CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ GTGT VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN, HUYỆN 1.1 Các khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thuế GTG.1 Khái niệm a) Khái niệm thuế Thuế được sinh ra cùng với sự xuất hiện của nhà nước và tồn tại qua thời gian với sự hình thành và phát triển của kinh tế hàng hóa. Nhà nước sử dụng thuế như một công cụ để đạt được mục tiêu và thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình. Thuế hình thành do nhu cầu huy động nguồn lực tài chính của Nhà nước và là nguồn thu lớn nhất cho Ngân sách nhà Nước. Thuế cũng được Nhà nước sử dụng như một công cụ để điều tiết nền kinh tế vĩ mô.
Theo Các Mác, “thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy nhà nước, là thủ đoạn đơn giản để kho bạc thu được tiền hay tài sản của người dân để dùng vào việc chi tiêu của nhà nước”. Đối với các nhà kinh tế hiện đại thì thuế được định nghĩa là “một hình thức động viên bắt buộc của nhà nước theo luật định, thuộc phạm trù phân phối, nhằm tập trung một bộ phận thu nhập của các thể nhân và pháp nhân vào NSNN để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của nhà nước và phục vụ lợi ích công cộng”]. Hiểu theo nghĩa chung thuế chính là một khoản tiền mà các cá nhân, tổ chức được có nghĩa vụ quy định phải nộp vào ngân sách nhà nước không hoàn trả trực tiếp để phục vụ cho các mục tiêu và nhiệm vụ của Nhà Nước. Nhà nước xây dựng hệ thống các sác thuế và các văn bản pháp luật có liên quan để huy động các nguồn lực tài chính một cách hiệu quả.
b) Khái niệm thuế Giá trị gia tăng (GTGT) Thuế GTGT là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Giá trị tăng thêm hay giá trị gia tăng là phần giá trị mới tạo ra trong quá trình sản xuất kinh doanh.Thuế GTGT là một sắc thuế ưu việt đối với nhiều quốc gia, Luan van 10 chiếm tỷ trọng cao trong tổng thu NSNN từ thuế. Thuế GTGT (hay còn gọi là VAT- Value Added Tax) là ý tưởng của một người Đức tên là CARL FRIEDRICH VON SIMENS, nhưng những lý luận ông đưa ra lại không thuyết phục được Chính phủ Đức áp dụng loại thuế này. Đến năm 1954, nước Pháp áp dụng loại thuế này và đặt tên là TVA (Taxe Sur la Valeur Ajoutee).
Lúc đầu, thuế GTGT chỉ áp cho một số ngành nghề đặc biệt với mức thuế suất là: 16,8% vào năm 1968. Nước Đức đến năm 1969 mới sử dụng thuế GTGT và áp dụng với mức thuế suất 10%. Từ đó thuế GTGT đã trở lên phổ biến trên thế giới, trở thành nguồn thu chủ yếu của Chính phủ nhiều nước. Ở Việt Nam, thuế GTGT được nghiên cứu từ khi tiến hành cải cách thuế bước 1(năm 1990) và được triển khai thí điểm ở 11 đơn vị từ tháng 9/1993 theo QĐ số 468-TC/QĐ/TCT ngày 05/07/1993.
Mặc dù kết quả thí điểm không được như mong muốn nhưng đã có tác động nhất định trong việc nâng cao nhận thức của các cơ sở kinh doanh về thuế GTGT. Ngày 10/05/1997, Quốc hội khóa IX đã thông qua Luật thuế GTGT tại kỳ họp thứ 11, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/1999. Trong suốt thời gian áp dụng và thực hiện, sắc thuế này lộ rõ một số đặc điểm chưa thực sự phù hợp với nền kinh tế của Việt Nam. Để khắc phục, Luật sửa đổi bổ sung một số điều về thuế GTGT đã được Quốc hội khóa IX tại kỳ họp thứ 3 thông qua và cso hiệu lực từ ngày 01/01/2004.
