CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VỐN VÀ QUẢN TRỊ VỐN TRONG CÁC CÔNG TY KINH DOANH 1. Khái niệm và vai trò của vốn trong các công ty kinh doanh 1. Khái niệm vốn kinh doanh Vốn là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản, hàng hoá và các nguồn lực mà doanh nghiệp bỏ vào trong hoạt động kinh doanh. Điều đó có nghĩa các tài sản hiện vật như nhà cửa, kho hàng, cửa hàng, tiền các loại và các tài sản vô hình khác của doanh nghiệp như thương hiệu, bản quyền, sở hữu công nghiệp.
là các biểu hiện của vốn. Vốn kinh doanh là khái niệm chung của nền sản xuất hàng hoá, là một trong hai điều kiện quan trọng có tính chất quyết định đến sản xuất và lưu thông hàng hóa. Trong điều kiện tồn tại nền sản xuất hàng hóa, vốn tồn tại dưới hai hình thức: giá trị và hiện vật. Về mặt giá trị, ở dưới hình thái tiền bao gồm nội tệ, ngoại tệ và các loại giấy tờ khác (hình thái tiền tệ là hình thái vốn ban đầu của doanh nghiệp).
Về mặt hiện vật, vốn tồn tại dưới hình thức máy móc, thiết bị, nhà xưởng, nguyên vật liệu.2 Phân loại vốn trong công ty Vốn của doanh nghiệp được phân chia thành nhiều loại trên các giác độ khác nhau. Việc phân chia này giúp cho các nhà quản lý hiểu rõ hơn về bản chất vốn cũng như các nguồn hình thành. Vốn của các doanh nghiệp kinh doanh chủ yếu tồn tại dưới hình thức vốn lưu động (trừ một số đơn vị đặc thù trong ngành sản xuất công nghiệp quốc phòng, khai mỏ, vận tải.hầu như 100% vốn cố định). Vốn được phân ra, sử dụng tuỳ thuộc vào mục đích và loại hình doanh nghiệp.
a) Phân loại vốn theo hình thức chu chuyển * Vốn cố định: VCĐ của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về TSCĐ mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi TSCĐ hết thời hạn sử dụng Trong quá trình sản xuất kinh doanh, sự vận động của nguồn vốn cố định được gắn liền với hình thái biểu hiện vật chất của nó là tài sản cố định. Tài sản cố định phải là những vật phẩm thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, trong một quan hệ sản xuất nhất định. Bản thân tính sử dụng lâu dài và chi phí cao vẫn chưa có thể là căn cứ duy nhất để xác định TSCĐ nếu nó không gắn liền với một quyền sở hữu thuộc về một doanh nghiệp, một cơ quan, hợp tác xã. 5 Theo quy định hiện hành (thông tư 45/2013/TT-BTC) thì những tư liệu lao động nào đảm bảo đáp ứng đủ hai điều kiện sau thì sẽ được coi là tài sản cố định: + Giá trị của chúng >= 30.000 đồng + Thời gian sử dụng >= 1 năm Tài sản cố định dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm: tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình: - Tài sản cố định hữu hình: những tư liệu được biểu hiện bằng hình thái vất chất cụ thể như nhà xưởng, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, vật kiến trúc.
- Tài sản cố định vô hình: những TSCĐ không có hình thái vật chất nhưng xác định giá trị và do doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc là cho các đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ vô hình ví dụ như: chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí về sử dụng đất, chi phí thu mua bằng phát minh sáng chế, nhãn hiệu thương mại. Vì vây, vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về TSCĐ mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi TSCĐ hết thời hạn sử dụng. * Vốn lưu động: VLĐ của doanh nghiệp là số tiền ứng trước về TSLĐ nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn. - Tài sản lưu động: TSLĐ khi tham gia quá trình sản xuất kinh doanh thường không giữ được hình thái vật chất ban đầu.
Là bộ chủ thể tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh và thông qua quá trình sản xuất tạo thành thực thể của sản phẩm, bộ phận khác cùng tham gia trong quá trình này bị biến đổi hay hao phí theo thực thể được hình thành. Đối tượng lao động chỉ tham gia vào một quá trình, chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp do đó toàn bộ giá trị của chúng được chuyển một lần vào sản phẩm và được thực hiện khi sản phẩm trở hành hàng hoá. Bên cạnh TSCĐ nằm trong khâu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì còn có một số loại tài sản khác được sử dụng trong một số khâu khác trong cả quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như; khâu lưu thông, các khoản hàng gửi bán, các khoản phải thu.Do vậy, trước khi tiến hành sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp bao giờ cũng để ra một khoản tiền nhất định dùng cho các trường hợp này, số tiền ứng trước cho tài sản người ta gọi là VLĐ của doanh nghiệp. Vốn lưu động có rất nhiều hình thái có thể chuyển đổi như: T-H-T/,H-T-H/.
