phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đƣợc chia ra 4 Chƣơng nội dung chính nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý thuế BVMT Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 4 Chƣơng 3: Thực trạng công tác quản lý thuế BVMT tại Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên. Chƣơng 4: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế BVMT tại Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG 1.
Cơ sở lý luận về quản lý thuế bảo vệ môi trƣờng 1. bảo vệ môi trường Bảo vệ môi trƣờng đƣợc nêu trong Văn kiện của Đại hội Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thƣ đã ban hành một số Nghị quyết, Chỉ thị chuyên đề về công tác bảo vệ môi trƣờng. Chỉ thị của Bộ Chính trị về tăng cƣờng công tác BVMT trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc đã nêu quan điểm của Đảng về công tác BVMT, đó là “Bảo vệ môi trường là một vấn đề sống còn của đất nước, của nhân loại; là nhiệm vụ có tính xã hội sâu sắc…” (Chỉ thị 36-CT/TW, 1998). Tiếp theo đó, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15 tháng 11 năm 2004 về BVMT trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc.
Nghị quyết tiếp tục khẳng định các quan điểm của Chỉ thị số 36/CT-TW và bổ sung, phát triển các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp lớn, cập nhật xu thế của thời đại và phù hợp với yêu cầu của thực tiễn đặt ra, nhấn mạnh quan điểm “Bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là một trong những nội dung cơ bản của phát triển bền vững, phải được thể hiện trong các chiến lược, qui hoạch, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội của từng ngành và từng địa phương. Khắc phục tư tưởng chỉ chú trọng phát triển kinh tế - xã hội mà coi nhẹ bảo vệ môi trường. Đầu tư cho bảo vệ môi trường là đầu tư cho phát triển bền vững” và “Bảo vệ môi trường là biểu hiện của nếp sống văn hoá, đạo đức, là tiêu chí quan trọng của xã hội văn minh và là sự nối tiếp truyền thống yêu thiên nhiên, sống hài hoà với tự nhiên của cha ông ta" (Nghị quyết số 41-NQ/TW, 2004). Chỉ thị số 29-CT/BBT ngày 21 tháng 1 năm 2009 của Ban Bí thƣ về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 41- NQ/TW cập nhật những nhận thức mới và đề ra các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ BVMT phù hợp với tình hình, nhiệm vụ.
Với tính chất là một thuật ngữ pháp lý, bảo vệ môi trƣờng đƣợc định nghĩa trong Luật Bảo vệ môi trƣờng số 52/2005/QH11, của Quốc hội nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www. Tại điểm 3, điều 3, Chƣơng I, Luật BVMT số 52/2005/QH11 ngày 29/11/2005 quy định: “Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học” (Luật BVMT số 52/2005/QH11, 2005). Đặc điểm, vai trò của công tác BVMT - Đặc điểm của bảo vệ môi trƣờng: + BVMT phải gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế và bảo đảm tiến bộ xã hội để phát triển bền vững đất nƣớc. + BVMT của quốc gia phải gắn với bảo vệ môi trƣờng khu vực và toàn cầu.
Hoạt động bảo vệ môi trƣờng phải thƣờng xuyên, lấy phòng ngừa là chính kết hợp với khắc phục ô nhiễm, suy thoái và cải thiện chất lƣợng môi trƣờng. + BVMT phải phù hợp với quy luật, đặc điểm tự nhiên, văn hóa, lịch sử, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc trong từng giai đoạn - Vai trò của bảo vệ môi trƣờng: Công tác BVMT là sự nghiệp của toàn xã hội, quyền và trách nhiệm của cơ quan nhà nƣớc, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân. Sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, phát triển năng lƣợng sạch, năng lƣợng tái tạo; đẩy mạnh tái chế, tái sử dụng và giảm thiểu chất thải. Nội dung quản lý nhà nước về công tác quản lý BVMT - Quan điểm công tác quản lý BVMT + Ƣu tiên giải quyết các vấn đề môi trƣờng bức xúc; tập trung xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trƣờng nghiêm trọng; phục hồi môi trƣờng ở các khu vực bị ô nhiễm, suy thoái; chú trọng BVMT đô thị, khu dân cƣ.
+ Đầu tƣ BVMT là đầu tƣ phát triển; đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tƣ cho bảo vệ môi trƣờng và bố trí khoản chi riêng cho sự nghiệp môi trƣờng trong ngân sách nhà nƣớc hàng năm. + Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, vận động, kết hợp áp dụng các biện pháp hành chính, kinh tế và các biện pháp khác để xây dựng ý thức tự giác, kỷ cƣơng trong hoạt động BVMT. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 7 + Ƣu đãi về đất đai, chính sách thuế, hỗ trợ tài chính cho các hoạt động BVMT và các sản phẩm thân thiện với môi trƣờng; kết hợp hài hoà giữa bảo vệ và sử dụng có hiệu quả các thành phần môi trƣờng cho phát triển - Mục tiêu công tác quản lý BVMT Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục và vận động mọi ngƣời tham gia BVMT, giữ gìn vệ sinh môi trƣờng, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và đa dạng sinh học. Bảo vệ và sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên.
