phần mở đầu và kết luận, đề án được kết cấu theo 3 phần: PHẦN 1: CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN PHẦN 2: NỘI DUNG CỦA ĐỀ ÁN PHẦN 3: CÁC ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ 5 PHẦN 1: CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 1. Các khái niệm cơ bản 1. Nhân lực Theo Mai Thanh Lan và Nguyễn Thị Minh Nhàn (2016): “Nhân lực trong tổ chức doanh nghiệp được hiểu là toàn bộ những người làm việc trong tổ chức/doanh nghiệp được trả công, khai thác và sử dụng có hiệu quả nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức/doanh nghiệp”. Từ khái niệm trên có thể thấy: nhân lực trong doanh nghiệp là toàn bộ con người làm trong doanh nghiệp, được doanh nghiệp tuyển dụng, sử dụng, quản lý và trả công.
Hiện nay vị trí và vai trò của nhân lực ngày càng được khẳng định rõ vì nhân lực chính là chủ thể thực hiện toàn bộ hoạt động trong doanh nghiệp, đặc biệt là sáng tạo, vận hành và sử dụng hiệu quả các nguồn lực khác. Chất lượng nhân lực của doanh nghiệp Theo Mai Thanh Lan và Nguyễn Thị Minh Nhàn (2016): “Chất lượng nhân lực là mức độ đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu sử dụng nhân lực của tổ chức/doanh nghiệp. Để có đội ngũ nhân lực đảm bảo chất lượng, tổ chức/doanh nghiệp cần xác định rõ những yêu cầu về năng lực đối với nhân lực ở từng vị trí, chức danh, công việc. Năng lực của nhân lực được thể hiện ở trình độ học vấn giáo dục, chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng, phẩm chất thái độ, thể chất, tình trạng sức khỏe,.
Theo Nguyễn Tiệp (2011) thì: “Chất lượng nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp về những người thuộc nguồn nhân lực được thể hiện ở các mặt sau đây: sức khỏe người lao động, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật, năng lực thực tế về tri thức, kỹ năng nghề nghiệp, tính năng động xã hội (gồm khả năng sáng tạo, sự linh hoạt, nhanh nhẹn trong công việc,.), phẩm chất đạo đức, tác phong, thái độ đối với công việc, môi trường làm việc, hiệu quả hoạt động lao động của nguồn nhân lực và thu nhập mức sống và mức độ thỏa mãn nhu cầu cá nhân (gồm nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần của người lao động)”. Theo Vũ Hồng Liên (2013) “Chất lượng nguồn nhân lực là toàn bộ năng lực của lực lượng lao động được biểu hiện thông qua ba mặt: thể lực, trí lực, tâm lực. Ba mặt này có quan hệ chặt chẽ với nhau cấu thành chất lượng nguồn nhân lực”. Ba mặt cụ thể về thể lực, trí lực và tâm lực tạo nên mối quan hệ gắn kết với nhau thể hiện chất lượng của nguồn nhân lực trong tổ chức.
Theo Phùng Rân, “Chất lượng nguồn nhân lực được đánh giá qua hai tiêu chí: năng lực hoạt động của nhân lực và phẩm chất đạo đức của nhân lực. Năng lực hoạt động có được thông qua đào tạo, huấn luyện, thời gian làm việc hay học hàm, học vị, 6 cấp bậc trong công việc và kỹ năng giải quyết công việc. Năng lực này là kết quả đào tạo giáo dục của cả cộng đồng chứ không riêng một tổ chức nào”. Theo quan điểm này, năng lực của nguồn nhân lực thuộc về chuyên môn của nguồn nhân lực.
Việc xây dựng các tiêu chí đánh giá năng lực nhân lực dễ dàng hơn phẩm chất nhân lực. Phẩm chất đạo đức nhân lực được biểu hiện qua thái độ, ý thức, phong cách làm việc, văn hóa doanh nghiệp,. Tiêu chí này khó đo lường bởi chịu chi phối bởi tâm lý bên trong. Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau về chất lượng nhân lực nhưng xét theo cách tiếp cận của đề án thì: “Chất lượng nhân lực trong doanh nghiệp là mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của người lao động trên các phương diện: thể lực, tâm lực, trí lực so với yêu cầu công việc cụ thể nhằm đạt được mục tiêu chung trong doanh nghiệp”.
Nâng cao chất lượng nhân lực của doanh nghiệp Theo Võ Đức Huy (2018) “Nâng cao chất lượng nhân lực trong doanh nghiệp là việc thực hiện các biện pháp làm gia tăng mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của nguồn nhân lực trên các phương diện: thể lực, trí lực, tâm lực so với yêu cầu công việc cụ thể nhằm đạt được mục tiêu chung của tổ chức.” Nâng cao chất lượng nhân lực là sự tăng cường sức mạnh và kỹ năng hoạt động sáng tạo của năng lực thể chất và năng lực tinh thần của lực lượng lao động lên đến một trình độ nhất định để lực lượng này có thể hoàn thành được nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong một giai đoạn phát triển của một quốc gia, một tổ chức. Do đó, chất lượng nhân lực chính là động lực trực tiếp cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Thông qua chất lượng nhân lực thể hiện rõ trình độ phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia, chất lượng cuộc sống, mức độ văn hóa của dân cư. Nâng cao chất lượng nhân lực trong doanh nghiệp là tổng thể các nội dung, phương thức làm biến đổi các yếu tố cấu thành chất lượng nhân lực theo hướng phát triển một cách hợp lý về quy mô và trình độ nhằm đáp ứng mục tiêu của doanh nghiệp.
