CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1. Lý luận về thuế giá trị gia tăng 1. Khái niệm thuế giá trị gia tăng Thuế giá trị gia tăng (viết tắt là VAT - Value Added Tax). Nó là một dạng của thuế bán hàng.
Một số quốc gia như Australia, Canada, New Zealand, Singapore thì thuế này được gọi là "Goods and Services tax" (viết tắt GST) nghĩa là thuế hàng hóa và dịch vụ; còn tại Nhật Bản thì nó được biết đến dưới tên gọi "thuế tiêu thụ". VAT là một loại thuế gián thu, được đánh vào người tiêu dùng cuối cùng, mặc dù chủ thể đem nộp nó cho cơ quan thu là các doanh nghiệp. Người tiêu dùng cuối cùng của sản phẩm hàng hóa và dịch vụ không thể được hoàn lại VAT khi mua hàng, nhưng các doanh nghiệp thì có thể được hoàn lại VAT đối với nguyên vật liệu và dịch vụ mà họ mua để tạo ra các sản phẩm hay dịch vụ tiếp theo để trực tiếp hay gián tiếp bán cho người sử dụng cuối. như vậy, tổng số thuế phải thu ở mỗi công đoạn trong dây chuyền kinh tế là một tỉ lệ cố định đối với phần giá trị gia tăng được thêm vào trong sản phẩm, và phần lớn chi phí trong phần thu thuế được sinh ra bởi việc kinh doanh chứ không phải bởi nhà nước.
Tại Việt Nam, Luật thuế GTGT số 57/1997/L-CTN được Quốc hội thông qua ngày 10/05/1997 và có hiệu lực thi hành từ 01/01/1999 [10]. Luật thuế GTGT ra đời đã khắc phục được những nhược điểm của thuế doanh thu như: tránh tình trạng tính thuế trùng lắp, việc thực hiện tổ chức quản lý dễ dàng và đơn giản hơn, mang tính trung lập và dân chủ cao. Đồng thời, thuế GTGT cũng đã thể hiện được vai trò rất quan trọng trên mọi lĩnh vực như: khuyến khích sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, thu hút được các nguồn đầu tư từ nước ngoài, thúc đẩy công tác hạch toán, kế toán trong sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, góp phần tạo điều kiện chống thất thu thuế, tạo nguồn thu lớn và ổn định cho ngân sách Nhà nước, góp phần tăng cường quản lý các hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Sau khi thuế GTGT ra đời thay thế cho thuế doanh thu thì hệ thống thuế của Việt Nam đã có nhiều ưu điểm nổi bật hơn, mang lại nhiều thành công hơn góp phần quan trọng đưa đất nước phát triển về KT-XH, hội nhập với khu vực và thế giới.
5 Thuế GTGT là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Giá trị gia tăng = Tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ bán ra – Giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào tương ứng. Thực chất thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh vào hành vi tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ. Tuy nhiên về bản chất, thuế GTGT khác với các loại thuế gián thu khác, điều này thể hiện qua các đặc điểm dưới đây của thuế GTGT [9].
Việc chuyển sang áp dụng thuế GTGT thay thế cho thuế doanh thu ở Việt Nam, vừa nhằm mục đích từng bước hoà nhập với chính sách thuế của các nước trong khu vực và trên thế giới, đồng thời vươn tới việc cải cách hệ thống thuế khóa thích hợp hơn cho việc chuyển từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Bản chất của thuế giá trị gia tăng Theo quan niệm của C. Mác [8], giá trị của hàng hoá, dịch vụ là c + (v + m), trong đó c là lao động quá khứ được chuyển vào sản phẩm, (v + m) là phần giá trị mới sáng tạo ra và đó chính là phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ. Nếu sản phẩm này lại là tài sản cố định hay nguyên, vật liệu cho chu kỳ sản xuất, kinh doanh tiếp theo thì nó lại đóng vai trò là phần c của sản phẩm mới.
Cứ như vậy đến người tiêu dùng cuối cùng, toàn bộ số c + (v + m) là tổng giá trị của hàng hóa, dịch vụ, đồng thời cũng là tổng các phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ qua các giai đoạn sản xuất, kinh doanh khác nhau. Mỗi một sản phẩm, hàng hoá nếu không đi vào tiêu dùng sẽ đi vào quá trình sản xuất, kinh doanh tiếp theo và lại làm tăng thêm giá trị của hàng hóa. Quá trình sản xuất ra hàng hoá bao gồm một số bước, giá trị cuối cùng của sản phẩm là tổng các giá trị tăng thêm ở các giai đoạn đó. Thuế đánh vào tổng giá trị sản phẩm ở mỗi giai đoạn gọi là thuế doanh thu, còn thuế đánh vào phần giá trị tăng thêm ở từng giai đoạn gọi là thuế GTGT.
Thuế GTGT là thuế gián thu, được tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình luân chuyển từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Do thuế GTGT được tính trên phần giá trị tăng thêm nên dù hàng hoá được mua đi bán lại kiểu gì, dù bán cho người tiêu dùng trực tiếp hay vòng vo qua nhiều thang, 6 nhiều nấc thì kết quả cuối cùng Nhà nước vẫn thu được một khoản thuế cố định, đó chính là số thuế của toàn bộ giá trị hàng hoá mà người tiêu dùng cuối cùng phải trả. Tức là thuế GTGT đánh trên hành vi tiêu dùng, còn các cơ sở sản xuất, kinh doanh với tư cách là những nhà trung gian nên không phải là người chịu thuế. Vì vậy có thể nói, bản chất của thuế GTGT là thuế tiêu dùng và đánh vào người tiêu dùng cuối cùng.
