Chương 1 - Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu “hoàn thiện quy trình KSNB chi đầu tư qua KBNN trên địa bàn tỉnh Bình Phước”; - Chương 2 – Tổng quan về KSNB và quy trình KSNB chi đầu tư qua KBNN; - Chương 3 – Tổng quan về KBNN Bình Phước và thực trạng quy trình KSNB chi đầu tư qua KBNN; - Chương 4 – Đánh giá thực trạng quy trình KSNB chi đầu tư qua KBNN tại tỉnh Bình Phước - Chương 5 – Kiến nghị hoàn thiện quy trình KSNB chi đầu tư qua KBNN tại tỉnh Bình Phước. Những mong muốn đóng góp của đề tài - Hệ thống hóa các cơ sở lý thuyết liên quan đến KSNB, quy trình KSNB chi đầu tư qua KBNN; - Tóm tắt bức tranh thực trạng quy trình KSNB chi đầu tư qua KBNN trên địa bàn tỉnh Bình Phước; - Giới thiệu các quan điểm và các giải pháp cụ thể hoàn thiện quy trình KSNB chi đầu tư qua KBNN trên địa bàn tỉnh Bình Phước. 8 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ KSNB VÀ QUY TRÌNH KSNB CHI ĐẦU TƯ QUA KBNN 2. Tổng quan về kiểm soát nội bộ (KSNB) 2.
Khái niệm và hệ thống KSNB KSNB được tiếp cận và nhận định với nhiều khái niệm khác nhau gắn liền với quá trình hình thành, phát triển của nó. Tuy nhiên, hai định nghĩa gần đây nhất có tính ảnh hưởng lớn đến nghiên cứu và ứng dụng kiểm soát nội bộ đó là quan điểm về KSNB theo Báo cáo COSO 1992 và Báo cáo COSO 2004 Khái lược về COSO COSO là một Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về việc chống gian lận về báo cáo tài chính (National Commission on Financial Reporting, hay còn được gọi là Treadway Commission). Ủy ban này bao gồm đại diện của Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA), Hiệp hội Kiểm toán viên nội bộ (IIA), Hiệp hội Quản trị viên tài chính (FEI), Hiệp hội Kế toán Hoa Kỳ (AAA), Hiệp hội kế toán viên quản trị (IMA). Từ mục tiêu giám sát, hạn chế, khắc phục sự gian lận tại các công ty ở Mỹ cũng như sự quan tâm của xã hội đến KSNB, COSO được thành lập nhằm nghiên cứu về KSNB, cụ thể là: thống nhất định nghĩa về KSNB để phục vụ cho nhu cầu của các đối tượng khác nhau có liên quan; công bố đầy đủ một hệ thống tiêu chuẩn để giúp các đơn vị có thể tiếp cận, đánh giá, xây dựng hệ thống kiểm soát, quy trình trình KSNB của họ và tìm giải pháp để hoàn thiện.
Khái niệm và các bộ phận cấu thành hệ thống KSNB Theo COSO 1992 Báo cáo COSO 1992 cung cấp một hệ thống lý luận từ sự kế thừa và phát triển các nghiên cứu trước đó về KSNB và là báo cáo đầy đủ nhất ở thời kỳ bấy giờ. Theo báo cáo COSO 1992: “Kiểm soát nội bộ là một quá trình do người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị chi phối, nó được thiết lập để cung 9 cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện ba mục tiêu dưới : Báo cáo tài chính đáng tin cậy; các luật lệ và quy định được tuân thủ; hoạt động hữu hiệu và hiệu quả.” Định nghĩa trên, KSNB gắn liền với bốn nội dung cơ bản là : quá trình, con người, đảm bảo hợp lý và mục tiêu. - KSNB là một quá trình : vấn đề này thể hiện KSNB bao gồm một chuỗi hoạt động kiểm soát hiện diện ở mọi bộ phận trong đơn vị và được kết hợp với nhau thành một thể thống nhất tạo nên hệ thống kiểm soát và là phương tiện để giúp cho đơn vị đạt được các mục tiêu của mình. - KSNB được thiết kế và vận hành bởi con người điều này thể hiện KSNB không chỉ đơn thuần là những chính sách, thủ tục biểu mẫu mà bao gồm cả những con người trong tổ chức có liên quan như Hội đồng quản trị, Ban Giám Đốc, các nhân viên khác và chính con người định ra mục tiêu, thiết lập cơ chế kiểm soát ở mọi nơi và vận hành chúng.