Thông qua các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, chăm sóc sức khỏe nhân lực về cả thể lực lẫn tinh thần, khai thác tối đa tiềm năng đó trong quá trình tuyển dụng. kích thích động cơ, thái độ làm việc của người lại động để họ hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao. Lý luận về chất lượng nhân lực của doanh nghiệp 1. Đặc điểm, phân loại nhân lực của doanh nghiệp * Đặc điểm, phân loại nhân lực theo độ tuổi Nhân lực trong độ tuổi 18 – 25 tuổi: đây là những nhân lực mới tham gia vào doanh nghiệp, là nhân lực mới, chưa có hoặc chưa có nhiều kinh nghiệm làm việc.
Đối với nhân lực ở độ tuổi này, doanh nghiệp cần có các chiến lược đào tạo phù hợp về 7 kiến thức để nhân lực đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp. Vừa học tập nâng cao kiến thức, vừa rèn luyện nâng cao kỹ năng, thêm vào đó doanh nghiệp cũng cần đào tạo về văn hoá doanh nghiệp cho nhân lực mới để nhân lực thích nghi được với doanh nghiệp, có thái độ làm việc đúng đắn và phù hợp. Nhân lực ở độ tuổi này tuy chưa cống hiến được nhiều cho doanh nghiệp nhưng lại là những nhân tố tiềm năng, ở họ có nhiệt huyết của tuổi trẻ và sự sáng tạo, đam mê, chưa lập gia đình, nên sẽ có nhiều thời gian cống hiến cho doanh nghiệp một cách hết mình. Doanh nghiệp nếu phát triển tốt nhân lực này thì sau này sẽ có được lực lượng lao động chất lượng trong tương lai.
Nhân lực trong độ tuổi 25 – 35: đây là những nhân lực đã tham gia lao động được một khoảng thời gian, đã có những kinh nghiệm nhất định. Nếu là những người mới gia nhập vào doanh nghiệp, họ chỉ cần được đào tạo qua về kiến thức kỹ năng là đã có thể bắt nhịp được ngay với nhu cầu của doanh nghiệp. Nếu là những người gắn bó với doanh nghiệp từ đầu thì đây chính là lực lượng nòng cốt của doanh nghiệp. Là những người nắm rõ nhất cơ cấu doanh nghiệp, hiểu được những gì mình đang làm và có kỹ năng tốt, thái độ tốt trong công việc.
Nhân lực ở độ tuổi này thường đã lập gia đình và có tính ổn định cao, thưởng sẽ gắn bó lâu dài với doanh nghiệp. Doanh nghiệp nên có những chính sách tốt để giữ chân những nhân lực này, nhưng đoạn nghiệp cũng cần có những chính sách phù hợp để nhân lực không ngừng nâng cao kiến thức, kỹ năng và thái độ làm việc để đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp, sự phát triển không ngừng của nền kinh tế và khoa học công nghệ. - Nhân lực trong độ tuổi 35 – 40: Đây là những nhân lực đã có nhiều kinh nghiệm trong công việc, có kiến thức tốt, kỹ năng tốt và thái độ tốt. Những người ở độ tuổi này thường nắm những vị trí quan trọng trong doanh nghiệp, thường là những nhà quản lý.
Tuy nhiên, để doanh nghiệp phát triển tốt hơn thì đối với nhân lực ở độ tuổi này, doanh nghiệp cũng cần có những chiến lược đào tạo nhất định để họ cập nhật được sự phát triển mới trong ngành, tránh tình trạng ngủ quên trên chiến thắng hoặc cứ áp dụng những quy tắc đã cũ, không còn hợp thời vào công việc. - Nhân lực ngoài 40 tuổi: những người ở độ tuổi này thường đã cống hiến rất nhiều cho doanh nghiệp, có kinh nghiệm dày dặn kiến thức, kỹ năng và thái độ làm việc đều ở mức cao. Những người này thưởng nắm những chức vụ nhất định trong doanh nghiệp. Tuy nhiên lao động ở độ tuổi này đa số cũng có những hạn chết nhất định về việc cập nhật những kiến thức mới hoặc trào lưu kinh doanh và cũng khá khó để thay đổi.
Chính vì thế, doanh nghiệp cũng cần có những chính sách hợp lý để vừa giữ chân và vừa nâng cao được chất lượng nhân lực cho lao động ở độ tuổi này. * Đặc điểm, phân loại nhân lực theo trình độ - Nhân lực có trình độ phổ thông: đây là những nhân lực tốt nghiệp phổ thông. thường không có kiến thức chuyên môn về công việc của doanh nghiệp, họ sẽ hỗ trợ 8 những công việc liên quan đến môi trường doanh nghiệp. Những người này thường chiếm số lượng nhỏ trong doanh nghiệp.
Tuy nhiên, họ cũng chính là những người góp phần tạo nên văn hoá doanh nghiệp, thái độ hay kỹ năng làm việc cũng có ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển của doanh nghiệp. - Nhân lực có trình độ trung cấp, cao đẳng: Thưởng là những người tốt nghiệp các trung cấp hoặc cao đẳng nghề, có kiến thức cơ bản về chuyên môn, nhưng lại có kỹ năng làm việc tốt do đã được đào tạo kỹ từ các trung tâm đào tạo nghề nghiệp. Những người này thường đảm nhận những công việc được giao từ cấp trên, họ sẽ có kỹ năng tốt để thực hiện tốt công việc. Để doanh nghiệp phát triển bền vững thì doanh nghiệp cần có những chiến lược đào tạo phù hợp để nhân lực này nâng cao được kiến thức, phát huy tốt kỹ năng và có thái độ tốt trong công việc.
- Nhân lực có trình độ đại học: Là những người được đào tạo bài bản về chuyên môn, kỹ năng và thái độ làm việc. Những người này thường có chuyên môn khá sâu và có tầm nhìn khái quát về công việc, có nhận thức tốt và thường nắm bắt và bắt nhịp với công việc rất nhanh.