Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và sự phát triển của công nghệ thông tin, môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp ngày càng gia tăng tính cạnh tranh và đối mặt với nhiều biến động khó lường. Đặc biệt, sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, nhận thức về vai trò của quản trị công ty và quản trị rủi ro đã trở thành trọng tâm trong chiến lược vận hành của các doanh nghiệp nhằm giảm thiểu tổn thất và duy trì sự phát triển bền vững. Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh phần mềm, hoạt động kinh doanh mang những đặc thù riêng biệt với nhiều nguy cơ tiềm ẩn từ sự thay đổi công nghệ, biến động thị trường và sự cạnh tranh gay gắt.
Công ty Cổ phần CPIT là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực phát triển và thương mại hóa các sản phẩm phần mềm đóng gói, dịch vụ CNTT. Mặc dù đã có những nỗ lực trong việc hoạch định chính sách kinh doanh, công tác quản trị rủi ro tại công ty vẫn bộc lộ nhiều hạn chế về năng lực nhân sự, tốc độ tiếp thu công nghệ và khả năng ứng phó với đối thủ cạnh tranh. Kết quả điều tra thực tế tại doanh nghiệp cho thấy các nguy cơ từ đối thủ cạnh tranh (chiếm 10/15 ý kiến khảo sát) và từ khách hàng (chiếm 8/15 ý kiến khảo sát) đang là những trở ngại lớn nhất đối với hoạt động của đơn vị. Xuất phát từ thực tiễn đó, tác giả Mai Thị Hồng (Khoa Quản trị doanh nghiệp thương mại, Trường Đại học Thương Mại), dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Bích Loan, đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài: "Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tại công ty cổ phần CPIT".
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của khóa luận là phân tích thực trạng và đề xuất hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện nội dung công tác quản trị rủi ro tại Công ty Cổ phần CPIT. Để hiện thực hóa mục tiêu này, khóa luận triển khai 3 nhiệm vụ cụ thể:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về rủi ro và quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
- Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản trị rủi ro tại Công ty Cổ phần CPIT giai đoạn 2012–2014, chỉ rõ các kết quả đạt được, những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân.
- Đề xuất các quan điểm, định hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tại Công ty Cổ phần CPIT đến năm 2020, đồng thời đưa ra các kiến nghị với cơ quan quản lý Nhà nước.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu được xác định rõ ràng:
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (bao gồm các khâu: nhận dạng, phân tích, đo lường, kiểm soát và tài trợ rủi ro).
- Phạm vi không gian: Công ty Cổ phần CPIT (Địa chỉ: Số 01A5 Đông Ngạc, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội).
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu thực trạng được thu thập và đánh giá trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2014; các giải pháp và kiến nghị được định hướng thực hiện đến năm 2020.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào 5 nội dung cốt lõi của quy trình quản trị rủi ro doanh nghiệp theo lý thuyết quản trị kinh doanh.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận tiếp cận quản trị rủi ro dưới góc độ khoa học quản trị doanh nghiệp thương mại. Rủi ro của doanh nghiệp được định nghĩa là những vận động khách quan bên ngoài gây khó khăn, trở ngại cho doanh nghiệp trong quá trình thực hiện mục tiêu kinh doanh, gây tổn hại thành quả và đòi hỏi doanh nghiệp phải tốn kém thêm nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, thời gian). Khóa luận hệ thống hóa các cách phân loại rủi ro:
- Theo nguyên nhân: Rủi ro sự cố (khách quan, ngoài dự tính) và rủi ro cơ hội (gắn liền với quyết định của chủ thể ở các giai đoạn trước, trong và sau khi ra quyết định).
- Theo cách xử lý: Rủi ro có thể phân tán (chia sẻ qua quỹ đóng góp chung, thỏa hiệp tài sản) và rủi ro không thể phân tán.
- Theo cấu trúc chức năng: Rủi ro theo chiều dọc (phát sinh theo các chức năng chuyên môn như nghiên cứu thị trường, thiết kế, mua hàng, sản xuất) và rủi ro theo chiều ngang (xảy ra đồng thời ở nhiều bộ phận như tài chính, nhân sự, marketing).
