng bồi thường: Dự phòng bồi thường cho các yêu cầu đòi bồi thường chưa được giải quyết: được trích theo phương pháp từng hồ sơ với mức trích lập được tính trên cơ sở thống kê số tiền bảo hiểm phải trả cho từng hồ sơ đã yêu cầu đòi doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ bồi thường nhưng đến cuối năm tài chính chưa được giải quyết.