Sau đó, Luật thuế GTGT cũng liên tục được sửa đổi và bổ sung qua các thời kỳ đề phù hợp với thực trạng nền kinh tế như được sửa đổi tại Quốc hộp khóa XII, kỳ họp thứ 3, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2009 và Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 5, có hiệu lực thi hành từ 01/01/2014 1.2 Đặc điểm Thứ nhất, thuế GTGT là sắc thuế tiêu dùng nhiều giai đoạn không trùng lặp. Thuế GTGT đánh vào tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh nhưng chỉ tính dựa trên phần giá trị tăng thêmtrong từng khâu của quá trình sản xuất. Tổng số thuế đánh trên từng giai đoạn phải bằng số thuế tính cho NTD cuối cùng Nhờ đặc điểm này, thuế GTGT có lợi thế là tránh được sự trùng lặp thu giữa cá khâu, đảm bảo số thuế được thu đúng và thu đủ nhưng lại có nhược điểm là khó khăntrong việc quản lý và kiểm soát hóa đơn chứng từ.” Luan van 11 Thứ hai, thuế GTGT có tính trung lập kinh tế Thuế GTGT là phần cộng thêm ngoài giá bán của người cung cấp hàng hóa, dịch vụ. Chính vì vậy, thuế GTGT không chịu ảnh hưởng trực tiếp từ kết quả từ hoạt động sản xuất kinh doanh của người nộp thuế.
Bởi vậy,trong quá trình lưu thông và phân phối, dù hàng hóa được sản xuất phân phối qua nhiều khâu thì số thuế GTGT phải nộp cũng không thay đổi. Thứ ba, thuế GTGT là một sắc thuế thuộc loại thuế gián thu. Thuế gián thu không trực tiếp đánh vào đối tượng hướng đến bằng cách tính thông qua tài sản và thu nhập mà gián tiếp thông qua hàng hóa dịch vụ mà đối tượng chịu thuế chi tiêu. Thông qua việc mua sắm tiêu dùng, người tiêu dùng cuối cùng phải trả khoản thuế gián tiếp thông qua người bán.
Nhưng người tiêu dùng cuối cùng không phải là người nộp thuế. Người tiêu dùng phải trả tiền thuế phải nộp và người sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ là người nộp thuế. Do người nộp thuế và người chịu thuế là hai đối tượng khác nhau nên sự phản kháng lại của đối tượng chịu thuế khi có chính sách chủ trương tăng thuế cũng ít hơn khi đánh trực tiếp vào đối tượng chịu thuế. Thứ tư, thuế GTGT là loại thuế so với thu nhập có tính lũy thoái.
Người tiêu dùng cuối cùng là người chịu thuế do thuế GTGT đánh vào giá trị HHDV (hàng hóa dịch vụ). Chính vì vậy, Thuế GTGT không đánh theo khả năng điều kiện, tài sản của NNT mà dựa vào mức độ chi tiêu của NNT. Có nghĩa là nếu cùng tiêu dùng một mức như nhau thì người có thu nhập cao sẽ có tỷ lệ tiền thuế trên thu nhập thấp hơn so với người có thu nhậ thấp. Có nghĩa là thu nhập của NNT càng tăng lên thì tỷ lệ thuế GTGT phải nộp trên thu nhập càng giảm xuống.
Thứ năm, thuế GTGT có tính lãnh thổ. Đối tượng chịu thuế của thuế GTGT là hàng hóa tiêu dùng trong phạm vi lãnh thổ của một nước. Thuê GTGT đem lại nguồn thu ngân sách ổn định cho quốc gia áp dụng nó vì trong mọi điều kiện hoàn cảnh, nhu cầu mua bán luôn diễn ra và ngày càng phát triển đa dạng. Khi đời sống kinh tế người dân ngày càng được cải thiện, nhu cầu mua sắm ngày càng tăng thì nguồn thu từ thuế cũng ngày càng cao Luan van 12 1.3 Vai trò Thuế GTGTlà công cụ để Nhà Nước kiểm soát điều tiết nên kinh tế.