Quy trình quản trị rủi ro được tác giả chuẩn hóa thành 5 nội dung liên hoàn:
- Nhận dạng rủi ro: Sử dụng các phương pháp phân tích báo cáo tài chính, thanh tra hiện trường, phân tích hợp đồng, nghiên cứu dữ liệu tổn thất quá khứ, tiếp xúc trao đổi nội bộ và làm việc với các cơ quan/đối tác bên ngoài.
- Phân tích rủi ro: Phân tích hiểm họa (điều kiện tạo ra hoặc làm tăng tổn thất), phân tích nguyên nhân (do con người, do kỹ thuật hoặc kết hợp cả hai), và phân tích tổn thất (đã xảy ra hoặc dự đoán).
- Đo lường rủi ro: Xác định tần suất và biên độ rủi ro thông qua Ma trận tần suất - biên độ (phân loại thành 4 nhóm rủi ro: Nhóm I - tần số cao/biên độ cao; Nhóm II - tần số thấp/biên độ cao; Nhóm III - tần số cao/biên độ thấp; Nhóm IV - tần số thấp/biên độ thấp). Đồng thời, sử dụng các phương pháp đo lường định tính, định lượng (trực tiếp, gián tiếp, xác suất thống kê, phân tích tổng hợp) và công thức dự báo mức tổn thất trung bình:
$$T = n \times P \times T_{tb}$$
(Trong đó: $T$ là tổn thất trung bình dự báo; $n$ là số lần quan sát/sự kiện tương lai; $P$ là xác suất rủi ro; $T_{tb}$ là mức độ tổn thất bình quân mỗi sự cố).
- Kiểm soát rủi ro: Thực hiện qua ba nhóm biện pháp gồm né tránh rủi ro (loại bỏ nguyên nhân hoặc không tham gia hoạt động nguy cơ), ngăn ngừa rủi ro (tác động vào hiểm họa, môi trường và sự tương tác), và giảm thiểu tổn thất (cứu vớt tài sản, lập kế hoạch dự phòng, phân tán rủi ro).
- Tài trợ rủi ro: Cung cấp nguồn tài chính đền bù tổn thất thông qua hai cơ chế: tự khắc phục (chủ động hoặc bị động từ nguồn vốn tự có/vay mượn) và chuyển giao rủi ro (mua bảo hiểm, hợp đồng giao ước, chuyển giao tài sản/hợp đồng).
Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa thu thập dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp:
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Kế thừa hệ thống lý luận từ giáo trình Quản trị rủi ro, các tài liệu chuyên ngành, cổng thông tin internet và các công trình nghiên cứu khóa trước tại Trường Đại học Thương Mại (như luận văn của Phạm Thị Hải năm 2010 về rủi ro bán thiết bị điện; Vũ Thị Tâm năm 2011 về rủi ro mua hàng tại Công ty Thép Trang Hùng; Lê Thị Bích Ngọc năm 2010 về phòng ngừa rủi ro tại Công ty CPĐT & TM Hòa Bình). Dữ liệu thực tế của doanh nghiệp được thu thập từ hồ sơ năng lực công ty, các báo cáo tài chính và báo cáo kết quả kinh doanh giai đoạn 2012–2014.
- Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Thiết kế phiếu điều tra trắc nghiệm và câu hỏi phỏng vấn trực tiếp đối với ban lãnh đạo (Tổng giám đốc), trưởng các bộ phận (Hành chính nhân sự, Khảo sát, Phát triển phần mềm, QA, Kinh doanh, Tư vấn, Kế toán). Quy mô phát phiếu điều tra: 20 phiếu phát ra; số phiếu hợp lệ thu về: 15 phiếu (đạt tỷ lệ phản hồi 100% trên số người đồng ý tham gia).
- Phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu: Áp dụng phương pháp thống kê mô tả để tính tỷ lệ phần trăm (%), phương pháp so sánh số tuyệt đối và số tương đối qua các năm (2013/2012 và 2014/2013), kết hợp phương pháp phân tích - tổng hợp nhằm làm rõ nguyên nhân của các tồn tại trong công tác quản trị rủi ro.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số lý luận cơ bản về công tác quản trị rủi ro trong doanh nghiệp
Chương 1 xây dựng khung lý thuyết toàn diện về quản trị rủi ro trong doanh nghiệp thương mại. Tác giả khẳng định quản trị rủi ro là một quá trình tiếp cận có tính hệ thống, khoa học nhằm tối ưu hóa việc sử dụng các nguồn lực kinh doanh. Vai trò của quản trị rủi ro được đúc kết qua 7 điểm cốt lõi:
- Xây dựng khuôn khổ giúp thực hiện kế hoạch tương lai có tính nhất quán và kiểm soát được.
- Tăng cường năng lực ra quyết định, lập kế hoạch và phân loại thứ tự ưu tiên công việc.
- Góp phần phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực.
- Giảm thiểu sai sót trong mọi khía cạnh vận hành.
- Bảo vệ và gia tăng tài sản, hình ảnh thương hiệu doanh nghiệp.
- Hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực và nền tảng tri thức.
- Tối ưu hóa hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Chương này cũng phân tích sâu hai nhóm nhân tố tác động đến quản trị rủi ro:
- Nhân tố bên ngoài: Môi trường kinh tế (lạm phát, lãi suất, tỷ giá), môi trường chính trị - luật pháp (sự ổn định thể chế, quy định pháp luật về thuế, hợp đồng), môi trường khoa học công nghệ (tốc độ đổi mới công nghệ), khách hàng (thị hiếu, khả năng thanh toán) và đối thủ cạnh tranh (áp lực cạnh tranh về giá, chất lượng, thị phần).
- Nhân tố bên trong: Tình hình tài chính và khả năng thanh khoản của doanh nghiệp, trình độ và kỹ năng của đội ngũ nhân viên, nhận thức và thái độ ứng xử của các cấp quản trị đối với rủi ro.
Chương 2: Phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản trị rủi ro của Công ty cổ phần CPIT
Chương 2 trình bày bức tranh thực tế về tình hình sản xuất kinh doanh và thực trạng quản trị rủi ro tại Công ty Cổ phần CPIT:
1. Khái quát doanh nghiệp: Tiền thân là Trung tâm Xây dựng và Phát triển công nghệ CPIT thành lập năm 2005 với 16 cán bộ CNTT. Năm 2010, chuyển đổi mô hình thành Công ty Cổ phần CPIT theo Giấy phép ĐKKD số 0105009560 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội cấp ngày 23/11/2010, do ông Lê Ngọc Thiệu làm Tổng Giám đốc. Doanh nghiệp chuyên cung cấp phần mềm đóng gói xây dựng trên nền tảng .Net 2012 của Microsoft, tiêu biểu gồm: nhóm phần mềm giáo dục (CPIT TT.Net 2012, CPIT SMI.Net 2012), nhóm phần mềm quản lý (CPIT SM.Net 2012, CPIT Shop.Net 2012), nhóm website (CPIT Enterprise ASP.Net, CPIT EShop ASP.Net) và dịch vụ tư vấn/gia công phần mềm.
2. Quy mô nhân sự và kết quả kinh doanh: Số lượng lao động tăng từ 18 người (năm 2012) lên 21 người (năm 2013) và đạt 27 người (tháng 1/2015). Cơ cấu lao động tháng 1/2015 gồm: Ban Giám đốc (2 thạc sĩ), Phòng PTPM (5 người - 100% đại học), Phòng QA (5 người - 1 thạc sĩ, 4 đại học), Phòng Tư vấn (3 đại học), Phòng Kinh doanh (9 người - 1 thạc sĩ/đại học trưởng phòng, 6 đại học, 2 cao đẳng), Phòng Kế toán (1 đại học), Phòng HCNS (2 đại học). Kết quả kinh doanh giai đoạn 2012–2014 tăng trưởng liên tục:
| Chỉ tiêu |
Năm 2012 |
Năm 2013 |
Năm 2014 |
So sánh 2013/2012 (%) |
So sánh 2014/2013 (%) |
| Lợi nhuận trước thuế (triệu đồng) |
453,00 |
598,00 |
720,00 |
+132,0% |
+120,4% |
| Lợi nhuận sau thuế (triệu đồng) |
339,75 |
448,50 |
540,00 |
+132,0% |
+120,4% |
3. Phân tích các nhân tố tác động:
- Tỷ lệ lạm phát giảm dần qua các năm (2012: 5,25%; 2013: 5,42%; 2014: 1,84%), tuy nhiên công ty vẫn phải điều chỉnh tăng giá bán 2 đợt vào tháng 6 và tháng 12/2014; công ty đã 5 lần chịu tác động bất lợi từ yếu tố kinh tế trong 3 năm.