Nghiên cứu khoa học, chuyển giao, ứng dụng công nghệ xử lý, tái chế chất thải, công nghệ thân thiện với môi trƣờng. Đóng góp kiến thức, công sức, tài chính cho hoạt BVMT. Lý luận chung về thuế 1. Khái niệm về thuế Trong giới các học giả và trên các sách báo kinh tế thế giới vẫn chƣa có quan điểm thống nhất về khái niệm thuế, bởi lẽ giác độ nghiên cứu có nhiều khác biệt.
Nhìn chung, các nhà kinh tế khi đƣa ra khái niệm về thuế mới chỉ nhìn nhận từ những khía cạnh khác nhau của thuế mà mình muốn khai thác hoặc tìm hiểu, chƣa phản ánh đầy đủ bản chất chung của phạm trù thuế. Chẳng hạn theo các nhà kinh điển thì thuế đƣợc quan niệm rất đơn giản: "Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có những sự đóng góp của những người công dân của Nhà nước đó là thuế khoá." (Mác - Ăng Ghen, 1962, tr. Và với quan điểm này, thuế chỉ là sự đóng góp của công dân để duy trì quyền lực nhà nƣớc. Khi những giai cấp không phải là giai cấp cai trị, nghĩ rằng việc bắt buộc nộp thuế chỉ dùng để bảo vệ quyền lợi cho giai cấp cai trị, thì họ sẽ không coi thuế là nghĩa vụ công dân và sẽ bằng nhiều cách để tránh thuế và trốn thuế.
Quan điểm này đã hỗ trợ rất nhiều cho các nhà kinh tế có quan điểm xã hội trong việc củng cố lập trƣờng đấu tranh giai cấp. Khái niệm nêu trên mới nhấn mạnh một chiều, theo quan niệm của từng góc độ khác nhau thì thuế đƣợc hiểu: Trên góc độ phân phối thu nhập thì: Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của nhà nƣớc để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nƣớc. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 8 Trên góc độ ngƣời nộp thuế thì: Thuế đƣợc coi là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho nhà nƣớc theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ Nhà nƣớc. Trên góc độ kinh tế học thì: Thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó Nhà nƣớc sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tƣ sang khu vực công, nhằm thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nƣớc.
Ở nƣớc ta, đến nay cũng chƣa có một khái niệm thống nhất về thuế. Theo Từ điển tiếng Việt thì “Thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tuỳ theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp. buộc phải nộp cho nhà nước theo mức quy định” (Trung tâm từ điển học, 1998). Tuy nhiên, trong tiến trình phát triển xã hội, việc quy định thuế phải đƣợc sử dụng chung cũng là một vấn đề cần xem xét.
Có những loại thuế đƣợc thu chỉ nhằm một mục đích định trƣớc và trao cho một số đối tƣợng quy định. Trong tài liệu của khối các trƣờng kinh tế, các nhà quản lý kinh tế, tài chính, đặc biệt trong lĩnh vực thuế nêu khái niệm về thuế: “Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, nhằm sử dụng cho mục đích công cộng” (Giáo trình thuế của Học viện Tài chính, 2009, tr. Đặc điểm của Thuế Qua phân tích nguồn gốc của sự ra đời của thuế và khái niệm chung về thuế nêu trên, có thể khẳng định rằng: Thuế là một công cụ tài chính của Nhà nƣớc, đƣợc sử dụng để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung nhằm sử dụng cho mục đích công cộng. Thuế khác với các công cụ tài chính khác nhƣ phí, lệ phí, tiền phạt, giá cả … Điều này thể hiện qua các đặc điểm cơ bản của thuế trong kinh tế thị trƣờng nhƣ sau: - Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền Theo phƣơng thức đánh thuế trong nền kinh tế thị trƣờng, về nguyên tắc, thuế là một khoản trích nộp dƣới hình thức tiền tệ, khác với hình thức nộp thuế bằng hiện vật đã tồn tại từ thời xa xƣa hoặc khác với chế độ giao nộp sản phẩm trong nền kinh tế phi thị trƣờng.
Nhiều quan điểm cho rằng, đây chính là sự khác biệt cơ bản và đầu tiên của thuế trong nền kinh tế thị trƣờng và thuế trong các nền kinh tế khác.