Chương 1: Tổng quan về ván đề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về quy trình cung ứng dịch vụ giao nhận hàng hóa bằng đường hàng không tại Công ty TNHH thương mại và giao nhận C.I Việt Nam Chương 3: Thực trạng quy trình vận chuyển hàng hóa bảng đường hàng không tại Công ty TNHH thương mại và giao nhận C.I Việt Nam Chương 4: Định hướng phát triển và đề xuất giải pháp hoàn thiện quy trình cung ứng dịch vụ vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không của Công ty TNHH thương mại và giao nhận C.I Việt Nam 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY TRÌNH CUNG ỨNG DỊCH VỤ GIAO NHẬN HÀNG HÓA BẰNG ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG TẠI CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI VÀ GIAO NHẬN C. Khái quát về dịch vụ giao nhận hàng hóa bằng đường hàng không 2. Khái niệm Khái niệm về dịch vụ vận tải đường hàng không Theo Điều 109, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam 2006: Vận chuyển hàng không là việc vận chuyển hành khách, hành lý, hàng hóa, bưu phẩm, bưu kiện, thư bằng đường hàng không. Vận chuyển hàng không bao gồm vận chuyển hàng không thường lệ và vận chuyển hàng không không thường lệ.
Khái niệm về giao – nhận hàng hóa và dịch vụ giao nhận hàng hóa bằng đường hàng không Quy định tại Điều 163, Luật Thương mại Việt Nam năm 1997, dịch vụ giao nhận hàng hóa là hành vi thương mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa nhận hàng từ người gửi, tổ chức vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhận theo ủy thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc của người giao nhận khác. Theo quy tắc mẫu của Liên đoàn các Hiệp hội Giao nhận Vận tải Quốc tế (FIATA) về dịch vụ giao nhận được định nghĩa là bất kỳ dịch vụ nào liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hóa. Như vậy, dịch vụ giao nhận hàng hóa bằng đường hàng không là tập hợp các nghiệp vụ và thủ tục liên quan tới quá trình vận tải hàng hóa được chuyển (trên chuyến bay thương mại) hoặc chuyên chở trên máy bay (thuê chuyến). Dịch vụ vận tải đường hàng không bao gồm thư tín (airmail), chuyển phát nhanh (air express) và hàng vận tải (air freight).
Vai trò dịch vụ Dịch vụ giao nhận hàng hóa bằng đường hàng không là mắt xích quan trọng trong việc kết nối chuỗi cung ứng toàn cầu, giúp kết nối mạng lưới giao thông vận tải trên toàn thế giới một cách dễ dàng và hiệu quả. Sự phát triển mạnh mẽ của ngành vận tải hàng không kéo theo sự thúc đẩy tăng trưởng của nền kinh tế, văn hóa và xã hội, nhất là 8 ở những quốc gia đang phát triển khi tạo được môi trường lao động, cung cấp công ăn việc làm cho nhiều người dân. Hàng không vận chuyển gần 2 tỷ hành khách mỗi năm, riêng đối với Việt Nam, các hãng hàng không vận chuyển ước tính đạt 58 triệu khách (2023). Với ưu thế tuyệt đối về tốc độ so với những phương thức vận chuyển, vận tải hàng không là lựa chọn ưu tiên hàng đầu trong việc vận chuyển một số mặt hàng đặc thù, quý hiếm, có giá trị cao, thời gian ở nhiệt độ thường ngắn, thư từ, điện tín, hàng hỗ trợ khẩn cấp,… đòi hỏi sự nhanh chóng về mặt thời gian cũng như đảm bảo về mặt chất lượng.