- Mức thuế suất thuế TNDN 25% tạo áp lực chi phí; công ty gặp 2 vụ việc rủi ro pháp lý liên quan đến hiểu nhầm điều khoản hợp đồng ở thị trường xa.
- Về công nghệ, năm 2013 doanh nghiệp đầu tư gần 600 triệu đồng nâng cấp trang thiết bị nhằm khắc phục tình trạng máy móc cũ năm 2012 gây lỗi khi kiểm thử.
- Cơ cấu tài chính năm 2014 có tổng vốn 6.197 triệu đồng, trong đó vốn vay chiếm 1.635 triệu đồng (28%), vốn chủ sở hữu đạt 4.562 triệu đồng (72%); vốn lưu động chiếm 64,3% tổng nguồn vốn.
4. Đánh giá thực trạng 5 nội dung quản trị rủi ro:
- Nhận dạng rủi ro: Khảo sát 15 phiếu thu được kết quả về tần suất và mức độ cản trở của các nhóm rủi ro:
| Loại rủi ro |
Số phiếu lựa chọn |
Tỷ lệ (%) |
Mức độ gây trở ngại lớn (phiếu / %) |
| Rủi ro từ đối thủ cạnh tranh |
10/15 |
66,7% |
10/15 (66,7%) |
| Rủi ro từ khách hàng |
8/15 |
53,3% |
8/15 (53,3%) |
| Rủi ro thông tin |
6/15 |
40,0% |
6/15 (40,0%) |
| Rủi ro công nghệ |
5/15 |
33,3% |
5/15 (33,3%) |
| Rủi ro nhân lực |
4/15 |
26,7% |
4/15 (26,7%) |
| Rủi ro sản phẩm |
3/15 |
20,0% |
3/15 (20,0%) |
| Rủi ro tài chính |
3/15 |
20,0% |
3/15 (20,0%) |
- Phân tích và đo lường rủi ro: Tác giả dẫn chứng các tổn thất cụ thể: Tháng 7/2014, do không thẩm định kỹ năng lực tài chính của DNTN Nam Hằng (Hà Nam), công ty bị đọng nợ khó đòi 30% giá trị hợp đồng (35 triệu đồng). Tháng 4/2012, một sản phẩm thử nghiệm phải cập nhật lại theo công nghệ thị trường làm phát sinh thêm 40 triệu đồng chi phí R&D và chậm tiến độ ra mắt 2 tháng. Năm 2014, do ban quản trị đánh giá sai mức độ rủi ro hợp đồng, công ty phải bồi thường 100 triệu đồng.
- Kiểm soát rủi ro: Công ty áp dụng các giải pháp né tránh (từ chối ký hợp đồng trị giá 25 triệu đồng với Siêu thị Hòa Phát vào tháng 6/2013 do đối tác thua lỗ; áp dụng quy định bảo mật thông tin nội bộ; yêu cầu ứng viên tuyển dụng phải đạt từ 80/100 điểm test); ngăn ngừa và giảm thiểu (kiểm định chất lượng tại phòng QA giúp khống chế tỷ lệ lỗi ở mức 2%, 98% sản phẩm đạt chuẩn; mở rộng thị trường về các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Ninh Bình để tránh cạnh tranh trực diện với FPT, Misa).
