phần mở đầu và kết luận, phần nội dung nghiên cứu của luận văn đƣợc cấu trúc thành 03 chƣơng theo đúng quy định, cụ thể: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nƣớc. Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nƣớc tại Phòng Tài chính Kế hoạch huyện Hƣớng Hóa, tỉnh Quảng Trị. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nƣớc tại Phòng Tài chính Kế hoạch huyện Hƣớng Hóa, tỉnh Quảng Trị. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ BẢN THUỘC NGUỒN VỐN NSNN 1. Cơ sở lý luận về quản lý vốn đầu tƣ XDCB thuộc nguồn vốn NSNN 1. Khái niệm cơ bản về đầu tƣ, dự án đầu tƣ và vốn đầu tƣ 1. Đầu tƣ Thuật ngữ "Đầu tƣ - Investerment" theo nghĩa rộng đƣợc hiểu là sự bỏ ra, sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm đem lại cho nhà đầu tƣ các kết quả nhất định trong tƣơng lai mà kết quả này thƣờng phải lớn hơn các chi phí về các nguồn lực đã bỏ ra lúc đầu.
Nguồn lực bỏ ra có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là tài sản vật chất khác hoặc sức lao động. Sự biểu hiện bằng tiền tất cả các nguồn lực đã bỏ ra trên đây gọi là vốn đầu tƣ [14]. Theo nghĩa hẹp, hiểu một cách cụ thể hơn, đầu tƣ chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại nhằm đem lại cho nhà đầu tƣ hoặc xã hội kết quả trong tƣơng lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt đƣợc kết quả đó [14]. Nhƣ vậy, nếu xem xét trên góc độ kinh tế thì đầu tƣ là những hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện có để làm tăng thêm các tài sản vật chất, nguồn nhân lực và trí tuệ để cải thiện mức sống của dân cƣ hoặc để duy trì khả năng hoạt động của các tài sản và nguồn lực sẵn có, nó cũng tạo thêm năng lực mới, thu lợi nhuận nhiều hơn và phục vụ đời sống, xã hội tốt hơn, đẩy nhanh sự tăng trƣởng của cả nền KT - XH.
Dự án đầu tƣ Dự án đầu tƣ là tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt sự tăng trƣởng về số lƣợng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lƣợng sản phẩm hoặc dịch vụ trong thời gian xác định [2]. Dự án đầu tƣ có thể đƣợc xem xét dƣới nhiều góc độ khác nhau: Theo Luật đầu tƣ (2014): Dự án đầu tƣ là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tƣ kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định [20]. 7 Về mặt hình thức: Dự án đầu tƣ là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết, có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch nhằm đạt đƣợc những kết quả và thực hiện đƣợc những mục tiêu nhất định trong tƣơng lai [9]. Xét trên góc độ quản lý: Dự án đầu tƣ là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật tƣ, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, KT - XH trong một thời gian dài [9].
Xét về mặt nội dung: Dự án đầu tƣ là tổng thể các hoạt động và chi phí cần thiết, đƣợc bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch thời gian và địa điểm xác định để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong tƣơng lai [9]. Vốn đầu tƣ Theo Luật Đầu tƣ (2014): "Vốn đầu tƣ là tiền và tài sản khác để thực hiện hoạt động đầu tƣ kinh doanh" [20]. Vốn đầu tƣ XDCB từ NSNN là một phần của vốn đầu tƣ phát triển của NSNN đƣợc hình thành từ sự huy động của Nhà nƣớc dùng để chi cho đầu tƣ XDCB nhằm xây dựng và phát triển cơ sở vật chất - kỹ thuật và kết cấu hạ tầng KT - XH cho nền kinh tế quốc dân. Khái niệm quản lý dự án và mục tiêu quản lý dự án đầu tƣ Theo tác giả Từ Quang Phƣơng, quản lý dự án là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách đƣợc duyệt và đạt đƣợc các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lƣợng sản phẩm dịch vụ, bằng những phƣơng pháp và điều kiện tốt nhất cho phép [23].
Quản lý dự án bao gồm ba giai đoạn chủ yếu sau: - Lập kế hoạch: Đây là giai đoạn xây dựng mục tiêu, xác định công việc, dự tính nguồn lực cần thiết để thực hiện dự án và là quá trình phát triển một kế hoạch hành động thống nhất, theo trình tự logic, có thể biểu diễn dƣới dạng sơ đồ truyền thống hoặc theo các phƣơng pháp lập kế hoạch truyền thống [23]. 8 - Điều phối thực hiện dự án: Đây là quá trình phân phối nguồn lực bao gồm tiền vốn, lao động, thiết bị và đặc biệt quan trọng là điều phối và quản lý tiến độ theo thời gian. Giai đoạn này chi tiết hoá thời gian, lập lịch trình cho từng công việc và toàn bộ dự án (khi nào bắt đầu, khi nào kết thúc), trên cơ sở đó, bố trí tiền vốn, nhân lực và thiết bị phù hợp [23]. - Giám sát là quá trình theo dõi kiểm tra tiến trình dự án, phân tích tình hình thực hiện, báo cáo hiện trạng và đề xuất biện pháp giải quyết những vƣớng mắc trong quá trình thực hiện.