- KSNB cung cấp một sự đảm bảo hợp lý chứ không đảm bảo sự tuyệt đối các mục tiêu được thực hiện nên khi vận hành kiểm soát những yếu kém có thể xẩy ra do các sai lầm của con người nên dẫn đến không thực hiện được các mục tiêu. KSNB có thể ngăn chặn và phát hiện những sai phạm nhưng không thể đảm bảo là chúng không bao giờ xảy ra. Ngoài ra, một nguyên tắc cơ bản trong việc đưa ra quyết định quản lý là chi phí cho quá trình kiểm soát không thể vuợt quá lợi ích được mong đợi từ quá trình kiểm soát đó. Do đó, tuy người quản lý có thể nhận thức đầy đủ về các rủi ro, thế nhưng, nếu chi phí cho việc kiểm soát quá cao thì họ vẫn không áp dụng các thủ tục để kiểm soát rủi ro.
- Mục tiêu của KSNB sẽ khác nhau với những hoạt động khác nhau. Với KSNB về báo cáo tài chính, KSNB hướng đến đảm bảo về tính trung thực và đáng tin cậy; với sự KSNB về tính tuân thủ, KSNB hướng đến đảm bảo sự hợp lý trong chấp hành luật pháp, quy định; với KSNB về sự hữu hiệu và hiệu quả, KSNB 10 giúp đơn vị bảo vệ và sử dụng có hiệu quả nguồn lực kinh tế trong hoạt động, bảo mật thông tin, duy trì và nâng cao uy tín,. Trên cơ sở luận điểm trên, hệ thống KSNB theo COSO 1992 gồm 5 bộ phận cấu thành chính là : môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát. Các nội dung cụ thể từng bộ phận thể hiện tóm tắt qua Bảng 2.1: Các bộ cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ Bộ phận Nội dung chủ yếu Các nhân tố Môi trường Tạo ra sắc thái chung - Tính chính trực và giá trị đạo đức.
kiểm soát của một tổ chức, chi - Đảm bảo về năng lực. phối đến ý thức kiểm - Hội đồng quản trị và Ủy ban kiểm toán. soát của mọi người trong tổ chức, là nền - Triết lý quản lý và phong cách điều tảng cho mọi bộ phận hành. khác của kiểm soát - Cơ cấu tổ chức.
- Phân định quyền hạn và trách nhiệm. - Chính sách về nhân sự. Đánh giá Đơn vị phải nhận biết - Xác định mục tiêu của đơn vị. rủi ro và đối phó với các rủi - Nhận dạng rủi ro.
ro bằng cách thiết lập - Phân tích và đánh giá rủi ro. mục tiêu của tổ chức và hình thành cơ chế để nhận dạng, phân tích và đánh giá các rủi ro có liên quan. Hoạt động Các chính sách và các - Phân chia trách nhiệm đầy đủ. kiểm soát thủ tục để giúp đảm 11 bảo là những chỉ thị - Kiểm soát quá trình xử lý thông tin.
của nhà quản lý được - Kiểm soát vật chất. thực hiện và có các hành động cần thiết đối với các rủi ro nhằm đạt được mục tiêu của đơn vị. Thông tin Hệ thống thông tin - Hệ thống thông tin, bao gồm cả hệ và truyền được thiết lập để mọi thống thông tin kế toán phải đảm bảo thông thành viên trong đơn chất lượng thông tin. vị có khả năng nắm - Truyền thông bảo đảm các kênh thông bắt và trao đổi thông tin bên trong và bên ngoài đều hoạt động tin cần thiết cho việc hữu hiệu.