- Tài trợ rủi ro: Quỹ dự phòng và chi phí tài trợ rủi ro có xu hướng tăng qua các năm:
| Chỉ tiêu tài trợ rủi ro |
Năm 2012 |
Năm 2013 |
Năm 2014 |
| Quỹ dự phòng (triệu đồng) |
20,4 |
Tăng |
Tăng |
| Chi phí bảo hiểm (triệu đồng) |
11,5 |
Tăng |
Tăng |
| Chi trả tổn thất thực tế (triệu đồng) |
15,7 |
Tăng |
Tăng nhẹ |
5. Đánh giá chung: Doanh nghiệp đã bước đầu hình thành ý thức và quy trình kiểm soát rủi ro, tuy nhiên vẫn còn mang tính bị động, thiếu bộ phận chuyên trách, chưa đo lường được các tổn thất vô hình (uy tín thương hiệu), và ngân sách dành cho phòng ngừa rủi ro còn thấp.
Chương 3: Đề xuất và kiến nghị hoàn thiện công tác quản trị rủi ro của Công ty cổ phần CPIT
Chương 3 xây dựng các giải pháp và kiến nghị dựa trên phương hướng phát triển đến năm 2020 của công ty:
- Phương hướng và quan điểm: Nâng cao năng lực cạnh tranh trong phân khúc phần mềm đóng gói cho giáo dục và quản lý bán lẻ; hoàn thiện quy trình quản trị rủi ro đồng bộ, gắn liền quản trị rủi ro với chiến lược kinh doanh tổng thể.
- Nhóm giải pháp đối với Công ty Cổ phần CPIT:
- Hoàn thiện khâu nhận dạng và phân tích rủi ro: Thiết lập quy trình thu thập thông tin đa kênh, thường xuyên rà soát hợp đồng kinh tế và hồ sơ năng lực khách hàng trước khi ký kết; tổ chức các buổi giao ban định kỳ giữa các phòng ban chức năng để phát hiện nguy cơ sớm.
- Chuẩn hóa công tác đo lường và lập ma trận rủi ro: Áp dụng triệt để mô hình ma trận tần suất - biên độ để phân nhóm rủi ro, ưu tiên nguồn lực xử lý nhóm rủi ro có tần suất cao và mức độ tổn thất lớn (nhóm I và nhóm II).
- Tăng cường các biện pháp kiểm soát rủi ro: Đẩy mạnh công tác bảo mật sở hữu trí tuệ, bản quyền phần mềm; duy trì quy trình kiểm thử nghiêm ngặt tại phòng QA; thực hiện đa dạng hóa thị trường khách hàng ngoài khu vực Hà Nội.
- Nâng cao hiệu quả tài trợ rủi ro: Nâng tỷ lệ trích lập quỹ dự phòng rủi ro hàng năm từ nguồn lợi nhuận giữ lại; chủ động mở rộng các gói bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp.
- Phát triển nguồn nhân lực và văn hóa quản trị rủi ro: Nâng cao trình độ kỹ thuật cho đội ngũ lập trình viên, hoàn thiện chính sách đãi ngộ nhằm giữ chân nhân sự cốt cán, tránh thất thoát thông tin sang đối thủ cạnh tranh.
- Nhóm kiến nghị đối với Nhà nước:
- Đề nghị cơ quan Nhà nước tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp lý về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và bản quyền phần mềm, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm bản quyền và cạnh tranh không lành mạnh.
- Xem xét các chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp và các gói hỗ trợ tín dụng dành riêng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực công nghệ thông tin.
- Đơn giản hóa thủ tục hành chính và tạo điều kiện kết nối các sản phẩm phần mềm giáo dục vào hệ thống trường học công lập tại các địa phương.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã phản ánh trung thực và lượng hóa được thực trạng hoạt động quản trị rủi ro tại một doanh nghiệp thương mại phần mềm quy mô nhỏ thông qua các dữ liệu thực chứng:
- Hệ thống dữ liệu khảo sát và tài chính: Tổng hợp bức tranh tài chính với lợi nhuận sau thuế tăng từ 339,75 triệu đồng (2012) lên 540,00 triệu đồng (2014); xác định cơ cấu vốn với 72% vốn chủ sở hữu và 28% vốn vay (năm 2014).