Vì chiếm tỉ trọng lớn trong trong tổng số thu hàng năm nên thuế GTGT có vai trò rất to lớn, tác động sâu sắc đến mọi mặt của nên kinh tế.Ba vai trò cơ bản của thuê GTGT là: * Thứ nhất, thuế GTGT là nguồn thu quan trọng của Ngân sách Nhà nước. Nguồn thu từ thuê GTGT dựa vào quy mô sản xuất, tiêu dùng cũng toàn xã hội, quy mô của nền kinh tế ngày càng tăng thì số thuế GTGT thu được ngày càng tăng lên. Phạm vi đánh thuế của thuế GTGT lại rất rộng do đánh vào hầu hết hàng hóa tiêu dùng trong nền kinh tế. Hàng hóa, dịch vụ được sản xuất tiêu dùng hàng ngày và trên mọi nơi của cả nước.
Chính vì vậy, thuế GTGT là một trong các sắc thuế đem lại nguồn thu lớn nhất cho Ngân sách quốc gia. Thuế GTGT lại không phụ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của xã hội nên là một nguồn thu ổn định và quan trọng của Nhà Nước * Thứ hai, thuế GTGT là công cụ điều tiết sản xuất và tiêu dùng Nhà Nước có thể thông qua thuế GTGT để thực hiện các mục tiêu của mình, trong đó có điều tiết nền kinh tế, khuyến khích tiêu dùng với một mặt hàng hoặc không khuyến khích đối với mặt hàng khác bằng cách thay đổi thuế suất giữa các mặt hàng khác nhau, các mặt hàng không chịu thuế hoặc chịu thuế 0%. Ví dụ đối với các mặt hàng nông lâm thủy sản chưa qua chế biến, dịch vụ y tế, giáo dục, Nhà nước đưa vào diện không chịu thuế, một số mặt như phân bón, thức ăn cho gia súc, mặt hàng nông lâm thủy sản sơ chế thông thường thì đưa vào diện chịu thuế 5%. Tuy nhiên, do tính đặc thù, thuế GTGT tác động rất nhanh vào lượng tiêu dùng của một sản phẩm do vậy Nhà nước cần thận trọng hơn khi đưa ra biểu thuế suất các mặt hàng chịu thuế, không chịu thuế GTGT.
* Thứ ba, thuế GTGT là công cụ kiểm soát các hoạt động sản xuất, kinh doanh. Thuế GTGT yêu cầu các chủ thể trong nền kinh tế phải sử dụng hệ thống hóa đơn chứng từ, từ đó làm minh bạch nền kinh tế. Thông qua hệt hống hóa đơn chứng từ,Nhà Nước có thể kiểm soát được hàng hóa lưu thông trên thị trường, tình hình sản xuất hàng hóa, xuất nhập khẩu và kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế,khắc phục được nhược điểm của thuế doanh thu. Luan van 13 Do buộc Doanh nghiệp phải sử dụng hóa đơn chứng từ khi ghi chép thanh toán nên thuế GTGT thúc đẩy và làm minh bạch hệ thống thanh toán.
Ngoài ra, thuế GTGT góp phần phát triển hệ thống thanh toán do Thuế GTGT yêu cầu hàng hàng hóa xuất nhập khẩu muốn hoàn thuế phải thanh toán qua ngân hànghoặc hàng hóa trên 20 triệu phải giao dịch thanh toán qua ngân hàngmới được ghi nhận tính vào chi phí hợp lý đã thúc đẩy các doanh nghiệp giao dịch thanh toán thông qua ngân hàng khiến cho hệ thống thanh toán ngày càng phát triển. Bằng các số lương thông qua hệ thống thanh toán có được, công tác kế toán thuế, thống kê cũng được đẩy mạnh để các nhà lãnh đạo có những quyết định đúng đắn.4 Căn cứ tính thuế Theo quy định của Luật thuế giá trị gia tăng 2008 (sửa đổi, bổ sung 2013) thì căn cứ tính thuế là là giá tính thuế và thuế suất.