điều hành, quản trị và kiểm soát các hoạt động. Giám sát Toàn bộ quy trình - Giám sát thường xuyên: thông qua việc hoạt động phải được thu thập thông tin trong nội bộ và bên giám sát và điều chỉnh ngoài; đối chiếu số liệu thực tế và sổ cần thiết. Hệ thống sách,. hoặc xem xét các báo cáo hoạt phải có khả năng phản động để phát hiện các biến động bất ứng năng động, được thường.
thay đổi theo yêu cầu - Giám sát định kỳ: thực hiện thông qua của môi trường bên các cuộc kiểm tra định kỳ của đơn vị trong và bên ngoài. kiểm toán độc lập hoặc đơn vị kiểm toán nội bộ. Khái niệm và các bộ phận cấu thành hệ thống KSNB Theo COSO 2004 12 KSNB theo Báo cáo COSO 1992 ra đời và đã đóng góp khá tích cực cho nghiên cứu, ứng dụng trong kiểm soát và nó cũng được liên tục bổ sung, hoàn thiện, tuy nhiên, sự thay đổi môi trường hoạt động, nhất là những vấn đề rủi ro, quản trị rủi ro dẫn đến KSNB theo COSO rơi vào một số hạn chế, khiếm khuyết. Vì vậy, sự ra đời một công bố mới về KSNB của COSO 2004.
Trên cơ sở tiếp cận và bổ sung những vấn đề mới về KSNB, hệ thống KSNB theo COSO 2004 so với COSO 1992 có các điểm giống và khác nhau sau: Về quan điểm, hệ thống KSNB theo COSO 2004 vẫn tương tự như quan điểm của COSO 1992 nhưng bổ sung, nhấn mạnh đến quản trị rủi ro. Cụ thể, quan điểm về rủi ro được thể hiện, bổ sung như sau : Quản trị rủi ro doanh nghiệp là một quá trình do hội đồng quản trị, các cấp quản lý và các nhân viên của đơn vị chi phối, được áp dụng trong việc thiết lập các chiến lược liên quan đến toàn đơn vị và áp dụng cho tất cả các cấp độ trong đơn vị, được thiết kế để nhận dạng các sự kiện tiềm tàng có thể ảnh hưởng đến đơn vị và quản trị rủi ro trong phạm vi chấp nhận được rủi ro nhằm cung cấp một sự đảm bảo hợp lý về việc đạt được các mục tiêu của đơn vị. Cụ thể, Về các bộ phận cấu thành : Các bộ phận cấu thành hệ thống KSNB theo COSO 2004 so với COSO 1992 bổ sung thêm ba bộ phận mới là thiết lập mục tiêu, nhận dạng sự kiện, đối phó rủi ro. Như vậy, các bộ phận cấu thành hệ thống KSNB gồm có: Môi trường kiểm soát; Thiết lập mục tiêu; Nhận dạng sự kiện; Đánh giá rủi ro; Đối phó với rủi ro; Hoạt động kiểm soát; Thông tin và truyền thông; Giám sát.
13 Với các bộ phận cấu thành trên, các vấn đề cần chú ý khi nghiên cứu, vận dụng vào KSNB là : Môi trường quản lý : Quản trị rủi ro được nhìn nhận từ triết lý của nhà quản lý là một yếu tố hợp thành của môi trường quản lý. Điều này cho thấy quản trị rủi ro đã được nhìn nhận là tất yếu và không thể bỏ qua, đơn vị phải nhận thức được rủi ro và cách thức quản lý chúng trong hệ thống KSNB. Hai nhân tố chính thuộc về môi trường quản lý liên quan đến KSNB về rủi ro là: - Triết lý của nhà quản lý về quản trị rủi ro.