- Lượng hóa nguy cơ rủi ro: Chỉ rõ 66,7% ý kiến đánh giá rủi ro từ đối thủ cạnh tranh và 53,3% ý kiến đánh giá rủi ro từ khách hàng là trở ngại lớn nhất; phân tích cụ thể các vụ việc phát sinh tổn thất (nợ khó đòi 35 triệu đồng tại Nam Hằng, bồi thường hợp đồng 100 triệu đồng năm 2014, chi phí phát sinh R&D 40 triệu đồng năm 2012, mất 4 khách hàng vào tay FPT năm 2014).
- Hệ thống giải pháp đồng bộ: Đưa ra 5 nhóm giải pháp quản trị nội bộ bao quát từ nhận dạng, đo lường, kiểm soát đến tài trợ rủi ro, kết hợp chính sách nhân sự và công nghệ phù hợp với điều kiện thực tế của doanh nghiệp.
- Đóng góp học thuật và thực tiễn: Khóa luận là công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về công tác quản trị rủi ro tại Công ty Cổ phần CPIT, bổ sung tài liệu thực tế về quản trị rủi ro cho các doanh nghiệp thương mại công nghệ quy mô vừa và nhỏ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận còn tồn tại một số hạn chế gắn liền với phạm vi dữ liệu:
- Hạn chế: Quy mô mẫu điều tra sơ cấp còn nhỏ (15 phiếu hợp lệ do giới hạn quy mô nhân sự 27 người của công ty tại thời điểm nghiên cứu); việc đo lường rủi ro chủ yếu dựa trên các phương pháp định tính và số liệu tài chính quá khứ, chưa ứng dụng được các mô hình kinh tế lượng hoặc công cụ lượng hóa rủi ro tài chính phức tạp; thời gian thu thập số liệu dừng lại ở giai đoạn 2012–2014.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng phạm vi khảo sát sang các đối tác, khách hàng bên ngoài doanh nghiệp; cập nhật chuỗi số liệu tài chính sau năm 2014; nghiên cứu ứng dụng các khung quản trị rủi ro chuẩn hóa quốc tế (như COSO ERM hoặc ISO 31000) vào mô hình doanh nghiệp CNTT.
Giá trị tham khảo
Bản khóa luận mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho các đối tượng:
- Sinh viên và học viên: Chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Quản trị doanh nghiệp thương mại có thể tham khảo phương pháp luận kết hợp khảo sát thực tế với phân tích tài chính doanh nghiệp để thực hiện các đề tài về quản trị rủi ro, quản trị bán hàng hoặc quản trị tác nghiệp.
- Nhà quản trị doanh nghiệp phần mềm: Các nhà quản lý doanh nghiệp CNTT vừa và nhỏ có thể tham khảo các tình huống rủi ro thực tế (thất thoát khách hàng do cạnh tranh giá, nợ đọng hợp đồng, rủi ro công nghệ khi nâng cấp sản phẩm, nguy cơ rò rỉ thông tin nhân sự) và các biện pháp kiểm soát tương ứng.
- Phần nội dung đáng tham khảo nhất: Hệ thống bảng biểu phân tích thực trạng các nhân tố ảnh hưởng và ma trận đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng loại rủi ro tại Chương 2.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ cấu nhân sự và trình độ học vấn tại Công ty Cổ phần CPIT tính đến tháng 1/2015 được phân bổ như thế nào?
Tính đến tháng 1/2015, công ty có tổng cộng 27 cán bộ nhân viên, phân bổ tại 7 bộ phận: Ban Giám đốc (2 thạc sĩ), Phòng Phát triển phần mềm (5 đại học), Phòng QA (1 thạc sĩ, 4 đại học), Phòng Tư vấn (3 đại học), Phòng Kinh doanh (1 thạc sĩ/đại học, 6 đại học, 2 cao đẳng), Phòng Kế toán (1 đại học) và Phòng Hành chính nhân sự (2 đại học). Đa số nhân viên có trình độ đại học trở lên nhưng còn trẻ và thiếu kinh nghiệm dự án.