Theo số liệu báo cáo, có tới 70% công ty bán hàng phụ thuộc vào vận tải hàng không khi muốn gia nhập vào thị trường khác. Tuy ra đời kém tuổi hơn các hình thức vận tải khác, song đến nay hàng không chiếm tỉ lệ cao (65% đến 70%) về hiệu quả sử dụng nguồn lực và cơ sở hạ tầng, gấp đôi đường bộ và đường sắt với việc vận chuyển gần 30% giá trị hàng hóa toàn cầu, tương ứng với 1% tổng khối lượng hàng hóa giao thương quốc tế. Phương thức vận chuyển hàng hóa này cũng thường được kết hợp cùng các phương thức vận tải khác như nhận hàng và vận tải đường bộ để giao tới người mua hàng. Nhờ đó, hàng hóa được vận chuyển và tiếp cận những vùng địa lý khó có khả năng vượt qua bằng những phương thức thông thường.
Điều này được minh chứng rõ ràng qua những chương trình cứu trợ cho các thảm họa thiên nhiên, chiến tranh,. Đặc điểm dịch vụ Ngành dịch vụ vận tải hàng không mới chỉ phát triển từ những năm đầu thế kỷ XX, sinh sau đẻ muộn hơn nhiều so với những phương thức vận tải khác. Tuy vậy, nhờ các tiến bộ khoa học kỹ thuật mà tốc độ phát triển của dịch vụ vận tải hàng không vượt bậc, mang những ưu thế vượt trội so với các phương thức vận tải khác: Ưu điểm: Dịch vụ vận tải hàng không giúp tiết kiệm chi phí so với giá trị cao của mặt hàng: Các tuyến đường vận tải hàng không là trên không trung, không bị phụ thuộc vào địa hình mặt đất, mặt nước. Đồng thời, phương thức vận tải này cũng không cần đầu tư xây dựng cầu đường hỗ trợ.
Do đặc tính hàng hóa cần vận chuyển nhanh, tốc độ xử lý các thủ tục được đơn giản hóa bởi việc bay thẳng, không có các trạm kiểm tra vì những quy trình đó đã được thực hiện trước khi hàng được vận chuyển lên khoang nên có thể tiết 9 kiệm được chi phí lưu kho. So với các phương thức vận chuyển khác, vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không có ưu điểm là phí bảo hiểm thấp hơn rất nhiều, rủi ro cũng giảm thiểu bởi không có chướng ngại về mặt địa lý hay nhiệt độ, thời tiết trong hành trình chuyên chở. Các máy bay hiện nay đang sử dụng 3,5l nhiên liệu cho 100 người / km. Số liệu này vượt qua hiệu quả của bất kỳ một chiếc xe nào trên thị trường hiện nay.
Tốc độ và sự đảm bảo là ưu thế tuyệt đối của dịch vụ vận tải hàng không: Vận tốc trung bình của một máy bay chở hành khách vào khoảng 800 – 1000 km/h và tuyến đường vận tải hàng không hầu như là đường thẳng nên hiện nay, tốc độ vận tải của phương thức này đang là nhanh nhất, có thể kết nối hầu hết mọi quốc gia. Nhờ thời gian di chuyển nhanh chóng nên hàng hóa được vận tải bằng máy bay sẽ được bảo vệ hiệu quả, giữ được giá trị cao, hạn chế hư hỏng. Cùng với những công nghệ tối tân nhất, mọi quy trình diễn ra từ việc nhận hàng đến vận chuyển lên khoang máy bay đều có quy trình chặt chẽ và nghiêm ngặt. Ở độ cao hơn 9000m trên tầng điện ly, máy bay hầu như không bị tác động bởi các điều kiện thời tiết tự nhiên như sét, mưa,.
trong hành trình chuyên chở. Chính vì vậy, việc vận tải bằng đường hàng không đảm bảo an toàn gần như tuyệt đối, tránh những rủi ro phát sinh do đổ vỡ hàng hay trộm cắp. Sự đảm bảo về tính toàn vẹn của hàng hóa trong dịch vụ vận tải thì đường hàng không chiếm ưu thế tuyệt đối. Nhược điểm Chi phí lớn: Dễ hiểu khi vận tải hàng không có chi phí vận chuyển hàng hóa cao hơn gấp 5 – 6 lần so với vận tải bằng đường biển và gấp 2-4 lần so với vận tải bằng đường bộ do chi phí vận hành một tàu bay bao gồm cả chi phí nhiên liệu, chi phí nhân lực cao hơn so với nhân lực ở những phương thức vận tải thông thường, kích thước đồ sộ cũng như công nghệ tối tân được sử dụng ở cấu tạo vỏ lẫn thân máy bay.