Cùng với hoạt động giám sát, công tác đánh giá dự án giữa kỳ và cuối kỳ cũng đƣợc thực hiện nhằm tổng kết rút kinh nghiệm, kiến nghị các pha sau của dự án [23]. Mục tiêu quản lý dự án là hoàn thành các công việc dự án theo đúng yêu cầu kỹ thuật và chất lƣợng, trong phạm vi ngân sách đƣợc duyệt và theo tiến độ thời gian cho phép [23]. Khái niệm quản lý vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản từ NSNN 1. Khái niệm Quản lý vốn đầu tƣ XDCB từ NSNN là tổng thể các biện pháp, công cụ, cách thức mà nhà nƣớc tác động vào quá trình hình thành (huy động), phân phối (cấp phát) và sử dụng vốn NSNN để đạt các mục tiêu KT - XH đề ra trong từng giai đoạn [23].
Đặc điểm của quản lý vốn đầu tƣ XDCB từ ngân sách nhà nƣớc Một là, quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN là quản lý khoản chi lớn của NSNN nhưng không có tính ổn định. Chi đầu tƣ XDCB là khoản chi tất yếu nhằm đảm bảo sự phát triển KT - XH cho mỗi quốc gia nói chung và cho từng địa phƣơng nói riêng. Trƣớc hết, chi NSNN cho đầu tƣ XDCB nhằm tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật, năng lực sản xuất dịch vụ cho sự phát triển KT - XH của mỗi địa phƣơng. Đồng thời, chi đầu tƣ NSNN cho đầu tƣ XDCB còn ý nghĩa là vốn tạo mồi để tạo môi trƣờng đầu tƣ thuận lợi, định hƣớng đầu tƣ phát triển cho nền KT - XH của địa phƣơng, của quốc gia 9 theo từng thời kỳ.
Quy mô chi NSNN cho đầu tƣ XDCB phụ thuộc vào chủ trƣơng, đƣờng lối phát triển KT - XH của đất nƣớc, của địa phƣơng theo từng thời kỳ. Chi NSNN cho đầu tƣ XDCB không có t nh ổn định giữa các thời kỳ phát triển KT - XH. Thứ tự và tỷ trọng ƣu tiên chi NSNN cho đầu tƣ XDCB trong từng lĩnh vực, từng nội dung chi là thay đổi giữa các thời kỳ. Chẳng hạn, sau một thời kỳ tập trung ƣu tiên cho đầu tƣ xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, thì thời kỳ sau không cần ƣu tiên nữa vì hạ tầng giao thông đã tƣơng đối hoàn chỉnh.
Hai là, quản lý vốn đầu tư XDCB gắn liền với đặc điểm của đầu tư XDCB. Đầu tƣ XDCB bằng vốn NSNN là một khoản chi lớn và chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng vốn chi đầu tƣ phát triển của NSNN. Do đó, sự vận động của tiền vốn dùng để trang trải chi ph đầu tƣ XDCB chịu sự chi phối trực tiếp bởi đặc điểm của đầu tƣ XDCB. Ba là, quản lý vốn đầu tư XDCB gắn với đặc điểm của NSNN và đặc điểm của chi NSNN.
Bên cạnh đặc điểm chung của quản lý chi NSNN, quản lý vốn đầu tƣ XDCB từ NSNN có đặc điểm riêng đó là: Ngƣời quản lý vốn XDCB và ngƣời sử dụng kết quả đầu tƣ XDCB có thể tách rời nhau, điều này có thể làm giảm chất lƣợng công trình đầu tƣ XDCB làm khó khăn cho công tác quản lý chi NSNN. Hơn nữa, quản lý vốn NSNN trong đầu tƣ XDCB đƣợc phân cấp nhiều trong quản lý, qua nhiều khâu, nhiều cơ quan quản lý lại mang t nh sở hữu chung nên khó xác định rõ đƣợc thất thoát xảy ra là ở trong khâu nào, điều này đòi hỏi quy trình quản lý, trách nhiệm quản lý phải rõ ràng trong từng khâu quản lý chi đầu tƣ XDCB bằng vốn NSNN. Bốn là, việc quản lý vốn đầu tư XDCB phải thực hiện trên cơ sở thực hiện nghiêm chỉnh trình tự dự án đầu tư và xây dựng. Phải đảm bảo đúng mục đ ch, đúng kế hoạch, đúng mức độ thực tế hoàn thành kế hoạch trong phạm vi giá trị dự toán đƣợc duyệt.
Điều này nhằm đảm bảo việc giải ngân đúng mục đ ch, đúng giá trị của công trình. Vốn đầu tƣ XDCB từ NSNN phải đƣợc sử dụng một cách hợp lý, hiệu quả, vốn đầu tƣ cho các dự án, các chƣơng trình đƣợc ghi vào kế hoạch vốn hàng năm. Mục tiêu quản lý vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản Xét ở góc độ vĩ mô: Quản lý đầu tƣ nhằm đáp ứng những mục tiêu sau: - Thực hiện thành công các mục tiêu của chiến lƣợc phát triển KT - XH trong từng thời kỳ của quốc gia, từng ngành và từng địa phƣơng. Đối với nƣớc ta trong thời kỳ hiện nay, đầu tƣ nhằm thực hiện chiến lƣợc phát triển kinh tế xã hội theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng công nghiệp hoá hiện đại hoá, đẩy nhanh tốc độ tăng trƣởng kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của ngƣời lao động nhƣ mục Đại hội Đảng lần thứ XII đã đề ra.