2. Khảo sát thực tế tại CPIT ghi nhận những loại rủi ro nào có tần suất xuất hiện và mức độ ảnh hưởng cao nhất?
Theo kết quả điều tra từ 15 cán bộ nhân viên, rủi ro từ đối thủ cạnh tranh đứng đầu với 10/15 phiếu lựa chọn (chiếm 66,7% và toàn bộ 10 phiếu đều đánh giá gây trở ngại lớn). Tiếp theo là rủi ro từ khách hàng với 8/15 phiếu (53,3%), rủi ro thông tin với 6/15 phiếu (40,0%), và rủi ro công nghệ với 5/15 phiếu (33,3%).
3. Doanh nghiệp đã gặp phải những tổn thất tài chính cụ thể nào do rủi ro phát sinh trong giai đoạn 2012–2014?
Các thiệt hại cụ thể được ghi nhận trong văn bản gồm: Tháng 4/2012 phát sinh thêm 40 triệu đồng chi phí R&D do thay đổi công nghệ phần mềm; tháng 7/2014 bị nợ khó đòi 35 triệu đồng (tương đương 30% giá trị hợp đồng) từ DNTN Nam Hằng do khách hàng sắp phá sản; năm 2014 bị thiệt hại 100 triệu đồng tiền bồi thường hợp đồng do ban quản trị đánh giá sai rủi ro pháp lý; và năm 2014 mất 4 khách hàng lớn vào tay đối thủ FPT do đối thủ áp dụng chính sách giảm giá và khuyến mại.
4. Tình hình tài chính và cơ cấu nguồn vốn của CPIT giai đoạn 2012–2014 có đặc điểm gì nổi bật?
Lợi nhuận sau thuế của công ty tăng trưởng từ 339,75 triệu đồng (2012) lên 448,50 triệu đồng (2013) và 540,00 triệu đồng (2014). Về cơ cấu vốn năm 2014, tổng vốn đạt 6.197 triệu đồng, trong đó vốn chủ sở hữu chiếm 72% (4.562 triệu đồng), vốn vay chiếm 28% (1.635 triệu đồng), và nguồn vốn lưu động chiếm 64,3% tổng vốn.
5. CPIT đã triển khai các biện pháp né tránh và ngăn ngừa rủi ro cụ thể nào trong thực tế?
Doanh nghiệp đã chủ động né tránh rủi ro bằng cách từ chối ký hợp đồng kinh tế trị giá 25 triệu đồng với Siêu thị Hòa Phát (tháng 6/2013) do đối tác làm ăn thua lỗ; thiết lập quy định bảo mật thông tin kinh doanh nội bộ; chỉ tuyển dụng nhân sự vượt qua bài kiểm tra đạt từ 80/100 điểm. Đồng thời, công ty ngăn ngừa rủi ro thông qua việc duy trì quy trình kiểm thử sản phẩm tại phòng QA với tỷ lệ lỗi khống chế ở mức 2%, đầu tư gần 600 triệu đồng nâng cấp máy móc công nghệ năm 2013, và mở rộng địa bàn kinh doanh sang các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Ninh Bình.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Mai Thị Hồng đã hệ thống hóa các lý luận cơ bản về quản trị rủi ro và phản ánh chi tiết thực trạng triển khai công tác này tại Công ty Cổ phần CPIT giai đoạn 2012–2014. Qua việc kết hợp phương pháp khảo sát sơ cấp và phân tích dữ liệu tài chính thứ cấp, tác giả đã chỉ rõ các nhóm rủi ro trọng yếu từ đối thủ cạnh tranh, khách hàng, công nghệ và nhân sự gắn liền với những tổn thất thực tế của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, công trình đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp quản trị nội bộ và 3 kiến nghị vĩ mô có tính khả thi nhằm giúp Công ty Cổ phần CPIT hoàn thiện quy trình quản trị rủi ro đến năm 2020.