Cũng do thuế GTGT tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ nên ĐTNT phải là các cơ sở sản xuất, kinh doanh đã bỏ thêm chi phí vào làm cho giá cả của hàng hoá, dịch vụ tăng lên. Tuy nhiên, phần thuế mà họ nộp vào ngân sách thực chất lại là do người mua hàng hoá, dịch vụ đã thanh toán trong giá cả, tức là người tiêu dùng mới là người chịu thuế. Lúc này các cơ sở sản xuất, kinh doanh đóng vai trò là người thu hộ thuế cho Nhà nước và là người nộp hộ thuế cho người tiêu dùng, là một mắt xích trong hệ thống thu thuế. Thuế GTGT có tính xã hội hoá cao, đòi hỏi người tiêu dùng phải có ý thức trong việc chấp hành nghĩa vụ nộp thuế và góp phần kiểm soát chống thất thu cho ngân sách Nhà Nước.
Đặc biệt là đối với NNT trong việc tự kê khai, tính thuế và nộp thuế GTGT như ở nước ta hiện nay đòi hỏi người dân phải có tinh thần tự giác cao và ý thức chấp hành nghĩa vụ nộp thuế tốt. Đặc trưng của thuế giá trị gia tăng Thuế GTGT xuất phát từ nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, nhằm đáp ứng nhu cầu huy động ngân sách ngày càng lớn của Nhà nước. Thuế GTGT là nguồn động viên quan trọng, kịp thời và chiếm tỉ trọng lớn trong tổng thu ngân sách Nhà nước. Thuế GTGT được tính và thu vào từng khâu, từng giai đoạn của quá trình sản xuất, kinh doanh nên làm tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước.
Thuế GTGT có phạm vi điều chỉnh rất rộng, áp dụng cho hầu hết các hàng hoá, dịch vụ sử dụng trong sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng trong tất cả các ngành nghề, ở tất cả các giai đoạn. Thuế GTGT là một loại thuế gián thu, nó là một yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hoá, dịch vụ nhằm động viên một phần thu nhập thông qua sự đóng góp của người tiêu dùng khi họ sử dụng hàng hoá, dịch vụ đó. Thuế GTGT được tính trong giá bán nên người chịu thuế ít có cảm giác mình bị Nhà nước đánh thuế, do đó thuế GTGT ít gây ra những phản ứng từ phía người chịu thuế. 7 Tại Việt Nam, thuế GTGT được ban hành nhằm thay thế cho thuế doanh thu trước đây, nó đã khắc phục được các nhược điểm của thuế doanh thu.
Thuế GTGT hiện nay chỉ có 3 mức thuế suất (0%; 5% và 10%) giúp cho việc áp dụng trở nên đơn giản hơn so với thuế doanh thu trước đây (với 11 mức thuế suất) [13]. Việc thu thuế từ số ít người sản xuất, kinh doanh thuận tiện và dễ dàng hơn là thu trực tiếp từ số đông người tiêu dùng. Nghiệp vụ tính và thu thuế do đó cũng đơn giản hơn, thuận tiện hơn. Ngày nay, khi phân công lao động xã hội và chuyên môn hoá sản xuất phát triển thì mỗi công đoạn trong quy trình sản xuất sẽ do những người khác nhau đảm trách, thậm chí giữa những người sản xuất này còn có thể có ít nhất một nhà buôn làm trung gian.
Vì thế, việc thuế doanh thu được tính trên toàn bộ doanh thu của mỗi người, cũng có nghĩa là thuế doanh thu của khâu này được tính chồng lên thuế doanh thu của những khâu sản xuất trước đó. Còn thuế GTGT chỉ thu trên phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ ở từng khâu của quá trình sản xuất, kinh doanh, phần giá trị tăng thêm ở khâu nào chỉ phải nộp thuế ở khâu đó, sang khâu sau, thuế GTGT không tính trên phần giá trị đó nữa. Thuế GTGT tăng cường tính dân chủ. Việc thuế doanh thu không được thể hiện rõ bên cạnh giá bán hàng hoá như bấy lâu nay là không phù hợp với phương châm này, nó chưa thể hiện được tính dân chủ.
Trái lại, thuế GTGT được thể hiện rõ bên cạnh giá bán làm cho người tiêu dùng biết rõ sự đóng góp của mình vào ngân sách Nhà nước thông qua việc tiêu dùng, đó là một biểu hiện của dân chủ và công khai. Khi chịu thuế GTGT, người tiêu dùng có thể cảm nhận được, thậm chí họ cảm thấy hãnh diện hoặc phiền lòng nếu tiêu dùng những hàng hoá có thuế cao, hoặc họ cảm thấy hài lòng khi chọn được những mặt hàng tiêu dùng có thuế thấp. Đây là một ưu điểm về tính dân chủ của thuế GTGT. Thuế GTGT mang tính trung lập cao.
Một loại thuế được gọi là trung lập khi nó không gây ra bất cứ ảnh hưởng nào đến hoạt động của doanh nghiệp nếu Chính phủ không muốn thế. Trong thuế doanh thu các doanh nghiệp có khuynh hướng tối thiểu hóa số tiền thuế phải nộp bằng cách hội nhập lại theo chiều dọc, mặc dù Chính phủ không muốn thế, (ví dụ: xí nghiệp sợi có thể kết hợp với xí nghiệp dệt và may để không phải đóng thuế khi chuyển sản phẩm từ khâu trước sang khâu sau).