Giới hạn về khối lượng và giá trị hàng: Việc có chi phí vận chuyển lớn tỉ lệ thuận với việc giá trị hàng hóa. Vận tải hàng không hạn chế vận chuyển những hàng hóa giá trị thấp, không gấp gáp về thời gian cũng như những mặt hàng có khối lượng lớn, cồng kềnh bởi khó khăn trong việc đóng gói và có phương án vận chuyển lên khoang phù hợp. Trọng tải của máy bay bao gồm cả việc chở hành khách nên hàng hóa quá cỡ sẽ khiến máy bay khó khởi hành và hạ cánh, tăng tiêu hao nhiên liệu và khó điều khiển hơn đặc biệt trong điều kiện thời tiết xấu. Do vậy, các hãng hàng không đều quy định rất 10 chặt chẽ về kích thước và trọng lượng tối đa trên mỗi kiện hàng nhằm đảm bảo an toàn cho tính mạng con người và hàng hóa.
Khả năng tiếp cận bị hạn chế: Dù có thể dễ dàng băng qua địa hình hiểm trở do bay trên cao nhưng dịch vụ vận tải hàng không có mức độ tiếp cận thấp khi máy bay chỉ được phép hạ cánh tại sân bay hay các bãi lớn có người điều hướng. Với những vùng địa lý không thể xây dựng sân bay bắt buộc doanh nghiệp phải chọn phương án vận chuyển khác. Các chủ thể tham gia quy trình cung ứng dịch vụ Công chúng Chính phủ Người gửi hàng Đơn vị vận tải Người nhận Dòng chứng từ/thanh toán Dòng thông tin Dòng hàng hóa Hình 2. Các chủ thể tham gia quy trình cung ứng dịch vụ Các chủ thể tham gia vào quy trình cung ứng dịch vụ bao gồm: Người gửi hàng (consignor), người nhận hàng (consignee), đơn vị vận tải (carrier), chính phủ và công chúng.
Trong đó: - Người gửi hàng (consignor): Là người có nhu cầu sử dụng dịch vụ vận tải đường hàng không. Người gửi ở đây là các doanh nghiệp hoặc cá nhân có nhu cầu sử dụng dịch vụ để vận tải một hoặc nhiều hàng hóa tới người nhận qua hình thức vận chuyển bằng đường hàng không. Người gửi có nhiệm vụ cơ bản là tập hợp lô hàng, đảm bảo chuẩn xác thời gian giao cho bên tiếp theo trong quy trình cung ứng, kiểm kê đúng đủ tránh xảy ra thiếu hụt, trao đổi và báo cáo kịp thời tình trạng hàng… 11 - Người nhận hàng (consignee): Là bên có nhiệm vụ cơ bản là nhận hàng hóa tại địa điểm đã giao ước, kiểm tra chất lượng và trả tiền đúng đủ theo đơn đặt hàng. Người nhận hàng thường là khách hàng trong các dịch vụ mua bán hàng hóa hoặc là người được người gửi có mong muốn chuyển hàng tới.
- Đơn vị vận tải (carrier): là các doanh nghiệp logistics chịu trách nhiệm vận tải hàng hóa cùng các hãng hàng không. Trong đó, các doanh nghiệp logistics cung cấp dịch vụ vận tải hàng hóa đúng quy trình tới nơi gửi hàng của các hãng hàng không. Các hãng hàng không sẽ phụ trách kiểm kê, đóng gói bảo đảm hàng hóa và vận chuyển tới sân bay gần địa điểm nhận hàng nhất.