Tức là nó được chuyển hoá từ tiền sang hàng hoá sau đó nó trở về trạng thái ban đầu sau khi đã phát triển được một vòng tuần hoàn và qua đó nó sẽ mang lại cho 6 doanh nghiệp số lãi hay không có lời thì điều này còn phụ thuộc vào sự quyết đoán trong kinh doanh của chủ doanh nghiệp. Căn cứ vào vai trò của từng loại VLĐ trong quá trình sản xuất kinh doanh mà vốn lưu động bao gồm: - VLĐ trong khâu sản xuất: là bộ phận vốn trực tiếp phục vụ cho quá trình sản xuất như: sản phẩm dở dang, chi phí chờ phân bổ, BTP tự gia công chế biến. - VLĐ trong khâu dự trữ sản xuất: là bộ phận vốn dùng để mua nguyên vật liệu, phụ tùng thay thế dự trữ và chuẩn bị dùng cho hoạt động sản xuất. - VLĐ dùng cho quá trình lưu thông: là bộ phận dùng cho quá trình lưu thông như: thành phẩm, vốn tiền mặt.
Căn cứ vào hình thái biểu hiện vốn lưu động bao gồm: - Vốn vật tư hàng hoá: là các khoản vốn có hình thái biểu hiện bằng hiện vật cụ thể như nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm. - Vốn bằng tiền: Bao gồm các khoản tiền tệ như tiền mặt tồn quỹ, tiền gửi ngân hàng, các khoản thanh toán, các khoản đầu tư ngắn hạn. b) Phân loại vốn theo nguồn hình thành * Vốn chủ sở hữu: là số vốn của các chủ sở hữu doanh nghiệp, các thành viên sáng lập, các nhà đầu tư góp vốn liên doanh, liên kết. * Vốn pháp định: số vốn tối thiểu mà doanh nghiệp phải có khi thành lập doanh nghiệp và số vốn này được nhà nước quy định tuỳ thuộc vào từng loại hình kinh doanh của doanh nghiệp.
* Vốn huy động của doanh nghiệp: là số vốn mà doanh nghiệp đứng ra huy động để đạt được số vốn cần thiết cho một dự án, công trình hay một nhu cầu thiết yếu của doanh nghiệp đòi hỏi trong một thời gian ngắn nhất bằng cách doanh nghiệp phải có sự liên doanh liên kết, phát hành trái phiếu hay huy động các nguồn vốn khác dưới hình thức vay nợ hay các hình thức khác. * Vốn vay: vay ngân hàng, các tổ chức tín dụng, các cá nhân hay các đơn vị kinh tế độc lập. Nguồn vốn vay rất quan trọng đối với doanh nghiệp, nó đáp ứng đúng thời điểm các khoản tín dụng ngắn hạn hoặc dài hạn tuỳ theo nhu cầu của doanh nghiệp. Ngoài ra còn hình thức vay vốn trên thị trường chứng khoán, bằng cách phát hành trái phiếu, đây là một hình thức quan trọng để sử dụng vào mục đích vay dài hạn để đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
7 * Vốn liên doanh liên kết: doanh nghiệp có thể liên kết, hợp tác với các doanh nghiệp khác nhằm huy động và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Đây là hình thức huy động vốn quan trọng vì huy động vốn liên doanh, liên kết gắn liền với việc chuyển giao công nghệ thiết bị giữa các bên tham gia nhằm đổi mới sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm và doanh nghiệp. * Vốn tín dụng thuê mua: là một phương thức giúp cho các doanh nghiệp thiếu vốn vẫn có được tài sản cần thiết sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Đây là phương thức tài trợ thông qua hợp đồng thuê giữa người cho thuê và doanh nghiệp.
Người thuê sử dụng tài sản và phải trả tiền thuê cho người thuê theo thời hạn mà hai bên đã thoả thuận, người cho thuê là người sở hữu tài sản. Tín dụng thuê mua có hai phương thức giao dịch chủ yếu là thuê vận hành và thuê tài chính. Vai trò của vốn kinh doanh Vốn có vai trò quyết định trong việc thành lập, hoạt động, phát triển của các doanh nghiệp.Vốn kinh doanh của doanh nghiệp lớn hay nhỏ là một trong những điều kiện quan trọng nhất để xếp loại doanh nghiệp. Vốn kinh doanh thực chất là nguồn của cải của xã hội tích luỹ lại, là điều kiện và khả năng để đẩy mạnh hoạt động kinh doanh.
Tuy nhiên, vốn kinh doanh chỉ phát huy tác dụng khi người quản lý biết quản lý, sử dụng chúng một cách đúng hướng, tiết kiệm và có hiệu quả. Nhờ có vốn kinh doanh mà các doanh nghiệp có thể thay đổi được trang thiết bị, mở rộng quy mô sản xuất. trong thời gian ngắn. Nó mang lại cho doanh nghiệp khả năng tăng được nhiều lợi thế như; cải tiến được mẫu mã, giảm giá thành sản phẩm, giảm được sức lao động cho nhân công.mà vẫn đáp ứng được chất lượng của sản phẩm và nhu cầu của thị trường điều mà các doanh nghiệp luôn mong muốn.
Nhờ đó mà các doanh nghiệp sẽ đáp ứng được nhu cầu của thị trường, nâng cao uy tín của mình trên thương trường mà vẫn mang lại hiệu quả kinh tế cho các nhà đầu tư. Vốn là một nguồn lực lớn để ban lãnh đạo doanh nghiệp mở rộng sản xuất và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh; là điều kiện để thực hiện các chiến lược, sách lược kinh doanh.